Báo cáo đề dẫn hội nghị về giải pháp nâng cao năng suất lao động gắn với phát triển thị trường lao động do Cục Việc làm tổ chức ngày 22-4 tại TP.HCM chỉ ra rằng năng suất lao động Việt Nam tuy có cải thiện, hiện còn rất thấp so với thế giới.
Cụ thể, tỉ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt khoảng 29,2% vào năm 2025, tăng so với mức 15,6% năm 2011, nhưng vẫn còn gần 75% lực lượng lao động chưa có bằng cấp, chứng chỉ chuyên môn kỹ thuật, tương đương khoảng 38 triệu người chưa qua đào tạo.
Theo báo cáo, năm 2025 năng suất lao động của toàn nền kinh tế ước đạt 245 triệu đồng/lao động, tương đương khoảng 9.809 USD/lao động. Tốc độ tăng năng suất lao động bình quân giai đoạn 2021-2025 đạt 5,17%/năm, thấp hơn so với giai đoạn trước.
Xét theo khu vực kinh tế, năng suất lao động còn có chênh lệch lớn. Năm 2025, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt khoảng 111 triệu đồng/người; khu vực công nghiệp và xây dựng đạt khoảng 275,6 triệu đồng/người; khu vực dịch vụ đạt khoảng 256,5 triệu đồng/người. Khu vực nông nghiệp vẫn có mức năng suất thấp nhất.
Cơ cấu lao động tiếp tục chuyển dịch theo hướng giảm tỉ trọng nông nghiệp, tăng ở công nghiệp và dịch vụ. Tuy nhiên sự chuyển dịch này chưa gắn chặt với nâng cao năng suất lao động.
Đáng chú ý, khu vực lao động phi chính thức vẫn chiếm tỉ trọng lớn trong nền kinh tế. Theo đó, khoảng 63-68% lao động đang làm việc trong khu vực này, với đặc điểm việc làm thiếu ổn định, năng suất thấp, thu nhập bấp bênh và ít được bảo vệ bởi các chính sách an sinh xã hội.
Bên cạnh đó, tại phần thảo luận, một số đại biểu đề cập đến tình trạng “thanh niên 3 không” – tức không có việc làm, không tham gia học tập và không được đào tạo. Theo số liệu từ Cục Thống kê, cả nước có gần 1,6 triệu thanh niên từ 15 – 24 tuổi thuộc nhóm này, chiếm khoảng 11,4% tổng số thanh niên.
Trình bày báo cáo đề dẫn tại hội nghị, bà Nguyễn Thị Quyên – Phó cục trưởng Cục Việc làm – cho biết mô hình tăng trưởng của Việt Nam hiện vẫn chủ yếu dựa vào lao động chi phí thấp, mở rộng đầu tư và khai thác tài nguyên – những yếu tố đang dần đạt tới giới hạn.
Theo bà Quyên, một trong những hạn chế lớn hiện nay là doanh nghiệp trong nước phần lớn có quy mô nhỏ và vừa, chưa thực sự đóng vai trò dẫn dắt trong nâng cao năng suất lao động. Năng lực công nghệ còn hạn chế, chủ yếu tham gia các khâu lắp ráp, phụ thuộc vào công nghệ nhập khẩu, khiến khả năng tạo giá trị gia tăng cao còn thấp.
Liên quan đến vấn đề này, ông Trần Anh Tuấn – Phó chủ tịch Hội Giáo dục nghề nghiệp TP.HCM – cho rằng cần tăng cường vai trò dẫn dắt của doanh nghiệp trong phát triển nguồn nhân lực và nâng cao năng suất lao động.
Theo ông, cần lấy doanh nghiệp làm trung tâm trong đào tạo chất lượng nguồn nhân lực, trong đó phải có những doanh nghiệp tiên phong đóng vai trò “đầu tàu”, tham gia trực tiếp vào quá trình đào tạo.
Đồng thời cần xây dựng các khung năng lực để doanh nghiệp tham gia đào tạo một cách bài bản, qua đó gắn kết chặt chẽ hơn giữa đào tạo và nhu cầu thực tế của thị trường lao động.
Bên cạnh vai trò của doanh nghiệp, báo cáo cũng cho thấy nhiều “nút thắt” khác đang kìm hãm khả năng cải thiện năng suất lao động.
Trong đó, cơ cấu lao động dù đã chuyển dịch nhưng chưa bền vững. Một bộ phận lao động rời khu vực nông nghiệp song chưa thể tham gia vào các ngành có giá trị gia tăng cao, chủ yếu do hạn chế về kỹ năng và trình độ.
Hệ thống thông tin thị trường lao động được đánh giá còn phân tán, thiếu đồng bộ và chưa đáp ứng yêu cầu dự báo.
Cùng với đó, khu vực phi chính thức với tỉ trọng lớn tiếp tục đặt ra thách thức trong việc nâng cao chất lượng việc làm và bảo đảm an sinh xã hội, khi phần lớn lao động không có hợp đồng lao động và ít tiếp cận các chính sách bảo vệ.
Giữa tháng 3, xã Sơn Lộ, tỉnh Cao Bằng chào đón đoàn tình nguyện "Kỷ yếu trên bản" bằng một trận mưa rừng. Con đường đất dẫn vào xã vốn đã khó đi, nay biến thành những rãnh bùn đỏ quạch. Những chiếc ôtô chở gần 100 thành viên phải nhích từng mét. Nhiều lần họ phải xuống đẩy xe vượt vũng lầy.
"Cảnh chúng tôi hay gặp trong 7 năm đi chụp ảnh ở vùng cao", Lưu Minh Khương, 32 tuổi, trưởng đoàn nói. "Mỗi lần thấy mệt mỏi, tôi lại nhớ nụ cười của đám trẻ khi thấy mình trong khung hình làm động lực".
Khương là người dân tộc Tày, quê ở bản Cây Thị, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang cũ (nay là Bắc Ninh), làm nhiếp ảnh tự do tại Hà Nội. Năm 2019, trong chuyến đi săn ảnh tại Y Tý (Lào Cai), anh mang theo chiếc máy in ảnh. Thấy đám trẻ vây quanh, anh chụp và in tặng vài tấm.
"Hôm đó tôi chỉ mang đủ giấy in 5 tấm ảnh. Những đứa trẻ còn lại chạy theo xe, ánh mắt hụt hẫng khi thấy bạn có ảnh còn mình thì không khiến tôi áy náy", chàng trai 32 tuổi kể. Anh tự hứa sẽ quay lại để tất cả đều có ảnh.
Từ tiếc nuối đó, Khương nảy ra ý tưởng chụp ảnh kỷ yếu cho mọi học sinh từ mầm non đến trung học cơ sở vùng cao. Thời gian đầu chỉ có anh và mấy người bạn cùng làm. Với thu nhập của thợ ảnh tự do, việc tự túc kinh phí cho những chuyến đi dài ngày là bài toán khó. Anh dành dụm tiền lương, tranh thủ ngày trống lịch khách để lên đường. Họ thường chỉ đến được một, hai trường mỗi năm. Có chuyến, Khương một mình chạy xe máy hàng trăm km, mang theo máy ảnh, máy in lên với lũ trẻ. Anh thường xin ngủ nhờ tại các điểm trường để tiết kiệm.
"Có đêm nằm lại bản, tôi trằn trọc về những điểm trường tiếp theo sẽ làm thế nào, tự hỏi liệu việc này có thay đổi được gì không. Nhưng chính những cái ôm của đám trẻ khi nhận ảnh là động lực cho tôi bước tiếp", chàng trai Bắc Giang nói.
Bước ngoặt đến vào năm 2023 khi các video về hành trình của Khương lan truyền trên mạng xã hội, hút hàng triệu lượt xem. Hơn 1.000 người từ mọi miền đã đăng ký làm tình nguyện viên, đồng hành cùng anh. Dự án "Kỷ yếu trên bản" ra đời với đội ngũ nòng cốt 20 người và hàng trăm tình nguyện viên thay đổi theo từng mùa. Kinh phí đi lại do các thành viên tự túc, chi phí in ấn, khung ảnh do cộng đồng đóng góp.
Khương kể khó khăn nhất khi chụp trẻ vùng cao là các em chưa quen ống kính. Thấy máy ảnh, nhiều bé bỏ chạy. Để tiếp cận, nhóm tổ chức nấu trà sữa, bày gian hàng quà bánh. Khi các em bắt đầu chơi đùa, những chiếc máy ảnh mới hoạt động.
"Chúng tôi không yêu cầu các bé tạo dáng, thậm chí giữ nguyên những vệt lấm lem trên tay hay đôi má nẻ. Đó mới là vẻ đẹp", Khương nói. Ảnh được chỉnh sửa, in và đóng khung ngay tại chỗ.
Gắn bó hơn ba năm với dự án, anh Minh Phụng, 38 tuổi, thợ ảnh ở Tuyên Quang, cho biết chuyến đi xã Sơn Lộ hồi tháng 3 là mùa kỷ yếu đặc biệt nhất. Nhóm phải di chuyển lên điểm lẻ Thôm Ngàn của trường Phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học và THCS Sơn Lập, cách trường chính hơn 15 km. Đường đi chỉ vừa lọt một bánh xe máy, một bên vách đá, một bên vực sâu. Giữa núi rừng không sóng điện thoại, cả nhóm phải vừa đi vừa hỏi đường dân bản.
"Mất gần ba tiếng đến nơi, quần áo đầy bùn đất nhưng thấy đám trẻ mặc đồ đẹp đợi sẵn giữa sân, mệt mỏi tan biến", anh Phụng nói. Chuyến đi này, nhóm còn vào nhà chụp ảnh chân dung tặng các cụ già và cựu chiến binh, những người mà bức ảnh rõ nét nhất họ có là căn cước công dân.
Ông Đàm Văn Thắng, Phó bí thư Đảng ủy xã Sơn Lộ, cho biết đây là lần đầu học sinh địa phương được chụp kỷ yếu. Sơn Lộ là xã vùng cao đặc biệt khó khăn với 5 dân tộc thiểu số chung sống. Tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo chiếm hơn 45%; 3 xóm và 12 nhóm hộ chưa có điện lưới quốc gia. "Nhiều gia đình nhận được ảnh, trân trọng treo ở vị trí cao nhất trong nhà", ông Thắng nói.
Cầm tấm hình trên tay, Hoàng Thị Phương, học sinh lớp 8A trường Sơn Lập, khóc. Trong ảnh, Phương mặc đồ dân tộc Mông đứng giữa sân trường. "Nhà không có điện thoại chụp hình. Em sẽ giữ bức ảnh này vì có thể đây là lần duy nhất em được chụp", cô bé nói.
Bảy năm qua, hơn 10.000 khung ảnh từ "Kỷ yếu trên bản" được trao đi khắp các tỉnh Điện Biên, Cao Bằng, Bắc Kạn, Hà Giang. Những lá thư tay viết lời nhắn "Cháu nhớ chú lắm", "Chú đợi cháu đậu đại học xuống dưới xuôi nhé" là động lực để cả nhóm tiếp tục hành trình.
"Mong mỏi của tôi là sau này đi xa bản làng, các em nhìn lại ảnh để nhớ mình có một tuổi thơ nơi vùng cao", Khương nói.
Ngày 15-4, Cục Giáo dục nghề nghiệp và Giáo dục thường xuyên, Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức hội nghị triển khai công tác tuyển sinh giáo dục nghề nghiệp năm 2026, hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến.
Phát biểu tại hội nghị, GS Lê Quân - Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo - nhấn mạnh các cơ sở giáo dục nghề nghiệp muốn tuyển sinh được phải có những ngành nghề đào tạo đáp ứng được nhu cầu thị trường, xã hội.
Theo ông, từ năm 2017 bắt đầu phổ biến khẩu hiệu "tuyển sinh gắn với tuyển dụng". Bởi dạy nghề là dạy cho học sinh, sinh viên biết được quy trình công nghệ, kỹ thuật, biết được thách thức tổ chức, triển khai.
"Khi tuyển sinh gắn với tuyển dụng, gốc vẫn là phải cấu trúc lại chương trình đào tạo, quy trình đào tạo có sự tham gia sâu của doanh nghiệp, quy trình đào tạo gắn với thực hành", ông Quân nói.
Ông Quân chia sẻ hiện tỉ lệ bỏ học bình quân còn cao, khoảng 20-25%. Ông mong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp không chỉ quan tâm lôi cuốn người học để đạt chỉ tiêu tuyển sinh, mà phải giúp người học giải bài toán cơ hội nghề nghiệp, thu nhập khi ra trường.
Ông Quân cũng nêu một thực tế hiện Việt Nam có gần 2 triệu thanh niên ở lứa tuổi 18-24, không học hành, không công việc, nghề nghiệp. Theo ông, đây là nhóm thanh niên không được định hướng rõ, không biết mình phải học gì, làm gì.
"Nếu không cẩn thận, chúng ta sẽ có một lớp thanh niên lơ ngơ, mất phương hướng", ông Quân nói và cho rằng có một phần trách nhiệm của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, phải trả lời cho người học câu hỏi trong tuyển sinh là ra trường làm gì, việc làm ở đâu, thu nhập ra sao...
Ông mong các trường quan tâm đến các đối tượng tuyển sinh. Bởi giáo dục nghề nghiệp có sứ mệnh ngoài việc đào tạo cung cấp nhân lực chất lượng cao và nhân lực cho phát triển kinh tế xã hội, đây cũng là hoạt động để đảm bảo an sinh.
Tại hội nghị, Cục Giáo dục nghề nghiệp và Giáo dục thường xuyên cho biết năm 2024, hệ thống giáo dục nghề nghiệp gồm có 1.545 cơ sở (921 cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập, 624 cơ sở tư thục và có vốn đầu tư nước ngoài) gồm: 390 trường cao đẳng, 427 trường trung cấp, 728 trung tâm giáo dục nghề nghiệp.
Tính đến ngày 31-12-2025, chỉ còn 1.147 cơ sở (502 cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập, 645 cơ sở giáo dục nghề nghiệp tư thục và có vốn đầu tư nước ngoài) gồm: 392 trường cao đẳng, 358 trường trung cấp, 397 trung tâm giáo dục nghề nghiệp.
Như vậy chỉ sau 1 năm, cả nước giảm 382 cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập (giảm 22 trường cao đẳng công lập, giảm 73 trường trung cấp công lập, giảm 248 trung tâm công lập), tăng 21 cơ sở giáo dục nghề nghiệp tư thục.
Theo Cục Giáo dục nghề nghiệp và Giáo dục thường xuyên, việc tái cơ cấu mạnh mẽ mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp đang buộc công tác tuyển sinh phải chuyển từ phân tán sang tập trung, từ phát triển theo quy mô sang nâng cao chất lượng, lấy hiệu quả đào tạo và khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường lao động làm thước đo chủ yếu.
Năm 2025, cả nước tuyển được khoảng 2,2 triệu người học, đạt 107% so với kế hoạch. Trong đó trình độ cao đẳng, trung cấp nghề tuyển được 430.000 học sinh, sinh viên. Trình độ sơ cấp và dạy nghề dưới 3 tháng tuyển được khoảng 1,77 triệu người học.
Tuyển sinh các ngành, nghề đào tạo trong lĩnh vực kỹ thuật - công nghệ chiếm tỉ lệ tổng tuyển sinh cao nhất, lên đến 42%, đặc biệt tập trung vào công nghệ cơ khí chế tạo, công nghệ ô tô, công nghệ điện - điện tử - truyền thông, công nghệ thông tin.
Một số ngành, nghề trong các lĩnh vực công nghệ mới nổi như: chip bán dẫn, năng lượng tái tạo, công nghệ số, công nghệ xanh đã có hoạt động tuyển sinh, đào tạo, tuy nhiên kết quả chưa cao do hạn chế về số lượng cơ sở đào tạo, công tác thông tin, truyền thông chưa được tốt nên người học còn chưa thực sự quan tâm, đăng ký.
Sự im lặng từ hai phía đang tạo ra một "vùng cấm" thông tin ngay trong gia đình.
Thông tin trên được nêu trong báo cáo tổng kết giai đoạn 2021-2025 của Chương trình giáo dục giới tính TEENYEEU, do Trung tâm Trẻ em và Phát triển (CCD) thuộc Hội Bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam triển khai.
Qua hơn 50 đợt khảo sát trực tuyến và trực tiếp, chương trình ghi nhận một thực tế đáng chú ý là khoảng trống lớn nhất trong giáo dục giới tính hiện nay nằm ở tâm lý e ngại của những người trong cuộc.
Khi cha mẹ và con cái không thể cởi mở trao đổi, gia đình xuất hiện khoảng trống thông tin. Điều này khiến nhiều học sinh không có điểm tựa để tìm hiểu về những thay đổi tâm sinh lý, cũng như các vấn đề liên quan đến cảm xúc và mối quan hệ.
Khi không có kênh trao đổi phù hợp, học sinh gặp khó trong việc nhận diện rủi ro, khó lên tiếng khi gặp tình huống không an toàn và cũng không biết tìm đến ai để được hỗ trợ.
Báo cáo cũng chỉ ra sự lệch pha trong nhu cầu tiếp cận thông tin. Trong khi phụ huynh và nhà trường thường tập trung vào các kiến thức sinh học như dậy thì, cơ thể, thì học sinh lại quan tâm nhiều hơn đến cảm xúc, ranh giới cá nhân và cách xây dựng các mối quan hệ an toàn. Sự lệch pha này khiến nhiều nội dung giáo dục giới tính chưa thực sự đáp ứng nhu cầu của người học.
Khi gia đình và nhà trường chưa trở thành kênh thông tin chính, học sinh có xu hướng tìm hiểu qua Internet và bạn bè. Đây là hai nguồn được lựa chọn nhiều nhất theo khảo sát của chương trình.
Trong khi đó cha mẹ chỉ đứng sau, còn giáo viên và chuyên gia tâm lý học đường gần như không nằm trong nhóm ưu tiên. Điều này đặt ra nguy cơ học sinh có thể tiếp cận thông tin sai lệch, định kiến giới hoặc các hành vi không an toàn trên môi trường mạng.
Bà Vũ Phương Thảo, Giám đốc miền Trung Chương trình TEENYEEU, cho biết: "Học sinh hôm nay không thiếu thông tin về giới tính, nhưng lại thiếu người hướng dẫn đúng, và đó mới là rủi ro lớn nhất".
Theo bà Thảo, khoảng trống này không thuộc về riêng học sinh hay nhà trường, mà là vấn đề của cả hệ thống khi giáo dục giới tính chưa có mô hình bài bản, giáo viên thiếu công cụ, còn phụ huynh chưa biết cách tiếp cận.
Từ thực tế trên, Chương trình TEENYEEU được xây dựng theo hướng hình thành một hệ sinh thái giáo dục giới tính toàn diện, trong đó trẻ em là trung tâm, còn gia đình, nhà trường và công nghệ cùng tham gia hỗ trợ.
Một trong những giải pháp được triển khai là ứng dụng trí tuệ nhân tạo. Chatbot AI TEENYEEU được phát triển từ 935 câu hỏi tình huống thực tế, cho phép người dùng đặt câu hỏi và nhận phản hồi nhanh, đồng thời đảm bảo tính riêng tư.
Song song, chương trình đã xây dựng hơn 320 sản phẩm truyền thông và giáo dục, phát triển 25 bộ công cụ hỗ trợ nhà trường. Các tài liệu được thiết kế theo hướng dễ triển khai, giúp giáo viên đưa nội dung giáo dục giới tính vào lớp học một cách linh hoạt hơn.
Trong giai đoạn 2021-2025, chương trình đã tiếp cận 155 trường học, thu hút gần 10.500 học sinh và 1.500 phụ huynh tham gia, đồng thời đào tạo hàng nghìn giáo viên.