Cụ thể, tại dự thảo này, Bộ Công thương đề xuất khung giờ cao điểm của hệ thống điện quốc gia tính từ tháng 1 – 4 và từ tháng 9 – 12, khung giờ cao điểm tính từ 14 – 19 giờ (5 giờ) trong các ngày từ thứ hai đến thứ bảy; từ tháng 5 – 8, khung giờ cao điểm từ 14 giờ 30 – 16 giờ 30 và từ 19 giờ 30 đến 22 giờ 30 (5 giờ) trong các ngày từ thứ hai đến thứ bảy.
Ngày chủ nhật không có giờ cao điểm.
Khung giờ thấp điểm áp dụng từ 0 – 6 giờ sáng tất cả các ngày trong tuần (6 giờ).
Khung giờ bình thường áp dụng cho các khung giờ còn lại trong ngày (13 giờ/ngày đối với các ngày từ thứ hai đến thứ bảy và 18 giờ/ngày đối với ngày chủ nhật).
Theo Thông tư 16/2014 của Bộ Công thương, thời gian sử dụng điện trong ngày được quy định từ thứ hai đến thứ bảy như sau:
Khung giờ cao điểm từ thứ hai đến thứ bảy vào các khung giờ như sau: từ 9 giờ 30 – 11 giờ 30 (2 giờ) và từ 17 – 20 giờ (3 giờ).
Khung giờ thấp điểm từ 22 – 4 giờ sáng ngày hôm qua (6 giờ) và chủ nhật không có giờ cao điểm.
Khung giờ bình thường có 3 khung giờ từ thứ hai đến thứ bảy gồm: từ 4 – 9 giờ 30 phút (5 giờ 30 phút), từ 11 giờ 30 đến 17 giờ ( 5 giờ 30 phút), từ 20 – 22 giờ (2 giờ); ngày chủ nhật có 18 giờ thấp điểm, từ 4 – 22 giờ.
Quy định về khung giờ nói trên theo Thông tư 16 đã được áp dụng 12 năm qua.
Theo Bộ Công thương, việc điều chỉnh các khung giờ sử dụng điện của hệ thống điện quốc gia xuất phát trong bối cảnh vận hành thực tế và yêu cầu nâng cao hiệu quả vận hành toàn hệ thống điện. Từ năm 2019, với sự thâm nhập mạnh mẽ và gia tăng tỷ trọng của nguồn điện mặt trời trong cơ cấu nguồn điện, biểu đồ công suất các loại hình nguồn điện đã có sự thay đổi đáng kể. Đồng thời, cơ cấu các thành phần phụ tải cũng có sự thay đổi lớn, khi thành phần phụ tải công nghiệp tăng từ xấp xỉ 30% đến hơn 50% tổng phụ tải, thành phần phụ tải dân dụng – sinh hoạt giảm từ khoảng 50% xuống còn xấp xỉ 33% đã làm thay đổi đáng kể biểu đồ phụ tải.
Do đó, trong bối cảnh cơ cấu nguồn điện đã có nhiều thay đổi, đặc biệt là sự gia tăng nhanh chóng của các nguồn năng lượng tái tạo như điện mặt trời và điện gió, việc điều chỉnh khung giờ là cần thiết để phản ánh đúng đặc điểm cung-cầu điện năng trong bối cảnh mới.
Bộ Công thương cũng cho rằng, việc xác định hợp lý các khung giờ cao điểm, thấp điểm và giờ bình thường của hệ thống điện quốc gia cũng góp phần nâng cao hệ số phụ tải điện (tỷ lệ giữa điện năng sử dụng với công suất cực đại), giúp tối ưu hiệu quả sử dụng năng lượng. Thông qua cơ chế giá điện theo khung giờ, các khách hàng sẽ có động cơ điều chỉnh hành vi tiêu thụ điện để giảm chi phí mua điện; giảm sử dụng vào giờ cao điểm và chuyển dịch sang khung giờ thấp điểm, giờ bình thường. Điều này giúp làm phẳng biểu đồ phụ tải, giảm chênh lệch giữa công suất cực đại và công suất trung bình, nâng cao hiệu quả khai thác các nguồn điện, giảm áp lực cho hệ thống điện trong thời gian cao điểm.
Với các hệ thống điện có tỷ lệ năng lượng tái tạo đáng kể như Việt Nam, thiết kế khung giờ cao điểm ngược với giờ phát cao của các nguồn năng lượng tái tạo (lệch khỏi khung giờ có nguồn năng lượng tái tạo đang phát cao và/hoặc trùng vào thời điểm các nguồn năng lượng tái tạo đang giảm) sẽ tạo động lực để các khách hàng phát triển thiết bị lưu trữ công suất nhằm tự cân đối lại nguồn phát năng lượng tái tạo vào những thời điểm hệ thống cần bổ sung nguồn.
Theo quy định tại Quyết định số 14/2025 của Thủ tướng Chính phủ, cơ chế giá điện theo khung giờ cao điểm, thấp điểm, giờ bình thường của hệ thống điện được áp dụng cho các thành phần phụ tải điện sản xuất và kinh doanh (công nghiệp, thương mại – dịch vụ, nhà hàng – khách sạn…) còn thành phần phụ tải điện sinh hoạt được tính giá theo bậc thang tăng dần. Do đó, việc áp dụng khung giờ cao điểm, thấp điểm, giờ bình thường của hệ thống điện sẽ chỉ ảnh hưởng đến hành vi sử dụng của phụ tải điện sản xuất và kinh doanh.
Bộ Công thương cũng cho biết, qua phân tích biểu đồ thành phần phụ tải điện, công suất phụ tải công nghiệp khá cao (công suất tải công nghiệp thấp nhất thậm chí vẫn cao hơn công suất tải Sinh hoạt cao nhất). Như vậy, khi quy định khung giờ cao điểm vào cao điểm của phụ tải sinh hoạt sẽ tác động dịch chuyển hành vi sử dụng điện của các khách hàng sản xuất – kinh doanh (nhất là công nghiệp) sang các khung giờ khác, nhường công suất nguồn cho phụ tải sinh hoạt.
Bộ Công thương cho biết đã và đang triển khai nhiều biện pháp nhằm bảo đảm mục tiêu cung ứng đủ xăng dầu cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng, góp phần kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô.
Tuy vậy, để bảo đảm cung ứng đủ xăng dầu cho nền kinh tế trong thời gian tới, Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước đề nghị các thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu, thương nhân phân phối xăng dầu trong tháng 4 phải bảo đảm việc nhập khẩu, mua nhà máy sản xuất trong nước tháng 4; tiếp tục đa dạng hóa nguồn nhập khẩu xăng dầu, khẩn trương xây dựng ngay kế hoạch nhập khẩu xăng dầu tháng 5.
Đặc biệt, thương nhân đầu mối, thương nhân phân phối xăng dầu "tuyệt đối không găm hàng chờ tăng giá, tuyệt đối không để gián đoạn nguồn cung xăng dầu trong hệ thống kinh doanh, từ thương nhân đầu mối, thương nhân phân phối, cửa hàng bán lẻ xăng dầu".
"Trong mọi tình huống phải cung cấp đủ xăng dầu cho cửa hàng bán lẻ thuộc hệ thống phân phối của thương nhân để duy trì hoạt động bán hàng thường xuyên", công văn nhấn mạnh.
Bên cạnh đó, các thương nhân phải chú trọng chia sẻ nguồn cung, chia sẻ lợi nhuận trong hệ thống phân phối một cách hợp lý để đảm bảo không bị gián đoạn việc cung ứng xăng dầu cho thị trường. Bố trí đủ nhân lực, tổ chức trực hoặc tăng ca để duy trì hoạt động bán hàng thường xuyên, liên tục cho thị trường.
Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước cũng yêu cầu thương nhân xăng dầu thực hiện nghiêm túc, đầy đủ tổng nguồn xăng dầu tối thiểu năm 2026 đã được phân giao (cả về số lượng, chủng loại) cũng như chủ động dự báo tình hình, xây dựng kế hoạch ứng phó và đa dạng hóa nguồn cung cả trong nước và nhập khẩu. Nghiêm túc dự trữ xăng dầu theo quy định, bảo đảm cung cấp đầy đủ xăng dầu cho thị trường trong nước trong mọi tình huống.
Bộ Công thương sẽ phối hợp với các cơ quan chức năng kiểm tra, giám sát việc thực hiện trách nhiệm bảo đảm nguồn cung xăng dầu cho thị trường, giám sát việc nhập khẩu, mua nhà máy sản xuất trong nước, dự trữ lưu thông của các thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu, thương nhân phân phối xăng dầu và sẽ xử lý nghiêm các hành vi vi phạm (nếu có).
Hôm nay (6.4), nhiều nơi trên cả nước xuất hiện nắng nóng gay gắt và đặc biệt gay gắt. Cập nhật thời tiết mới nhất vào trưa nay từ Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia, mức nhiệt cao nhất cả nước lên tới 39,6 độ C ghi nhận tại Hương Khê (Hà Tĩnh). Bên cạnh đó, nhiều nơi cũng đạt và vượt mức 39 độ C. Cụ thể, trên địa bàn tỉnh Nghệ An có Tây Hiếu và Vinh, còn tại Hà Tĩnh ngoài Hương Khê có thêm trạm Hà Tĩnh và Tuyên Hóa.
Ngoài ra, nhiều nơi khác ở phía tây bắc Bắc bộ và khu vực phía đông các tỉnh từ Quảng Ngãi đến Đắk Lắk cũng ghi nhận nắng nóng gay gắt 37 - 38 độ C; trong khi Tây nguyên và Đông Nam bộ nắng nóng phổ biến 36 - 37 độ C.
Dự báo trong ngày 7 - 8.4, nắng nóng tiếp tục xuất hiện trên diện rộng, nhiều nơi gay gắt đến đặc biệt gay gắt (trên 39 độ C). Cụ thể, khu vực tây Bắc bộ có mức nhiệt cao nhất phổ biến 36 - 38 độ C, có nơi trên 39 độ C.
Khu vực từ Thanh Hóa đến Đà Nẵng và phía đông các tỉnh từ Quảng Ngãi đến Đắk Lắk nhiệt độ cao nhất từ 37 - 39 độ C, có nơi trên 40 độ C; Tây nguyên và Nam bộ có nơi trên 37 độ C.
Nắng nóng và nắng nóng gay gắt có khả năng kéo dài trong nhiều ngày tới. Do nắng nóng gay gắt và độ ẩm trong không khí thấp nên nguy cơ cháy nổ, hỏa hoạn tăng cao do thời tiết rất khô và nhu cầu điện tăng mạnh.
Nhiệt độ thực tế ngoài trời có thể cao hơn dự báo 2 - 4 độ C hoặc hơn, nhất là tại nhưng nơi có bê tông, đường nhựa. Đối với sức khỏe, nắng nóng dễ gây mất nước, sốc nhiệt nếu tiếp xúc lâu với nền nhiệt cao.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trong tháng 3 cán cân thương mại ngành nông sản vẫn duy trì xuất siêu 1,55 tỉ USD, tuy giảm 19,3% so với cùng kỳ năm trước nhưng lũy kế 3 tháng đầu năm 2026, đạt gần 4,8 tỉ USD, tăng 12% và có 5 mặt hàng xuất siêu chính là gỗ, cà phê, tôm, gạo và rau quả.
Trong số này, đáng chú ý là mặt hàng gạo có tốc độ tăng mạnh nhất với 74% so cùng kỳ năm trước với 812 triệu USD, trên tổng kim ngạch xuất khẩu gạo trong 3 tháng đầu năm đạt 1,1 tỉ USD. Theo một số chuyên gia, lượng gạo xuất khẩu vẫn đạt trên 2,3 triệu tấn, tăng nhẹ so nhưng gạo nhập khẩu giảm đáng kể so với năm trước vì các doanh nghiệp tập trung thu mua tiêu thụ lúa gạo hàng hóa nội địa cho nông dân. Điều này cho thấy sự linh hoạt và vai trò quan trọng của các doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị ngành hàng lúa gạo thế giới. Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) cũng đánh giá, Việt Nam đồng thời vừa là nhà xuất và nhập khẩu gạo lớn thứ 2 thế giới.
Ngoài mặt hàng gạo, xuất siêu tôm cũng tăng gần 32% so với cùng kỳ, đạt con số trên 995 triệu USD; rau quả xuất siêu 740 triệu USD, tăng 33%; gỗ và sản phẩm gỗ xuất siêu 3 tỉ USD, giảm 7,5%; cà phê là 2,6 tỉ USD, giảm 6% so cùng kỳ năm 2026.
Cục thống kê cho biết, trong quý 3 tháng đầu năm, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 249,5 tỉ USD, tăng 23% so với cùng kỳ năm trước; trong đó xuất khẩu tăng 19% còn nhập khẩu tăng 27%. Cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 3,6 tỉ USD tăng nhẹ so với cùng kỳ năm 2025; khu vực kinh tế trong nước nhập siêu gần 11 tỉ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 7 tỉ USD.