Ngày 20-4, một ngày trước khi kết thúc lệnh ngừng bắn kéo dài hai tuần, đàm phán giữa Mỹ và Iran có nguy cơ sụp đổ hơn bao giờ hết khi Washington tấn công tàu hàng của Iran vì cho rằng tàu hàng này vi phạm lệnh phong tỏa, khiến Tehran sau đó trả đũa bằng máy bay không người lái.
Vụ tấn công cho thấy rõ sự thiếu tin tưởng lẫn nhau giữa Mỹ và Iran, cũng như nguy cơ chiến tranh quay trở lại vùng Vịnh khi lệnh ngừng bắn kết thúc vào ngày 21-4.
Vụ tấn công diễn ra khi Mỹ dự kiến sẽ cử một phái đoàn do Phó tổng thống JD Vance dẫn đầu để đến Pakistan đàm phán dự kiến vào tối ngày 20-4.
Trên nền tảng Truth Social, Tổng thống Donald Trump tiếp tục gia tăng sức ép đe dọa sẽ phá hủy các nhà máy điện và cầu của nước này nếu không đạt được thỏa thuận.
Cuối tuần qua, nhà lãnh đạo Mỹ đã có những tuyên bố trái ngược khi nói rằng Iran đã “đồng ý với mọi thứ” và đã mở lại hoàn toàn eo biển Hormuz.
Nhưng thay vì có động thái có đi có lại, ông tuyên bố Mỹ sẽ tiếp tục phong tỏa hàng hải đối với Iran dẫn đến phản ứng mạnh của Tehran khi bác bỏ việc giao nộp uranium làm giàu cho Mỹ và tuyên bố eo biển Hormuz vẫn đóng.
Cuối ngày 19-4, truyền thông Iran đưa tin nước này sẽ không tiếp tục đàm phán với Washington. Theo giới quan sát, các quan chức Iran dường như nghi ngờ rằng việc ông Trump nói về thỏa thuận có thể chỉ là vỏ bọc cho một cuộc tấn công bất ngờ.
“Trong khi tuyên bố ngoại giao và sẵn sàng đàm phán, Mỹ đang có những hành vi không hề cho thấy sự nghiêm túc trong việc theo đuổi tiến trình ngoại giao” – người phát ngôn Esmaeil Baghaei của Bộ Ngoại giao Iran nói, cáo buộc vụ tấn công như “cướp biển” của Mỹ vào một tàu hàng của Iran cũng như phong tỏa các cảng của Tehran. Iran còn tố Mỹ vi phạm lệnh ngừng bắn khi chậm trễ thực hiện lệnh ngừng bắn ở Lebanon.
Ngày 20-4, nói về triển vọng đàm phán, lãnh đạo Ủy ban An ninh quốc gia của Quốc hội Iran Ebrahim Azizi nói rằng việc này còn tùy thuộc vào việc Mỹ có gửi đi những tín hiệu tích cực hay không.
Nhưng trên đấu trường đàm phán này, Iran sẽ kiên quyết hành động vì lợi ích quốc gia và có những lằn ranh đỏ, những điều kiện không thể nhượng bộ. Ba yêu cầu của Iran trước khi bước vào vòng đàm phán vòng hai bao gồm: ngừng bắn ở Lebanon, chấm dứt lệnh phong tỏa của Mỹ đối với các cảng của Iran và bỏ phong tỏa các tài sản của Tehran.
Kể từ đầu cuộc chiến, việc đánh giá mức độ chân thành và chính xác của các tuyên bố từ Mỹ hay Iran luôn là điều khó khăn.
Sau khi Mỹ và Israel ám sát hàng loạt lãnh đạo của Iran, hầu như không thể đoán chiến lược của Iran cũng như chính xác những ai đang nắm quyền. Bất chấp những tuyên bố cứng rắn, theo giới phân tích, Tehran không có nhiều lựa chọn.
“Tôi nghĩ khả năng cao chúng ta sẽ thấy một phái đoàn Iran đến đàm phán. Các lựa chọn chiến lược trước mắt Iran đã trở nên khá hạn chế. Ngoài chiến tranh, họ chỉ còn lựa chọn đàm phán. Tôi nghĩ Iran muốn đàm phán, nhưng họ muốn đàm phán trên những điều khoản mà rõ ràng là họ vẫn chưa đồng ý với Mỹ”, nhà nghiên cứu Rashid Al-Mohanadi nhận định. Đài CNN dẫn các nguồn tin từ Tehran nói rằng phái đoàn của nước này sẽ đến Pakistan vào 21-4.
Đối với Tổng thống Trump, vài ngày tới sẽ là là phép thử cho thấy chiến lược hăm dọa quen thuộc của ông có thể tạo ra những cơ hội ngoại giao hay đang mất dần hiệu quả.
Nếu thất bại, ông Trump có thể đứng trước lựa chọn leo thang sự can thiệp quân sự để giải quyết vấn đề – điều rõ ràng sẽ gây ra những hậu quả thảm khốc đối với nền kinh tế toàn cầu và mức độ tín nhiệm đang sụt giảm của chính ông.
Theo ông Mohammad Eslami, nhà nghiên cứu về Trung Đông và Bắc Phi tại Đại học Tehran, những tín hiệu trái chiều vừa qua có thể là chiến lược đàm phán có tính toán. “Iran đóng cửa eo biển để rồi mở lại, đó là một động thái đàm phán”, ông nói với Đài Al Jazeera.
Việc Mỹ bắt giữ tàu Iran là hành động nhằm giữ thể diện, và cuộc tấn công đáp trả của Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran sau đó cho thấy Tehran không hề nhượng bộ, theo ông Eslami.
Nhưng điều khó đoán chính là liệu những tính toán này có thể dẫn đến một thỏa thuận hay không. “Mỹ không có một chiến lược rõ ràng khi bắt đầu cuộc chiến này. Tôi không mấy lạc quan về các cuộc đàm phán. Nếu không đạt được thỏa thuận, chiến tranh sẽ tiếp diễn”, ông Eslami nhận định.
Theo Reuters ngày 9.4 dẫn lời ông Healey, lực lượng Anh phối hợp với các đồng minh, trong đó có Na Uy, đã giám sát chặt chẽ và kịp thời ngăn chặn các hoạt động bị coi là thù địch trong bối cảnh lo ngại về nguy cơ phá hoại đối với các tuyến cáp ngầm và đường ống dưới biển.
Ông Healey cáo buộc hành động của Nga diễn ra "trong khi nhiều nước đang hướng sự chú ý về Trung Đông". Ông cho biết việc công khai chiến dịch nhằm gửi thông điệp răn đe tới Nga rằng các hoạt động này đã bị phát hiện.
"Tôi muốn nói với Tổng thống Nga Vladimir Putin rằng chúng tôi đang theo dõi mọi hoạt động liên quan các tuyến cáp và đường ống của mình. Bất kỳ nỗ lực phá hoại nào cũng sẽ phải đối mặt với hậu quả nghiêm trọng", ông Healey nhấn mạnh.
Bộ trưởng Anh cho biết chiến dịch của Nga có sự tham gia của một tàu ngầm tấn công lớp Akula cùng 2 tàu chuyên dụng thuộc Tổng cục Nghiên cứu biển sâu Nga (GUGI). Ông cho biết sẽ không tiết lộ chi tiết về địa điểm diễn ra chiến dịch. Các tàu ngầm hiện đã rời khỏi vùng biển của Anh, di chuyển về phía bắc và chưa ghi nhận thiệt hại đối với hạ tầng dưới biển.
Theo The Telegraph, một tàu khu trục của hải quân Nga Admiral Grigorovich đã hộ tống 2 tàu chở dầu bị Anh trừng phạt gồm tàu Universal mang cờ Nga và tàu Enigma mang cờ Cameroo đi qua eo biển Anh.
Sau các thông tin trên, Điện Kremlin ngày 9.4 khẳng định Nga có quyền bảo vệ hoạt động hàng hải của mình. Phát ngôn viên Điện Kremlin Dmitry Peskov cho biết: "Trong vài tháng qua, chúng ta đã chứng kiến nhiều vụ cướp biển xảy ra liên tiếp trên vùng biển quốc tế. Những vụ cướp biển này, trong số những hậu quả khác, đã gây thiệt hại đến lợi ích kinh tế của Nga".
Quan chức Nga tuyên bố nước này sẽ thực hiện các biện pháp cần thiết để bảo vệ lợi ích của mình.
Hồi tháng 3, Thủ tướng Anh Keir Starmer đã cho phép quân đội kiểm tra và bắt giữ các tàu Nga trong vùng biển Anh nhằm siết chặt mạng lưới vận chuyển dầu mà London cho là giúp Moscow né tránh các lệnh trừng phạt của phương Tây.
Theo báo Khaosod English ngày 21-4, tranh cãi bắt nguồn từ bài viết có tiêu đề "How Cybercrime Became a Leading Industry in 'Scambodia'" (Cách tội phạm mạng trở thành một ngành công nghiệp hàng đầu ở 'Scambodia') do tờ Wall Street Journal đăng tải hai ngày trước đó, trong đó mô tả Campuchia là một trung tâm lớn của tội phạm mạng toàn cầu.
Ngay sau khi xuất bản, bài báo đã vấp phải phản ứng dữ dội từ dư luận Campuchia, đặc biệt ở trên mạng xã hội.
Nhiều ý kiến cho rằng cách gọi "Scambodia" - chơi chữ kết hợp giữa "scam" (lừa đảo) và Cambodia (Campuchia) - mang tính xúc phạm, bóp méo hình ảnh quốc gia và không phù hợp với chuẩn mực báo chí.
Trong bài viết trên Khmer Times ngày 21-4, nhà phân tích Roth Santepheap cho rằng việc sử dụng thuật ngữ này đã vượt qua ranh giới giữa đưa tin và chế giễu.
Theo ông, dù Campuchia thực sự đối mặt với vấn nạn lừa đảo trực tuyến, việc gán nhãn cả một quốc gia bằng một cách gọi mang tính miệt thị như vậy là không công bằng và làm suy giảm tiêu chuẩn báo chí.
Ở cấp độ chính phủ, Bộ Thông tin Campuchia cũng chỉ trích mạnh mẽ bài báo của Wall Street Journal, gọi việc sử dụng từ ngữ như vậy để gọi Campuchia là "xúc phạm" và "thiếu chuyên nghiệp", cho rằng điều này làm tổn hại đến uy tín quốc gia cũng như những nỗ lực chống tội phạm mạng của nước này.
Một bài bình luận trên báo Phnom Penh Post đặt câu hỏi vì sao Campuchia bị "điểm danh" theo cách này, trong khi lừa đảo trực tuyến là vấn đề mang tính toàn cầu, liên quan đến các mạng lưới xuyên biên giới - chứ không riêng gì ở Campuchia.
Những người chỉ trích cho rằng việc tập trung vào một cái tên mang tính giật gân như "Scambodia" có thể khiến độc giả hiểu sai bản chất vấn đề.
Các ý kiến phản đối cũng cho rằng cách tiếp cận này đã bỏ qua những nỗ lực gần đây của Campuchia trong việc trấn áp tội phạm mạng.
Trong thời gian qua, nước này đã tiến hành nhiều chiến dịch quy mô lớn, triệt phá hàng trăm địa điểm, bắt giữ và trục xuất hàng nghìn người, đồng thời siết chặt khung pháp lý liên quan.
Về phía Wall Street Journal, trong bài báo ngày 19-4, tờ này đã dẫn các đánh giá từ giới chức Mỹ cho rằng quy mô ngành lừa đảo tại Campuchia là rất lớn, trích dẫn một báo cáo chuyên gia năm 2025 ước tính các đường dây này có thể tạo ra tới 19 tỉ USD mỗi năm.
Con số này tương đương gần 40% GDP của quốc gia, thậm chí vượt qua ngành may mặc - lĩnh vực hợp pháp lớn nhất của Phnom Penh.
Tổng thống Donald Trump ngày 5/4 thông báo quân đội Mỹ đã triển khai "chiến dịch tìm kiếm cứu nạn táo bạo nhất lịch sử", giải cứu thành công phi công thứ hai trên chiếc F-15E bị Iran bắn rơi trước đó hai ngày.
Howard Altman, biên tập viên của chuyên trang quân sự Mỹ War Zone, đánh giá đây là một trong những nhiệm vụ phức tạp và nguy hiểm nhất mà quân đội Mỹ từng thực hiện. "Chiến dịch đòi hỏi thiết lập trạm tiếp nhiên liệu và vũ khí nằm sâu trong lãnh thổ đối phương một cách nhanh chóng, cũng như bảo vệ kỹ càng để tập kết máy bay, thiết bị và binh sĩ", Altman cho biết.
Nhiệm vụ này thường giao cho các Phi đoàn Chiến thuật Đặc biệt (STS) trực thuộc Bộ tư lệnh Tác chiến Đặc biệt thuộc không quân Mỹ.
STS là những đơn vị tích hợp lực lượng tác chiến đường không và mặt đất, với thành phần gồm sĩ quan điều phối chiến trường, lính tìm kiếm cứu nạn và trinh sát đặc nhiệm. Họ có khả năng thiết lập sân bay dã chiến, điều phối không lưu, tiến hành giải cứu và yểm trợ hỏa lực tầm gần ở sâu trong phòng tuyến đối phương.
Kyle Rempfer, cựu thành viên STS từng tham chiến tại Afghanistan và Iraq, cho biết ngay khi nhận tin có máy bay rơi trong khu vực đối phương kiểm soát, các đơn vị đặc nhiệm không quân Mỹ sẽ truy vấn thông tin đã có về các điểm triển khai tiềm năng.
"Trong trường hợp này, có thể họ đã đánh giá khả năng dùng đường băng và sân bay thô sơ của Iran để làm khu vực đổ quân. Họ thu thập hình ảnh, dùng phần mềm để phác thảo kích thước đường băng và xác định loại máy bay có thể đáp xuống", Rempfer nói.
Địa điểm Mỹ triển khai chiến dịch giải cứu phi công F-15E nằm gần thành phố Isfahan, một trong những đô thị chủ chốt của Iran, do đó STS có thể đã khảo sát khu vực này từ trước. Quân đội Mỹ đã huy động hai máy bay vận tải đặc nhiệm MC-130J Commando II, có thể hoạt động trên đường băng nông nghiệp dành cho máy bay phun thuốc trừ sâu, theo Rempfer.
"Quân đội Mỹ có thể triển khai sân bay dã chiến rất nhanh. Mọi thứ đều được chuẩn bị từ trước, ngay cả bên trong chiếc MC-130J. Các trực thăng AH-6 được bốc dỡ và sẵn sàng cất cánh chỉ sau vài phút, thay vì vài giờ. Đơn vị tại sân bay dã chiến sẽ bảo vệ vị trí và duy trì liên lạc với tất cả máy bay trong khu vực", Rempfer giải thích.
Các phi cơ Mỹ làm nhiệm vụ yểm trợ hỏa lực sẽ dùng cảm biến để giám sát toàn bộ tuyến đường dẫn tới sân bay dã chiến, sẵn sàng oanh tạc để tạo ra những hố lớn trên mặt đất nhằm ngăn đối phương tiếp cận hoặc trực tiếp không kích những mối đe dọa đến căn cứ.
"Lực lượng thiết lập bãi đáp nhiều khả năng là Đơn vị Kiểm soát Chiến đấu (CCT) thuộc Phi đoàn Chiến thuật Đặc biệt số 24", cựu quân nhân Mỹ cho hay.
Ảnh chụp từ vệ tinh và máy bay cho phép xác định địa điểm tiềm năng, song lực lượng Mỹ sẽ không nắm được mức độ chịu tải của nền đất tại đây cho tới khi trực tiếp có mặt ở thực địa.
Theo Rempfer, các binh sĩ CCT được huấn luyện để kiểm tra thực địa, dọn chướng ngại vật, theo dõi hoạt động đối phương rồi thiết lập sân bay dã chiến. "Họ dùng xe máy địa hình để kiểm tra nền đất và lắp đặt đèn dẫn hạ cánh, thiết bị này dùng tín hiệu hồng ngoại và chỉ có thể thấy được bằng kính nhìn đêm. Điều đó khiến dân địa phương rất khó phát hiện", ông nói.
CCT sẽ được các đội đặc nhiệm như SEAL và Delta bảo vệ, đồng thời có khả năng điều phối máy bay trong khu vực để tấn công mục tiêu khi cần thiết.
Nhiệm vụ giải cứu phi công cũng đòi hỏi hoạt động tiếp liệu trên không trong điều kiện đêm tối, đồng thời hạn chế tối đa liên lạc vô tuyến để tránh đối phương nghe trộm hoặc định vị được đài thu phát sóng.
Về vụ hai máy bay MC-130J gặp sự cố, nghi là mắc kẹt trong cát và không thể cất cánh, Rempfer cho rằng đường băng sân bay dã chiến ở Iran không đáp ứng được yêu cầu của dòng Commando II hoặc không được bảo trì, do địa điểm này nằm ở khu vực xa xôi hẻo lánh và khắc nghiệt.
Reuters dẫn lời quan chức Mỹ giấu tên cho biết các đơn vị đặc nhiệm đã phải phá hủy 6 máy bay, gồm hai vận tải cơ MC-130J và 4 trực thăng, trước khi rời đi để ngăn chúng rơi vào tay Iran.
Rempfer nhận định lực lượng Mỹ đã giành được yếu tố bất ngờ trong chiến dịch này, khiến Iran không kịp điều động pháo binh hay máy bay không người lái (UAV) để đối phó.
"Mối đe dọa lớn nhất là cảnh sát địa phương và dân thường tình cờ phát hiện sân bay dã chiến. Khi chiến dịch diễn ra, tiếng ồn từ đây có thể thu hút nhiều sự chú ý và các đội đặc nhiệm Iran có thể ập tới, mang theo vũ khí cá nhân, súng cối và cả tên lửa phòng không vác vai", ông nói.