Chiều 3/4 – một ngày sau khi vụ việc lan truyền – hình ảnh quán cà phê tại phường Nhiêu Lộc (TPHCM) đóng cửa, không đón khách, bên trong tắt đèn và vắng nhân viên khiến nhiều người xôn xao, cho rằng quán “đóng cửa vì áp lực dư luận”.
Tuy nhiên, theo ghi nhận của phóng viên Dân trí, quán không đóng cửa mà chỉ mở muộn hơn thường lệ. Phía quán cho biết do nhân viên chủ yếu là sinh viên, bận lịch học nên sáng 3/4 không thể vận hành như thường ngày, thay vào đó quán bắt đầu đón khách từ khoảng 13h.
Trao đổi với phóng viên, anh Gia Bảo – nhân viên quán – cho biết việc điều chỉnh giờ mở cửa thỉnh thoảng vẫn xảy ra.
“Thông thường nếu nhân viên bận, chủ quán sẽ trực tiếp mở cửa. Trường hợp tất cả đều vướng lịch thì quán sẽ mở trễ. Những tình huống như vậy không phải hiếm nên chúng tôi cũng không thông báo trước”, anh nói.
Theo anh Bảo, sau ồn ào liên quan đến việc phụ thu khách, hoạt động của quán vẫn diễn ra bình thường, lượng khách không có biến động đáng kể.
Anh Bảo cũng chính là người trực tiếp phục vụ khách trong vụ việc ngày 1/4. “Thực tế nhóm khách vẫn gọi nước, “mỗi người một ly”, chứ không phải chỉ một ly duy nhất như một số thông tin lan truyền.
Tuy nhiên, nhóm này lưu lại quán trong thời gian dài, khoảng 10 tiếng, chiếm dụng không gian quán (kéo ghế lại để nằm) và có mang đồ ăn từ bên ngoài vào sử dụng.
Việc khách mang đồ ăn ngoài vào là có, đồng thời họ cũng ngồi khá lâu. Khi đó, chúng tôi đã đề nghị khách gọi thêm nước hoặc chấp nhận phụ thu, chứ không phải ngay từ đầu đã áp dụng phụ thu luôn”, anh Bảo chia sẻ.
Cũng theo nhân viên này, chính sách phụ thu đã được quán áp dụng từ trước, song đây là trường hợp hiếm khi khách ở lại quá lâu nên tình huống phát sinh ngoài dự kiến.
“Thông thường chúng tôi nhắc nhở khách về giờ lưu lại quán là bởi vì quán cũng thường xuyên cho thuê trọn không gian để làm việc, họp, ghi hình hay chụp ảnh…”, anh Bảo nói.
Liên quan đến việc đăng tải hình ảnh khách lên mạng xã hội, đại diện quán cho biết mục đích ban đầu là “lấy ý kiến đa chiều” từ cộng đồng, không nhằm công kích cá nhân. Tuy nhiên, sau khi nhận góp ý, quán đã gỡ bỏ nội dung.
“Chúng tôi chỉ muốn tham khảo ý kiến từ những người cùng ngành. Khi nhận phản hồi rằng không nên sử dụng hình ảnh khách, quán đã tiếp thu và gỡ xuống”, anh Bảo nói.
Dân mạng chia phe vụ “ngồi 10 tiếng”
Trước đó, vụ việc xuất phát từ việc một nhóm khách sử dụng không gian quán để học tập, làm việc trong khoảng 10 tiếng, đồng thời mang theo đồ ăn từ bên ngoài. Khi khách thanh toán, quán tiến hành phụ thu 40.000 đồng mỗi người.
Nhóm khách cho rằng không được thông báo trước về khoản phí này nên không đồng tình và để lại đánh giá 1 sao, khiến sự việc lan rộng trên mạng xã hội. Tuy nhiên, điều khiến vụ việc thực sự bùng nổ không chỉ nằm ở cách xử lý của quán, mà còn ở làn sóng tranh cãi dữ dội trên mạng xã hội ngay sau đó.
Chỉ trong vòng 24 giờ, quán nhận về hàng loạt đánh giá, hầu hết là 1 sao và 5 sao, trên các nền tảng trực tuyến. Các ý kiến chia thành hai luồng trái chiều.
Một bên để lại đánh giá tích cực nhằm “an ủi” quán, đồng thời chỉ trích nhóm khách vì mang đồ ăn từ bên ngoài và sử dụng không gian quá lâu. Nhiều bình luận nêu thẳng: “Mang đồ ăn ngoài vào là sai rồi”, hay “Kê ghế nằm, chiếm chỗ trong quán suốt nhiều giờ như vậy thì khó chấp nhận”.
Ở chiều ngược lại, không ít ý kiến bày tỏ sự đồng tình với hai vị khách, cho rằng quán thiếu minh bạch khi không thông báo trước về khoản phụ thu. Một số người cũng phản ứng việc đăng tải hình ảnh khách khi chưa xin phép, cho rằng “đưa ảnh khách lên mạng mà chưa được đồng ý là không đúng”.
Thực tế, tình trạng khách sử dụng quán cà phê như không gian làm việc không còn hiếm gặp. Những quán có không gian rộng, yên tĩnh, wifi mạnh thường trở thành điểm đến quen thuộc của sinh viên, người làm việc từ xa.
Tuy nhiên, điều này cũng đặt ra bài toán cho chủ quán trong việc cân bằng giữa trải nghiệm khách hàng và hiệu quả kinh doanh.
Việc khách ngồi lâu nhưng chi tiêu thấp có thể ảnh hưởng đến doanh thu và khả năng xoay vòng chỗ ngồi. Ngược lại, nếu áp dụng phụ thu hoặc quy định thời gian mà không thông báo rõ ràng từ đầu, cơ sở kinh doanh cũng dễ vấp phải phản ứng tiêu cực từ phía khách hàng.
Điều này thể hiện qua mức độ quan tâm mạnh mẽ trên các nền tảng mạng xã hội, cũng như sự tăng trưởng đáng kể của ngành du lịch trong những năm gần đây.
Theo số liệu của Cục Du lịch quốc gia Việt Nam (VNAT), doanh thu du lịch của Việt Nam đã tăng nhanh trong nhiều thập kỷ, từ 1,34 tỉ đồng năm 1990 lên 355.000 tỉ đồng năm 2010 và đạt khoảng 840.000 tỉ đồng (tương đương 40,6 tỉ đô la Singapore) vào năm 2024.
Sau đại dịch COVID-19, Việt Nam cũng nổi lên là thị trường phục hồi du lịch nhanh nhất khu vực Đông Nam Á, với lượng khách quốc tế đạt khoảng 98% so với mức trước dịch năm 2019.
Giới chuyên gia cho rằng các yếu tố nền tảng như môi trường chính trị ổn định, hệ thống giáo dục chất lượng và cơ sở hạ tầng ngày càng được cải thiện đã góp phần tạo động lực tăng trưởng lâu dài.
Ông Gareth Leather, nhà kinh tế cấp cao về châu Á tại công ty kinh tế vĩ mô toàn cầu Capital Economics ở London, đánh giá những yếu tố này đã giúp Việt Nam duy trì đà phát triển ổn định trong nhiều năm qua và tiếp tục củng cố vị thế trên bản đồ du lịch khu vực.
Hiện Việt Nam thu hút du khách quốc tế nhờ sự kết hợp giữa bề dày lịch sử, cảnh quan thiên nhiên đa dạng và chi phí hợp lý. Văn hóa đường phố, ẩm thực và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, làm đẹp với giá cả phải chăng đang ngày càng thu hút nhóm du khách trẻ từ Singapore và các nước trong khu vực.
Nadia Lim, 25 tuổi, chuyên viên tiếp thị truyền thông trên mạng xã hội, đã đến TP.HCM 2 lần chỉ trong 6 tháng. Cô chia sẻ: "Đối với người Singapore, đây là một nơi dễ dàng để đi du lịch. Giá cả cũng tốt và tôi cảm thấy mọi người rất thích mua sắm và ăn uống ở Việt Nam".
Triển vọng tăng trưởng của ngành du lịch Việt Nam trong những năm tới được đánh giá tích cực. Chính phủ đặt mục tiêu đón khoảng 50 triệu lượt khách quốc tế vào năm 2030. Song song với đó, nhiều tập đoàn khách sạn quốc tế đã và đang mở rộng hoạt động tại Việt Nam. Các doanh nghiệp trong lĩnh vực lưu trú cho rằng Việt Nam sở hữu sự kết hợp giữa nhu cầu du lịch tăng cao, mức sống trong nước cải thiện và khả năng kết nối ngày càng thuận lợi.
Bên cạnh đó, các dự án quy mô lớn tiếp tục được triển khai nhằm nâng cao năng lực phục vụ du khách. Nhiều tập đoàn quốc tế đang hợp tác phát triển các khu nghỉ dưỡng, khách sạn tại các điểm đến trọng điểm như Phú Quốc và Vũng Tàu, góp phần mở rộng nguồn cung phòng trong những năm tới.
Tại các khu vực có lợi thế về cảnh quan như miền Bắc và miền Trung, xu hướng du lịch chăm sóc sức khỏe cũng đang phát triển, với sự tham gia của các thương hiệu khách sạn quốc tế như Melia Hotels International và Hilton Hotels & Resorts.
Nhu cầu này được thúc đẩy nhờ việc cải thiện kết nối hàng không, khi nhiều đường bay mới được mở, giúp tăng khả năng tiếp cận của du khách quốc tế. Theo số liệu thống kê của VNAT, năm 2025, lượng khách du lịch từ Singapore tăng 15,5% so với năm trước.
Các tuyến bay mới được khai trương trong những năm gần đây đã góp phần tăng khả năng tiếp cận. Ví dụ, hãng hàng không giá rẻ Scoot bắt đầu bay đến Phú Quốc vào tháng 12-2024, tiếp theo là Nha Trang, một thành phố biển ở miền Nam Việt Nam, vào tháng 11-2025.
Tuy nhiên, một số yếu tố rủi ro vẫn tồn tại. Các chuyên gia cảnh báo căng thẳng địa chính trị và biến động giá năng lượng có thể ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế toàn cầu, qua đó tác động đến nhu cầu du lịch. Trong bối cảnh chi phí gia tăng, du khách có xu hướng nhạy cảm hơn về giá cả, có thể làm giảm mức chi tiêu cho du lịch.
Dù vậy, triển vọng tổng thể của ngành du lịch Việt Nam vẫn được đánh giá khả quan. Theo VNAT, Việt Nam ghi nhận mức tăng trưởng du lịch cao nhất trong quý đầu tiên của năm 2026 với 6,76 triệu lượt khách quốc tế, tăng 12,4% so với cùng kỳ năm ngoái. Các thị trường trọng điểm như Trung Quốc, Hàn Quốc và Đài Loan (Trung Quốc) tiếp tục đóng vai trò động lực chính thúc đẩy nhu cầu.
Cái “về” ấy là trở về cội nguồn - về với gia đình, quê hương, là dịp tưởng nhớ tổ tiên. Người ta đón tết lúc nông nhàn, khi đã giải quyết hết các công việc liên quan đến nhà nông. Tết còn là làm mới về mặt tâm linh, người ta dọn nhà, trả nợ, gác lại chuyện buồn, chúc nhau “vạn sự như ý”. Tết cũng là bản sắc văn hóa Á Đông, lịch âm, mâm ngũ quả, bánh chưng, câu đối đỏ, pháo hoa… vừa mang yếu tố tâm linh gắn với nông nghiệp lúa nước, vừa thể hiện triết lý âm dương ngũ hành.
Những năm gần đây, có một số nhà nghiên cứu hoặc doanh nhân đề xuất bỏ tết âm lịch hoặc gộp hai tết âm - dương lại làm một cho phù hợp với hội nhập và tiết kiệm chi phí xã hội.
Họ dẫn chứng Nhật Bản từ thời Minh Trị Thiên Hoàng 1873 đã bỏ tết âm lịch, chuyển sang tết dương lịch với mục tiêu hiện đại hóa đất nước. Thế nhưng, ở Việt Nam đề xuất này bị phản ứng dữ dội, bởi vì bỏ tết âm chẳng khác nào cắt bỏ hiện tại với truyền thống bao đời.
Để dung hòa, một số người đề nghị không bỏ tết âm mà cải cách nghỉ tết. Ví dụ, rút ngắn thời gian nghỉ để tránh đình trệ kinh tế, hay tổ chức một số hoạt động văn hóa tết dương cho giới trẻ đô thị. Cái này thì ít nhiều ta đã làm, lễ Giáng sinh không chỉ người theo đạo mà giới trẻ ở các thành phố lớn nô nức đến nhà thờ, dù họ không phải là tín đồ công giáo.
Lại nói, năm 1868, Thiên Hoàng Minh Trị tiến hành cuộc duy tân từ lịch âm chuyển sang lịch dương để đồng bộ với phương Tây trong thương mại, ngoại giao và hành chính. Ngày 9.11.1872, Nhật Bản chính thức áp dụng lịch dương, chỉ hơn một tháng sau, tết dương đầu tiên đã diễn ra (1.1.1873), tết âm bị bãi bỏ hoàn toàn.
Vì sao họ làm được gọn nhẹ như vậy? Có ba lý do: một là nhà nước tập trung quyền lực tuyệt đối, hai là tinh thần vì nước và khát vọng hiện đại hóa, văn hóa Nhật vốn là thực dụng và kỷ luật cao. Tết dương họ vẫn làm bánh mochi, gửi thiệp năm mới… Lúc đầu, dân cũng tiếc nuối, nhất là nông dân, nhưng bị thuyết phục ăn tết cùng thế giới để Nhật không bị tụt hậu. Kết quả, Nhật hiện là nước duy nhất Đông Á hoàn toàn bỏ tết âm, trong khi Trung Quốc, Việt Nam, Hàn Quốc, Singapore… đều giữ.
Có người cho rằng, vì Nhật có vua, ai mà dám chống lệnh vua. Đúng vậy, vua Minh Trị là biểu tượng tuyệt đối của quốc gia, và sau lưng vua là một thế lực gồm các đại thần trẻ, canh tân, họ từng đi du học phương Tây và thấy rõ sự tụt hậu của Nhật. Trong thế kỷ 19, xã hội Nhật có một tâm lý đặc biệt, nếu việc gì giúp Nhật mạnh hơn thì dù đau cũng phải làm. Chính tinh thần kỷ luật tin vua và đặt lợi ích quốc gia lên trên lợi ích cá nhân đã khiến họ bỏ tết âm lịch một cách gọn nhẹ.
Liệu trong tương lai gần ta có bỏ được tết âm lịch không, đây là một câu hỏi rất khó trả lời. Có một lý do cần nhấn mạnh là tết âm lịch gắn liền với văn hóa lúa nước, việc thay đổi này sẽ làm đảo lộn rất nhiều, không chỉ thời gian mà cả công nghệ điều khiển cây trồng. Để đào, mai nở hoa là cả một kỹ thuật khó khăn phức tạp đối với nông dân như tuốt lá, hãm hoa theo thời tiết, nếu nở lệch nhịp thì coi như tết đến mà không có tết. Các gia đình không đủ thời gian để thăm họ hàng hai bên, bạn bè xa, hoặc đưa con cái đi chơi. Nói gọn lại thì rút tết âm là động đến truyền thống sum họp, một thứ giá trị không thể tính bằng GDP. Ta giữ Tết Nguyên đán không chỉ để hàng triệu Việt kiều trên thế giới có dịp về quê ăn tết, sum vầy. Và lại có cái lạ thì khách quốc tế cũng tìm đến, du lịch nước ta phát triển và hàng năm đem lại nguồn thu lớn, dân lại có công ăn việc làm, nhà nhà ấm no hạnh phúc trong kỷ nguyên vươn mình này.