Làn sóng tăng lãi suất (LS) tiết kiệm trong hệ thống ngân hàng (NH) diễn ra liên tục từ cuối năm 2025 và bất ngờ lên khá cao từ cuối tháng 3 đến nay. Hiện LS tiết kiệm cao nhất ở nhiều nhà băng đã tiệm cận mức 8 – 9% mà không cần phải gửi quá nhiều tiền. Đây là mức LS tiết kiệm rất cao trong vòng vài năm gần đây. Thế nhưng bất chấp LS lên cao, dòng tiền vẫn không thu hút được nhiều như mong muốn của các NH. Số liệu công bố từ Cục Thống kê (Bộ Tài chính) cho thấy tính đến ngày 24.3, huy động vốn của các NH tăng 0,44%, thấp hơn mức tăng 1,23% của cùng kỳ năm 2025. Ở chiều ngược lại, tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế trong quý đầu năm nay đạt 2,15% (cùng thời điểm năm 2025 tăng 2,28%). Như vậy lượng tiền huy động của các NH trong quý đầu năm nay thấp xa so với số cho vay ra. Điều này cho thấy áp lực thanh khoản vẫn khá cao tại các NH. Một câu hỏi đặt ra là nguồn vốn từ người dân, doanh nghiệp đang chảy vào đâu khi “bỏ lơ” tiết kiệm?
Quan sát của chuyên gia tài chính ngân hàng, TS Nguyễn Trí Hiếu, thời gian qua, nhất là từ cuối năm 2025 đến nay dòng tiền từ người dân chảy mạnh vào vàng khi giao dịch trên thị trường này khá sôi động. Các căng thẳng địa chính trị thế giới, nhất là chiến sự Trung Đông bùng nổ càng khiến nhiều người có tâm lý chọn tài sản an toàn như vàng để nắm giữ. Với nhiều người mua vàng từ đầu năm đến nay không có lời, thậm chí lỗ thì lại càng chưa bán ra. Nghĩa là một phần dòng vốn vẫn đang nằm trong kim loại quý.
Đồng quan điểm, ông Nguyễn Thế Minh, Giám đốc Phân tích Khối khách hàng cá nhân của Công ty chứng khoán Yuanta VN, cũng cho rằng trong năm 2025, vàng liên tục tăng cao đã thu hút khá lớn dòng vốn từ người dân vào đó và vẫn nằm lại khi bất ổn thương mại, địa chính trị gia tăng. Đồng thời, kênh bất động sản cũng hút vốn khi giao dịch trong năm 2025 khá sôi động. Nhiều dự án BĐS được tháo gỡ khó khăn và tiếp tục triển khai, các dự án mới cũng nhiều hơn nên lượng tiền giải ngân cũng lên cao. Một kênh đầu tư khác cũng được chú ý là chứng khoán. Kể từ cuối quý 3/2025, khi thị trường chứng khoán VN được công bố nâng hạng thì thị trường đã có thêm nhiều nhà đầu tư. Số lượng tài khoản của các tổ chức trong nước cũng bắt đầu gia tăng và sở hữu cổ phiếu nhiều hơn. Điều này có nghĩa là một phần tiền mà các doanh nghiệp, tổ chức đang để trong NH cũng sẽ chảy vào chứng khoán…
“Thanh khoản từ cuối quý 4/2025 của các NH đã bắt đầu căng khiến LS tiết kiệm được đẩy lên cao. Đối với nhiều người dân, nhà đầu tư thì kênh tiết kiệm chỉ là giải pháp lựa chọn sau cùng khi các kênh đầu tư khác không có cơ hội, mất thanh khoản. Vì vậy trong những thời điểm dù LS thấp thì dòng vốn vẫn chảy vào NH khi bất động sản, chứng khoán đều gặp khó. Nếu LS tiết kiệm cao nhưng nhiều người thấy bất động sản, chứng khoán hay nghĩ vàng có cơ hội tăng giá thì phần lớn dòng vốn sẽ đi vào các kênh đầu tư”, ông Nguyễn Thế Minh chia sẻ.
Trong khi LS tiết kiệm lên cao thì tỷ giá hối đoái USD/VND lại sụt giảm. Hôm qua, tỷ giá trung tâm giữa VND với USD do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.105 đồng, giảm nhẹ so với đầu năm. Còn theo báo cáo của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), chỉ số giá USD trong tháng 3 tăng 0,72% so với tháng trước nhưng giảm 0,47% so với tháng 12.2025; bình quân quý 1/2026 tăng 2,58%.
TS Nguyễn Trí Hiếu nhận định, thời gian qua tỷ giá hối đoái USD/VND gia tăng do áp lực khi USD trên thị trường thế giới tăng cao. Giá xăng dầu thế giới bật lên cao và dù đã hạ nhiệt do chiến sự giữa Mỹ với Iran tạm ngừng nhưng chưa ai biết khi nào thật sự kết thúc. Chi phí nhiên liệu sẽ tác động sâu hơn đến nền kinh tế thế giới lẫn trong nước trong các quý còn lại của năm nay và có khả năng đẩy lạm phát lên cao. Điều đó cũng góp phần giữ đồng bạc xanh ở mức cao, tạo áp lực lên tỷ giá hối đoái tại VN. “Ngân hàng Nhà nước đã có chính sách điều hành tỷ giá hối đoái linh hoạt nhưng dư địa không còn quá lớn. Dù vậy, biến động tỷ giá hối đoái USD/VND cả năm 2026 vẫn sẽ duy trì trong biên độ từ 3 – 5% là phù hợp”, ông Hiếu dự báo.
Trong khi đó, ông Nguyễn Thế Minh nhận định: áp lực tỷ giá hối đoái tại VN năm nay sẽ thấp hơn năm trước bởi nguyên nhân đẩy USD thế giới lên cao là do chiến sự tại Trung Đông và đây chỉ là yếu tố ngắn hạn. Khả năng cao là Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) trong năm nay vẫn sẽ giảm LS dù có thể không quá nhiều như dự báo. Minh chứng là chỉ số USD-Index dù tăng vượt qua mức 100 điểm trong tháng 3 nhưng hiện đã quay đầu xuống còn dưới 98 điểm. Quan trọng hơn, lãi suất VND lên cao và chênh lệch với LS tiền USD. Điều này góp phần hạ nhiệt tỷ giá USD/VND. Hay nói cách khác, thời gian qua tỷ giá hối đoái tại VN chỉ tăng thấp so với chỉ số USD trên thế giới.
Ông nhấn mạnh: xu hướng sắp tới LS tiền đồng vẫn khó giảm sâu và được duy trì ở mặt bằng cao. Điều này giúp duy trì lãi suất VND cao hơn LS của USD. Song song, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào VN trong quý 1/2026, kể cả vốn giải ngân đều tiếp tục tăng mạnh. Hoạt động xuất khẩu của cả nước vẫn tăng trưởng, bất chấp chiến sự tại Trung Đông bùng nổ khiến chi phí logistics nói chung, vận tải biển quốc tế lên cao… Như vậy, tổng hợp các yếu tố chung thì áp lực lên tỷ giá hối đoái tại VN trong năm nay sẽ không quá căng thẳng. NHNN có thể đảm bảo chính sách điều hành linh hoạt, ổn định.
Dự báo mới nhất được Ngân hàng UOB đưa ra với tỷ giá USD/VND sẽ biến động khoảng 2 – 3% trong năm 2026, với mức 26.400 đồng/USD trong quý 2/2026, xuống 26.200 đồng/USD trong quý 3/2026 và 26.100 đồng/USD vào cuối năm.
Diễn ra từ ngày 8 - 11.4, SaigonTex - SaigonFabric 2026 năm nay có chủ đề "Xu hướng AI và phát triển ngành dệt may bền vững" nhằm giúp các doanh nghiệp nắm bắt xu hướng thị trường và tiếp cận trực tiếp các thiết bị và giải pháp công nghệ dệt may mới nhất, thúc đẩy quá trình chuyển đổi của doanh nghiệp trong ngành.
Hiện nay, các công nghệ dệt may trên thế giới đã có rất nhiều cải tiến, từ quy trình cắt, may, đến các khâu hoàn thiện như gấp, đóng gói sản phẩm hay vệ sinh nhà máy đều đã được tự động hóa. Trong đó, các công nghệ giải pháp tự động và robot đang được áp dụng nhiều dòng sản phẩm máy may như của HIKARI, VITONI, CHNKI, ROBOTECH... hay các giải pháp gấp gói hoàn thiện của THERMOTRON và ASIA ROBOTICS; giải pháp xe tự hành, vệ sinh hút bụi thông minh PUDU phục vụ trong tất cả các khu vực nhà xưởng; cho đến các giải pháp cắt trải tự động thông minh của iECHO và Timing, Maika.
Ngoài ra, còn có các giải pháp điều hòa không khí sử dụng nước tuần hoàn tiết kiệm điện và thân thiện với môi trường. Tại triển lãm năm nay, Phồn Thịnh - Tae Gwang mang tới 8 gian hàng tương ứng với các khâu khác nhau trong quy trình khép kín của hệ sinh thái nhà máy may, với định hướng rõ ràng là tối ưu hóa sản xuất thông qua số hóa, tự động hóa và các công nghệ hỗ trợ vận hành, thay vì chỉ dừng ở các cải tiến đơn lẻ từng thiết bị.
Chia sẻ tại sự kiện, ông Vũ Đức Giang, Chủ tịch Hiệp hội Dệt May Việt Nam (VITAS) cho biết: Các doanh nghiệp dệt may đang bước vào một giai đoạn mới, với đơn hàng yêu cầu thời gian giao nhanh hơn, giá cạnh tranh hơn và đặc biệt là chất lượng cao hơn. Trong bối cảnh chung, xu hướng đổi mới công nghệ, tối ưu hóa sản xuất thông qua số hóa, tự động hóa và các công nghệ hỗ trợ vận hành, đặc biệt là ứng dụng trí tuệ nhân tạo AI, đang trở thành yêu cầu bắt buộc nhằm tối ưu chi phí, nâng cao năng suất và đáp ứng các tiêu chuẩn sản xuất bền vững. "Doanh nghiệp cần thiết quan tâm đầu tư hạ tầng nhà xưởng đạt chuẩn đánh giá quốc tế, đầu tư công nghệ, tự động hóa, robot và thậm chí ứng dụng AI trong sản xuất", ông Vũ Đức Giang nhấn mạnh.
Ông Wu Liang Jie - Chủ tịch Tập đoàn HIKARI (Thượng Hải) cho biết: "Hiện ngành dệt may Việt Nam đang đối mặt với những thách thức mới như chi phí lao động tăng hay thiếu hụt lao động, đây là xu hướng tất yếu mà bất kỳ quốc gia nào cũng gặp phải khi phát triển đến một giai đoạn nhất định. Trên thực tế, lợi thế cạnh tranh cốt lõi của ngành dệt may Việt Nam đã được hình thành. Giai đoạn tiếp theo sẽ là quá trình tích hợp các công nghệ tiên tiến hơn, thiết bị hiện đại hơn, phương thức quản lý hiệu quả hơn và tư duy vận hành mới, từ đó vừa giải quyết thách thức, vừa mở ra một giai đoạn phát triển mới".
Ông Nguyễn Văn Tiếp, Phó tổng giám đốc Công ty TNHH Phồn Thịnh - Tae Gwang, cho biết các doanh nghiệp dệt may đã thực hiện chuyển đổi khoảng 30 - 40% các thiết bị sang công nghệ mới. Việc chuyển đổi này đã góp phần nâng tầm vị thế cho doanh nghiệp, đồng thời, cải thiện năng suất rõ rệt. "Quan trọng hơn là chất lượng sản phẩm đầu ra được đồng nhất, không phụ thuộc vào tay nghề của công nhân. Ngoài ra, việc tự động hóa, chuyên biệt hóa cũng giúp các doanh nghiệp đẩy nhanh quá trình số hóa, hướng đến xanh hóa để theo kịp xu hướng của thế giới", ông Tiếp nói.
Ngày 9.4.2026, ngay sau khi NHNN tổ chức cuộc họp về triển khai công tác ngân hàng với đại diện các NHTM về điều hành chính sách tiền tệ, Agribank đã có văn bản triển khai điều chỉnh giảm mạnh lãi suất huy động 0,5%/năm kỳ hạn từ 24 tháng trở lên đối với khách hàng cá nhân, hiệu lực từ 13.4.2026.
Động thái này cho thấy phản ứng chính sách nhanh và chủ động của Agribank trong thực hiện chỉ đạo của NHNN về ổn định mặt bằng lãi suất. Với vai trò là ngân hàng thương mại Nhà nước chủ lực, Agribank tiếp tục thể hiện tinh thần tiên phong, gương mẫu trong việc triển khai nghiêm túc các chỉ đạo của Chính phủ và NHNN, đồng thời chủ động cân đối nguồn vốn, kiểm soát chi phí để góp phần ổn định thị trường tiền tệ.
Không chỉ giảm lãi suất huy động, Agribank cũng là ngân hàng tiên phong tuyên bố giảm lãi suất cho vay. Theo cơ chế áp dụng tại Agribank, lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 24 tháng được sử dụng làm lãi suất tham chiếu để xác định lãi suất cho vay trung, dài hạn. Vì vậy, khi lãi suất tham chiếu giảm 0,5%/năm, lãi suất cho vay cũng được điều chỉnh giảm tương ứng 0,5%/năm. Việc giảm đồng thời cả lãi suất huy động và lãi suất cho vay cho thấy nỗ lực của Agribank trong việc chia sẻ chi phí vốn với khách hàng, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế vẫn cần thêm động lực để phục hồi và tăng trưởng.
Thực tế, định hướng điều hành này đã được Agribank chuẩn bị từ sớm. Ngay từ đầu năm 2026, trước áp lực cạnh tranh lãi suất huy động và áp lực thanh khoản hệ thống gia tăng, Agribank đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp để chủ động điều hành lãi suất và cơ cấu nguồn vốn theo hướng thận trọng, linh hoạt, bảo đảm ổn định thanh khoản, qua đó góp phần giữ ổn định mặt bằng lãi suất và hỗ trợ tăng trưởng tín dụng.
Trong đó, Agribank tập trung cơ cấu nguồn vốn theo hướng khuyến khích tăng trưởng CASA, ưu tiên các nguồn vốn có chi phí hợp lý, phát triển sản phẩm huy động trên kênh số và đẩy mạnh tăng trưởng tiền gửi ổn định từ dân cư. Việc điều chỉnh lãi suất được thực hiện với biên độ phù hợp, bám sát chỉ đạo của Chính phủ, NHNN, phù hợp với diễn biến thị trường và trên cơ sở cân đối thanh khoản thực tế của Agribank.
Nhờ điều hành lãi suất tiền gửi hợp lý, Agribank không chỉ duy trì được nguồn vốn ổn định mà còn tiếp tục bảo đảm cơ cấu nguồn vốn hiệu quả, giữ chi phí đầu vào ở mức phù hợp, từ đó tạo dư địa để duy trì lãi suất cho vay ở mức thấp, hỗ trợ nền kinh tế. Đây là yếu tố quan trọng giúp Agribank tiếp tục phát huy vai trò đồng hành cùng người dân, doanh nghiệp trong tiếp cận tín dụng phục vụ sản xuất, kinh doanh.
Bên cạnh việc điều chỉnh giảm lãi suất, Agribank tiếp tục triển khai nhiều chương trình cho vay ưu tiên, ưu đãi theo định hướng của Chính phủ và NHNN, hướng tới các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các nhóm khách hàng cần hỗ trợ về vốn. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp về lãi suất và tín dụng cho thấy Agribank không chỉ hưởng ứng chủ trương điều hành, mà còn cụ thể hóa chủ trương đó bằng hành động thực chất, qua đó góp phần ổn định thị trường tiền tệ và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.
Trong bối cảnh mặt bằng lãi suất vẫn chịu nhiều áp lực, việc Agribank chủ động giảm lãi suất huy động, tiên phong giảm 0,5% lãi suất cho vay và tiếp tục triển khai các chương trình tín dụng ưu đãi là minh chứng rõ nét cho vai trò của một ngân hàng thương mại Nhà nước chủ lực. Không chỉ thực hiện nghiêm chỉ đạo của Chính phủ và NHNN, Agribank còn cho thấy trách nhiệm tiên phong, dẫn dắt và đồng hành với nền kinh tế bằng những giải pháp cụ thể, kịp thời và thiết thực.
Cụ thể, tại dự thảo này, Bộ Công thương đề xuất khung giờ cao điểm của hệ thống điện quốc gia tính từ tháng 1 - 4 và từ tháng 9 - 12, khung giờ cao điểm tính từ 14 - 19 giờ (5 giờ) trong các ngày từ thứ hai đến thứ bảy; từ tháng 5 - 8, khung giờ cao điểm từ 14 giờ 30 - 16 giờ 30 và từ 19 giờ 30 đến 22 giờ 30 (5 giờ) trong các ngày từ thứ hai đến thứ bảy.
Ngày chủ nhật không có giờ cao điểm.
Khung giờ thấp điểm áp dụng từ 0 - 6 giờ sáng tất cả các ngày trong tuần (6 giờ).
Khung giờ bình thường áp dụng cho các khung giờ còn lại trong ngày (13 giờ/ngày đối với các ngày từ thứ hai đến thứ bảy và 18 giờ/ngày đối với ngày chủ nhật).
Theo Thông tư 16/2014 của Bộ Công thương, thời gian sử dụng điện trong ngày được quy định từ thứ hai đến thứ bảy như sau:
Khung giờ cao điểm từ thứ hai đến thứ bảy vào các khung giờ như sau: từ 9 giờ 30 - 11 giờ 30 (2 giờ) và từ 17 - 20 giờ (3 giờ).
Khung giờ thấp điểm từ 22 - 4 giờ sáng ngày hôm qua (6 giờ) và chủ nhật không có giờ cao điểm.
Khung giờ bình thường có 3 khung giờ từ thứ hai đến thứ bảy gồm: từ 4 - 9 giờ 30 phút (5 giờ 30 phút), từ 11 giờ 30 đến 17 giờ ( 5 giờ 30 phút), từ 20 - 22 giờ (2 giờ); ngày chủ nhật có 18 giờ thấp điểm, từ 4 - 22 giờ.
Quy định về khung giờ nói trên theo Thông tư 16 đã được áp dụng 12 năm qua.
Theo Bộ Công thương, việc điều chỉnh các khung giờ sử dụng điện của hệ thống điện quốc gia xuất phát trong bối cảnh vận hành thực tế và yêu cầu nâng cao hiệu quả vận hành toàn hệ thống điện. Từ năm 2019, với sự thâm nhập mạnh mẽ và gia tăng tỷ trọng của nguồn điện mặt trời trong cơ cấu nguồn điện, biểu đồ công suất các loại hình nguồn điện đã có sự thay đổi đáng kể. Đồng thời, cơ cấu các thành phần phụ tải cũng có sự thay đổi lớn, khi thành phần phụ tải công nghiệp tăng từ xấp xỉ 30% đến hơn 50% tổng phụ tải, thành phần phụ tải dân dụng - sinh hoạt giảm từ khoảng 50% xuống còn xấp xỉ 33% đã làm thay đổi đáng kể biểu đồ phụ tải.
Do đó, trong bối cảnh cơ cấu nguồn điện đã có nhiều thay đổi, đặc biệt là sự gia tăng nhanh chóng của các nguồn năng lượng tái tạo như điện mặt trời và điện gió, việc điều chỉnh khung giờ là cần thiết để phản ánh đúng đặc điểm cung-cầu điện năng trong bối cảnh mới.
Bộ Công thương cũng cho rằng, việc xác định hợp lý các khung giờ cao điểm, thấp điểm và giờ bình thường của hệ thống điện quốc gia cũng góp phần nâng cao hệ số phụ tải điện (tỷ lệ giữa điện năng sử dụng với công suất cực đại), giúp tối ưu hiệu quả sử dụng năng lượng. Thông qua cơ chế giá điện theo khung giờ, các khách hàng sẽ có động cơ điều chỉnh hành vi tiêu thụ điện để giảm chi phí mua điện; giảm sử dụng vào giờ cao điểm và chuyển dịch sang khung giờ thấp điểm, giờ bình thường. Điều này giúp làm phẳng biểu đồ phụ tải, giảm chênh lệch giữa công suất cực đại và công suất trung bình, nâng cao hiệu quả khai thác các nguồn điện, giảm áp lực cho hệ thống điện trong thời gian cao điểm.
Với các hệ thống điện có tỷ lệ năng lượng tái tạo đáng kể như Việt Nam, thiết kế khung giờ cao điểm ngược với giờ phát cao của các nguồn năng lượng tái tạo (lệch khỏi khung giờ có nguồn năng lượng tái tạo đang phát cao và/hoặc trùng vào thời điểm các nguồn năng lượng tái tạo đang giảm) sẽ tạo động lực để các khách hàng phát triển thiết bị lưu trữ công suất nhằm tự cân đối lại nguồn phát năng lượng tái tạo vào những thời điểm hệ thống cần bổ sung nguồn.
Theo quy định tại Quyết định số 14/2025 của Thủ tướng Chính phủ, cơ chế giá điện theo khung giờ cao điểm, thấp điểm, giờ bình thường của hệ thống điện được áp dụng cho các thành phần phụ tải điện sản xuất và kinh doanh (công nghiệp, thương mại - dịch vụ, nhà hàng - khách sạn...) còn thành phần phụ tải điện sinh hoạt được tính giá theo bậc thang tăng dần. Do đó, việc áp dụng khung giờ cao điểm, thấp điểm, giờ bình thường của hệ thống điện sẽ chỉ ảnh hưởng đến hành vi sử dụng của phụ tải điện sản xuất và kinh doanh.
Bộ Công thương cũng cho biết, qua phân tích biểu đồ thành phần phụ tải điện, công suất phụ tải công nghiệp khá cao (công suất tải công nghiệp thấp nhất thậm chí vẫn cao hơn công suất tải Sinh hoạt cao nhất). Như vậy, khi quy định khung giờ cao điểm vào cao điểm của phụ tải sinh hoạt sẽ tác động dịch chuyển hành vi sử dụng điện của các khách hàng sản xuất - kinh doanh (nhất là công nghiệp) sang các khung giờ khác, nhường công suất nguồn cho phụ tải sinh hoạt.