Chuyện tình của anh Kpuih Bố (SN 1987, huyện Oyadav, tỉnh Ratanakiri, Campuchia) và chị Siu H’Găng (SN 1988, xã Ia Nan, Gia Lai) là một minh chứng cho những chuyện tình “xuyên biên giới” này.
Anh Bố kể, năm 2007, chị H’Găng sang huyện Oyadav thăm họ hàng, tình cờ gặp anh. Sau lần gặp gỡ, hai người kết bạn và giữ liên lạc với nhau. Tình yêu của đôi bạn trẻ dần nảy nở. Họ từng ra dòng sông Pô Cô (giáp ranh Việt Nam – Campuchia) thề nguyền, chứng minh tình yêu.
Cuối năm 2008, anh Bố sang Việt Nam hỏi cưới và nên duyên vợ chồng cùng chị H’Găng. Đến nay, gia đình đã có hai con, cuộc sống ổn định tại làng Sơn, xã Ia Nan, Gia Lai.
“Mỗi dịp Tết cổ truyền Campuchia (14-16/4), gia đình lại về thăm họ hàng, tưởng nhớ tổ tiên”, chị H’Găng chia sẻ.
Trong căn nhà nhỏ ở làng Bi (xã Ia O, Gia Lai), anh Siu Lăn (SN 1980, xã Sê San, huyện Oyadav, Campuchia) bồi hồi nhớ lại quãng thời gian kiên trì theo đuổi chị Ksor Ven (SN 1982, trú tại làng Bi).
Anh Lăn cho hay từ năm 2005, anh thường qua xã Ia O phụ người thân làm rẫy. Tại đây, anh đã quen chị Ven. Giữa nắng gió đại ngàn, chàng trai Campuchia lặng lẽ “trồng cây si” hàng tháng trời để chinh phục trái tim cô gái người Việt Nam.
Sau nhiều tháng vun đắp, tình yêu của đôi bạn trẻ dần lớn lên theo từng mùa rẫy. Năm 2006, chị Ven theo anh Lăn về Campuchia ra mắt gia đình. Đám cưới diễn ra giản dị theo phong tục hai nước.
“Sau cưới, tôi theo vợ về Việt Nam sinh sống, được hỗ trợ làm quốc tịch, hoàn thiện giấy tờ để các con được đến trường. Giờ vợ chồng có 4 người con, vài sào ruộng và hơn 1ha điều. Cuộc sống không dư dả nhưng ổn định. Mỗi dịp lễ, Tết, gia đình lại về Campuchia thăm người thân”, anh Lăn chia sẻ.
Tại làng Triêl, xã biên giới Ia Pnôn, Gia Lai là nơi có nhiều thế hệ “đơm quả ngọt” từ những mối tình xuyên biên giới. Theo ông Ksor Bíu, Bí thư Chi bộ kiêm Trưởng thôn làng Triêl, gần 50 năm trước, trong cuộc chạy trốn chế độ diệt chủng Pol Pot, nhiều gia đình Campuchia được bộ đội và người dân Việt Nam cưu mang, rồi chọn nơi đây làm quê hương thứ hai.
“Đến nay, hàng trăm người đã ổn định cuộc sống, riêng làng Triêl có khoảng 20 cặp vợ chồng Việt Nam – Campuchia, các thế hệ sau đều mang quốc tịch Việt Nam. Nhờ sự hỗ trợ của chính quyền và lực lượng biên phòng, việc đi lại thuận tiện, đúng quy định”, ông Bíu cho hay.
Ông Phan Đình Thắm, Chủ tịch UBND xã Ia O, cho biết, xã có hơn 10 cặp vợ chồng Việt Nam – Campuchia sinh sống ổn định trên địa bàn. Dù khác biệt về ngôn ngữ, phong tục, họ vẫn từng bước hòa nhập, nỗ lực làm ăn để vun vén cuộc sống.
Theo ông Thắm, bên cạnh thuận lợi, các gia đình này còn gặp khó khăn do thiếu giấy tờ tùy thân hợp pháp, ảnh hưởng đến đời sống và công tác quản lý cư trú.
“Thời gian tới, địa phương sẽ đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật, rà soát các trường hợp có yếu tố nước ngoài để hỗ trợ hoàn thiện thủ tục hộ tịch, cư trú, giúp người dân tiếp cận đầy đủ chính sách. Đồng thời, xã cũng sẽ xây dựng các mô hình sinh kế, hỗ trợ “cần câu cơm” để các hộ gia đình từng bước ổn định và vươn lên”, ông Thắm cho hay.
Báo cáo đề dẫn hội nghị về giải pháp nâng cao năng suất lao động gắn với phát triển thị trường lao động do Cục Việc làm tổ chức ngày 22-4 tại TP.HCM chỉ ra rằng năng suất lao động Việt Nam tuy có cải thiện, hiện còn rất thấp so với thế giới.
Cụ thể, tỉ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt khoảng 29,2% vào năm 2025, tăng so với mức 15,6% năm 2011, nhưng vẫn còn gần 75% lực lượng lao động chưa có bằng cấp, chứng chỉ chuyên môn kỹ thuật, tương đương khoảng 38 triệu người chưa qua đào tạo.
Theo báo cáo, năm 2025 năng suất lao động của toàn nền kinh tế ước đạt 245 triệu đồng/lao động, tương đương khoảng 9.809 USD/lao động. Tốc độ tăng năng suất lao động bình quân giai đoạn 2021-2025 đạt 5,17%/năm, thấp hơn so với giai đoạn trước.
Xét theo khu vực kinh tế, năng suất lao động còn có chênh lệch lớn. Năm 2025, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt khoảng 111 triệu đồng/người; khu vực công nghiệp và xây dựng đạt khoảng 275,6 triệu đồng/người; khu vực dịch vụ đạt khoảng 256,5 triệu đồng/người. Khu vực nông nghiệp vẫn có mức năng suất thấp nhất.
Cơ cấu lao động tiếp tục chuyển dịch theo hướng giảm tỉ trọng nông nghiệp, tăng ở công nghiệp và dịch vụ. Tuy nhiên sự chuyển dịch này chưa gắn chặt với nâng cao năng suất lao động.
Đáng chú ý, khu vực lao động phi chính thức vẫn chiếm tỉ trọng lớn trong nền kinh tế. Theo đó, khoảng 63-68% lao động đang làm việc trong khu vực này, với đặc điểm việc làm thiếu ổn định, năng suất thấp, thu nhập bấp bênh và ít được bảo vệ bởi các chính sách an sinh xã hội.
Bên cạnh đó, tại phần thảo luận, một số đại biểu đề cập đến tình trạng "thanh niên 3 không" - tức không có việc làm, không tham gia học tập và không được đào tạo. Theo số liệu từ Cục Thống kê, cả nước có gần 1,6 triệu thanh niên từ 15 - 24 tuổi thuộc nhóm này, chiếm khoảng 11,4% tổng số thanh niên.
Trình bày báo cáo đề dẫn tại hội nghị, bà Nguyễn Thị Quyên - Phó cục trưởng Cục Việc làm - cho biết mô hình tăng trưởng của Việt Nam hiện vẫn chủ yếu dựa vào lao động chi phí thấp, mở rộng đầu tư và khai thác tài nguyên - những yếu tố đang dần đạt tới giới hạn.
Theo bà Quyên, một trong những hạn chế lớn hiện nay là doanh nghiệp trong nước phần lớn có quy mô nhỏ và vừa, chưa thực sự đóng vai trò dẫn dắt trong nâng cao năng suất lao động. Năng lực công nghệ còn hạn chế, chủ yếu tham gia các khâu lắp ráp, phụ thuộc vào công nghệ nhập khẩu, khiến khả năng tạo giá trị gia tăng cao còn thấp.
Liên quan đến vấn đề này, ông Trần Anh Tuấn - Phó chủ tịch Hội Giáo dục nghề nghiệp TP.HCM - cho rằng cần tăng cường vai trò dẫn dắt của doanh nghiệp trong phát triển nguồn nhân lực và nâng cao năng suất lao động.
Theo ông, cần lấy doanh nghiệp làm trung tâm trong đào tạo chất lượng nguồn nhân lực, trong đó phải có những doanh nghiệp tiên phong đóng vai trò "đầu tàu", tham gia trực tiếp vào quá trình đào tạo.
Đồng thời cần xây dựng các khung năng lực để doanh nghiệp tham gia đào tạo một cách bài bản, qua đó gắn kết chặt chẽ hơn giữa đào tạo và nhu cầu thực tế của thị trường lao động.
Bên cạnh vai trò của doanh nghiệp, báo cáo cũng cho thấy nhiều "nút thắt" khác đang kìm hãm khả năng cải thiện năng suất lao động.
Trong đó, cơ cấu lao động dù đã chuyển dịch nhưng chưa bền vững. Một bộ phận lao động rời khu vực nông nghiệp song chưa thể tham gia vào các ngành có giá trị gia tăng cao, chủ yếu do hạn chế về kỹ năng và trình độ.
Hệ thống thông tin thị trường lao động được đánh giá còn phân tán, thiếu đồng bộ và chưa đáp ứng yêu cầu dự báo.
Cùng với đó, khu vực phi chính thức với tỉ trọng lớn tiếp tục đặt ra thách thức trong việc nâng cao chất lượng việc làm và bảo đảm an sinh xã hội, khi phần lớn lao động không có hợp đồng lao động và ít tiếp cận các chính sách bảo vệ.
Đây là tuyến đường chiến lược đặc biệt, có ý nghĩa quan trọng đối với phái bộ UNISFA, chính quyền và người dân địa phương, góp phần kết nối trung tâm Abyei với Agok, thúc đẩy sự phát triển chung của toàn khu vực.
Tuy nhiên do ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, đặc biệt là nền "đất đen" đặc trưng cùng mưa lớn kéo dài, tuyến đường đã xuống cấp nghiêm trọng.
Việc này không chỉ gây gián đoạn giao thông mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động tuần tra của phái bộ UNISFA, cản trở các nỗ lực cứu trợ nhân đạo.
Vì vậy ngay sau khi nhận nhiệm vụ và được sự đề nghị của chính quyền, Đội công binh số 4 của Việt Nam đã lập kế hoạch, huy động tối đa nhân lực, phương tiện, triển khai đồng bộ để đẩy nhanh tiến độ dự án.
Vượt qua điều kiện khắc nghiệt từ thực địa, với tinh thần "vượt nắng, thắng mưa", Đội công binh số 4 đã huy động 70 - 80 nhân sự, gần 30 xe tải cùng nhiều máy móc, thi công 10 giờ/ngày, kể cả lễ, cuối tuần.
Kết quả dự án được hoàn thành trong 85 ngày, vượt tiến độ 35 ngày so với kế hoạch, qua đó khẳng định năng lực tổ chức thi công, tinh thần trách nhiệm và sự phối hợp hiệu quả giữa lực lượng Công binh Việt Nam với phái bộ Liên hợp quốc và chính quyền địa phương.
Tại lễ bàn giao, Thiếu tướng Ganesh Kumar Shrestha - Tư lệnh phái bộ UNISFA - đã biểu dương tinh thần trách nhiệm của các cán bộ, đồng thời khẳng định từ khi phái bộ UNISFA thành lập đến nay, đây là công trình đầu tiên mang ý nghĩa và tầm vóc to lớn nhất của phái bộ UNISFA làm cho người dân.
"Việc hoàn thành tuyến đường này là một thành tựu chưa từng có, mở ra cơ hội kết nối hạ tầng và nâng cao an ninh trong khu vực. Những nỗ lực của Đội công binh số 4 thực sự xứng đáng được ghi nhận, đánh giá hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ", Thiếu tướng Ganesh Kumar Shrestha cho biết.
Bà Uchenna Odenigbo, Trưởng Phòng Hỗ trợ nhiệm vụ (CMS) phái bộ UNISFA, cũng khẳng định mỗi mét đường hoàn thành là minh chứng cho tinh thần trách nhiệm, sự tận tụy của lực lượng Công binh Việt Nam, biến những khó khăn, thách thức thành giá trị thiết thực cho cộng đồng địa phương.
Ngày 15-4, trong khuôn khổ chuyến thăm cấp Nhà nước đến Trung Quốc, sau cuộc hội đàm và cùng chứng kiến lễ ký kết các văn kiện hợp tác, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình đã cùng gặp gỡ thanh niên Trung Quốc và Việt Nam tham gia chương trình "Hành trình đỏ nghiên cứu, học tập".
Hoạt động thể hiện sự coi trọng đặc biệt của lãnh đạo cao nhất hai Đảng, hai nước trong việc vun đắp và bồi dưỡng giáo dục thế hệ trẻ hai nước, tiếp tục kế thừa truyền thống cách mạng của các thế hệ đi trước.
Tuổi Trẻ Online trân trọng giới thiệu với bạn đọc toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại cuộc gặp ý nghĩa này:
Thưa đồng chí Tập Cận Bình, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa,
Thưa các đồng chí, các bạn thanh thiếu niên hai nước thân mến,
Hôm nay, tôi rất vui mừng cùng đồng chí Tập Cận Bình gặp gỡ thanh thiếu niên tiêu biểu đại diện cho thế hệ trẻ hai nước tham gia chương trình gặp gỡ hữu nghị thế hệ trẻ Việt Nam - Trung Quốc. Trước hết, tôi trân trọng gửi đến các bạn, và qua các bạn gửi đến thanh thiếu niên hai nước lời chào thân ái và những tình cảm nồng nàn, thắm thiết nhất.
Tôi được biết các bạn thanh niên có mặt tại đây đã tham dự chương trình "Hành trình đỏ" mà tôi và đồng chí Tập Cận Bình tuyên bố khởi động trong chuyến thăm Việt Nam của đồng chí vào tháng 4-2025. Chỉ sau một năm, đã có hàng nghìn lượt thanh niên Việt Nam theo dấu chân các nhà lãnh đạo cách mạng tiền bối của hai nước thăm các "địa chỉ đỏ" tại Trung Quốc để học tập, tăng cường hiểu biết về truyền thống cách mạng và quan hệ hữu nghị bền chặt giữa hai Đảng, hai nước.
Tôi tin tưởng rằng, mỗi bạn thanh niên ở đây đều rất tự hào và trân trọng mối quan hệ "vừa là đồng chí, vừa là anh em" giữa hai Đảng và Nhân dân hai nước do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Mao Trạch Đông cùng các thế hệ cách mạng tiền bối hai nước đã dày công vun đắp.
Ngay từ những năm 20 của thế kỷ trước, với sự giúp đỡ của Trung Quốc, Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập tại Quảng Châu đã giác ngộ lý tưởng cách mạng, rèn luyện về kỷ luật và ý chí đấu tranh cho nhiều lớp thanh niên Việt Nam, tạo nền tảng vững chắc cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ngày nay, thanh niên hai nước tiếp tục là lực lượng nòng cốt trong công cuộc xây dựng đất nước, là cầu nối quan trọng vun đắp tình hữu nghị, hợp tác giữa hai Đảng, hai nước Việt - Trung.
Thưa các bạn thanh thiếu niên hai nước,
Ngay trước hoạt động này, tôi và đồng chí Tập Cận Bình đã tiến hành hội đàm và đạt nhiều nhận thức chung về các chủ trương lớn làm sâu sắc và nâng tầm kết nối chiến lược giữa hai Đảng, hai nước trong tình hình mới.
Tôi mong thế hệ trẻ hai nước hãy xây dựng cho mình bản lĩnh chính trị vững vàng, lý tưởng sống đúng đắn; không ngừng nâng cao nhận thức về ý nghĩa quan trọng và tầm cao chiến lược của quan hệ Việt - Trung; tăng cường học hỏi, phát huy tinh thần đổi mới sáng tạo, làm chủ khoa học - công nghệ, nêu cao tinh thần xung kích tình nguyện, đóng góp xứng đáng cho sự phát triển của mỗi nước và quan hệ hữu nghị hai nước.
Để đạt được những mục tiêu trên, tôi đề nghị các cơ quan, đoàn thể hai nước bám sát nhận thức chung cấp cao, tăng cường đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục thế hệ trẻ về hữu nghị truyền thống giữa hai Đảng, hai nước; nâng cao chất lượng giao lưu hợp tác thanh niên; làm phong phú hơn nữa các hoạt động giao lưu thiếu niên giữa hai nước, coi đây là bước đi có ý nghĩa chiến lược để bồi dưỡng nền tảng hữu nghị từ sớm giữa thế hệ tương lai hai nước, tiếp tục triển khai tốt chương trình "Hành trình đỏ" để thanh thiếu niên hai nước hiểu rõ hơn về lịch sử cách mạng hào hùng, tinh thần quốc tế cộng sản trong sáng, tương trợ lẫn nhau giữa hai Đảng, hai nước.
Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình từng khái quát rất sâu sắc: "Tình hữu nghị Trung - Việt có nền tảng nằm ở Nhân dân và tương lai nằm ở thanh niên". Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội, là sức sống của dân tộc, là đội dự bị tin cậy của Đảng, là chủ nhân tương lai của đất nước.
Tôi tin tưởng sâu sắc rằng thanh thiếu niên hai nước sẽ tiếp tục viết nên những trang mới của tình hữu nghị Việt Nam - Trung Quốc bằng trí tuệ, tinh thần tiên phong sáng tạo, khát vọng cống hiến và trách nhiệm với tương lai đất nước của chính mình, tiếp bước cha anh, mang đến sức sống và tương lai tươi sáng cho quan hệ Việt - Trung.
Chúc quan hệ Việt - Trung mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững.
Chúc đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình và các bạn thanh niên hai nước luôn mạnh khỏe, hạnh phúc và thành công.