Đây là mức xử phạt cao nhất đối với hành vi phá thai do lựa chọn giới tính, quy định tại Nghị định 90/2026 Chính phủ vừa ban hành. Nghị định này được cho là quy định xử phạt nghiêm khắc việc lựa chọn giới tính thai nhi, với các mức chế tài tăng dần tùy theo tính chất và mức độ vi phạm.
Cụ thể, người mang thai tự nguyện phá thai vì lý do lựa chọn giới tính có thể bị phạt từ 5 đến 7 triệu đồng. Trường hợp dụ dỗ, lôi kéo người mang thai thực hiện hành vi này, mức phạt tăng lên 7-10 triệu đồng.
Nếu hành vi mang tính ép buộc, mức xử phạt cao hơn. Người đe dọa, uy hiếp tinh thần để buộc phá thai vì lựa chọn giới tính bị phạt từ 10 đến 15 triệu đồng; còn sử dụng vũ lực sẽ bị phạt từ 15 đến 20 triệu đồng.
Các hành vi liên quan đến cung cấp hoặc hướng dẫn sử dụng thuốc, hóa chất để phá thai khi biết rõ mục đích lựa chọn giới tính có thể bị phạt từ 20 đến 25 triệu đồng. Mức phạt cao nhất, từ 25 đến 30 triệu đồng, áp dụng đối với người trực tiếp thực hiện hành vi phá thai trong trường hợp biết rõ lý do lựa chọn giới tính.
Các cá nhân, tổ chức vi phạm có thể chịu hình thức phạt bổ sung như tước quyền sử dụng giấy phép hoạt động hoặc chứng chỉ hành nghề từ 3 đến 12 tháng, tùy hành vi. Cơ sở kinh doanh dược có thể bị đình chỉ hoạt động từ một đến ba tháng nếu vi phạm quy định liên quan.
Các quy định này nhằm tăng cường kiểm soát, ngăn chặn tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh, đồng thời bảo vệ quyền và giá trị nhân văn trong chăm sóc sức khỏe sinh sản.
Bên cạnh đó, các hành vi liên quan đến chẩn đoán, tiết lộ và can thiệp nhằm lựa chọn giới tính thai nhi cũng bị kiểm soát chặt chẽ. Nhiều mức xử phạt được quy định nhằm ngăn chặn tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh.
Cụ thể, hành vi bói toán để xác định giới tính thai nhi có thể bị phạt từ 5 đến 7 triệu đồng. Các hình thức chẩn đoán như bắt mạch, siêu âm, xét nghiệm để tiết lộ hoặc cung cấp thông tin về giới tính thai nhi nếu không thuộc trường hợp pháp luật cho phép, bị xử phạt nặng hơn, từ 7 đến 15 triệu đồng. Đồng thời, người vi phạm có thể bị tước quyền sử dụng giấy phép hoạt động hoặc chứng chỉ hành nghề từ 1 đến 3 tháng.
Các hành vi như hướng dẫn, chỉ định sử dụng thuốc, thực phẩm chức năng hoặc các chế phẩm nhằm tác động đến quá trình thụ thai để lựa chọn giới tính; cung cấp các sản phẩm, dụng cụ phục vụ mục đích này; hoặc nghiên cứu phương pháp lựa chọn giới tính trái phép có thể bị xử phạt từ 20 đến 25 triệu đồng.
Thực tế, tỷ lệ mất cân bằng giới tính khi sinh ở nước ta ngày càng nghiêm trọng. Chính phủ đã triển khai nhiều chính sách và giải pháp để kiểm soát nhưng tình trạng chưa được khắc phục. Từ năm 2021 đến 2024, tỷ số này lần lượt là 109,5; 109,7 và 110,7 bé trai trên 100 bé gái, liên tục vượt xa mức tự nhiên. Tình trạng mất cân bằng chủ yếu tập trung tại các tỉnh phía Bắc, đặc biệt vùng Đồng bằng sông Hồng.
Bác sĩ Mai Xuân Phương, Phó Vụ trưởng Truyền thông – Giáo dục, Tổng Cục Dân số, nay là Cục Dân số (Bộ Y tế), cho hay nhiều người Việt vẫn mang tâm lý chuộng con trai trong bối cảnh mức sinh giảm mạnh, hiện chỉ còn 1,91 con/phụ nữ trong khi con số lý tưởng là 2,1. Nhiều gia đình, khi chỉ sinh một con, đã tìm mọi cách để lựa chọn giới tính thai nhi.
Ngoài ra, văn hóa Nho giáo với quan niệm cần con trai để nối dõi tông đường, thờ cúng tổ tiên, cùng sự đánh giá thấp vai trò của nữ giới trong gia đình, xã hội, càng làm gia tăng chênh lệch giới tính. Việc tiếp cận dễ dàng các dịch vụ y tế để chẩn đoán hoặc lựa chọn giới tính thai nhi cũng dẫn đến tình trạng nạo phá thai vì lý do giới tính.
Việt Nam đặt mục tiêu đưa tỷ số giới tính khi sinh về mức cân bằng tự nhiên, dưới 109 bé trai/100 bé gái vào năm 2030. Các chuyên gia cho rằng để đạt mục tiêu này cần thay đổi nhận thức và hành vi của người dân, khuyến khích sinh con theo quy luật tự nhiên.
Đồng thời, cần xây dựng chính sách hỗ trợ nâng cao vai trò, vị thế của phụ nữ và trẻ em gái trong gia đình, cộng đồng, xã hội. Bên cạnh đó, cần thực thi nghiêm các quy định pháp luật về kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh.
Trong thực tế, nhiều người lựa chọn ăn kiêng khắc nghiệt, cắt giảm calo quá mức hoặc áp dụng những cách giảm cân nhanh. Thế nhưng, họ có thể chưa hiểu rõ tác động của chúng lên cơ thể, theo chuyên trang sức khỏe Healthline (Mỹ).
Những thay đổi này có thể khiến cơ thể rơi vào trạng thái thiếu hụt dinh dưỡng, rối loạn chuyển hóa và ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe lâu dài. Thay vì chỉ tập trung vào cân nặng, mọi người cần nhận diện những dấu hiệu cảnh báo sau:
Một dấu hiệu rất thường gặp là cảm giác mệt mỏi kéo dài dù không vận động nhiều. Khi bị cắt giảm quá nhiều calo hoặc thiếu các dưỡng chất quan trọng như tinh bột, chất béo và protein, cơ thể sẽ không đủ năng lượng để duy trì các hoạt động cơ bản.
Lúc này, cơ thể buộc phải huy động dưỡng chất từ cơ bắp, mỡ và những mô dự trữ khác trong cơ thể. Hệ quả là gây mệt mỏi, chóng mặt, giảm tập trung, suy nhược.
Những thay đổi như tóc rụng nhiều, da khô, móng dễ gãy thường phản ánh tình trạng cơ thể thiếu chất. Khi ăn kiêng quá mức, cơ thể sẽ ưu tiên sử dụng dưỡng chất cho các cơ quan sống còn như tim, não và phổi thay vì duy trì tóc, da và móng.
Protein, vitamin B, sắt và kẽm là những thành phần quan trọng giúp duy trì sự phát triển của tóc và móng. Khi thiếu những chất này, quá trình tái tạo tế bào bị gián đoạn, khiến tóc yếu và dễ rụng, da trở nên xỉn màu và mất độ đàn hồi. Nếu giảm cân nhưng nhận thấy ngoại hình xuống sắc rõ rệt thì đó là dấu hiệu cơ thể đang thiếu hụt dinh dưỡng.
Hệ tiêu hóa phản ứng rất nhanh với những thay đổi trong chế độ ăn. Khi một người cắt giảm tinh bột hoặc rau củ, lượng chất xơ sẽ giảm đáng kể và gây táo bón. Ngược lại, nếu ăn quá nhiều protein hoặc chất béo, hệ tiêu hóa có thể bị quá tải, gây đầy bụng hoặc khó tiêu.
Bên cạnh đó, chế độ ăn không cân đối còn làm thay đổi hệ vi sinh đường ruột. Tình trạng này dẫn đến các triệu chứng như chướng bụng, tiêu chảy hoặc khó tiêu kéo dài. Đây là biểu hiện cho thấy chế độ ăn chưa phù hợp với nhu cầu sinh lý của cơ thể, theo Healthline.
PGS-TS, bác sĩ Lương Tuấn Khanh, Giám đốc Trung tâm Phục hồi chức năng, Bệnh viện Bạch Mai cho biết, trung tâm tiếp nhận nhiều người bệnh đến khám, điều trị trong tình trạng đau do viêm quanh khớp vai.
Nguyên nhân viêm quanh khớp vai do tổn thương các cấu trúc mô mềm quanh khớp như gân, cơ, dây chằng, bao khớp, không liên quan trực tiếp đến tổn thương xương hay sụn khớp, chủ yếu ở phần mô mềm, nhưng lại gây ảnh hưởng rất lớn đến chức năng vận động.
Có 4 thể bệnh thường gặp, trong đó, thể đơn thuần thường do bệnh lý gân cơ; thể đau vai cấp; thể đông cứng do viêm dính, co thắt bao khớp, bao khớp dày, dẫn đến giảm vận động khớp ổ chảo - cánh tay; thể giả liệt do đứt gân cơ trên gai. Trong thực tế, các thể trên có thể kết hợp với nhau.
Các tổn thương thường gặp nhất trong viêm quanh khớp vai là tổn thương các gân cơ xoay gân cơ nhị đầu và bao thanh mạc dưới mỏm cùng vai.
Bệnh thường xuất phát từ 3 cơ chế chính: thoái hóa gân và chóp xoay theo tuổi; viêm bao hoạt dịch, viêm gân do vận động căng giãn gân cơ khớp vai lặp lại; co rút bao khớp (đông cứng khớp vai) gây hạn chế vận động.
Ngoài ra, những yếu tố như: lao động tay quá đầu (các hoạt động sử dụng cánh tay ở vị trí cao hơn vai, quá tầm đầu trong thời gian dài, hoặc lặp lại); chơi thể thao lặp đi lặp lại (tennis, golf, pickleball…), chấn thương hoặc phẫu thuật vùng vai, ít vận động hoặc bất động kéo dài đều có thể thúc đẩy bệnh tiến triển.
Về điều trị viêm quanh khớp vai, bác sĩ Khanh chia sẻ, nguyên tắc điều trị gồm 3 yếu tố chính: giảm đau, chống viêm; phục hồi tầm vận động khớp vai tăng sức mạnh cơ và ổn định khớp.
Trong đó, phục hồi chức năng và tập vận động là nền tảng quan trọng nhất, quyết định kết quả lâu dài, giúp người bệnh quay trở lại với các chức năng sinh hoạt bình thường.
Bệnh nhân cần được điều trị kết hợp: vật lý trị liệu (điện trị liệu và nhiệt trị liệu như: siêu âm trị liệu, điện xung, laser công suất cao, sóng xung kích, sóng ngắn; chương trình tập vận động trị liệu theo phác đồ cá thể hóa) và thuốc giảm đau, chống viêm khi cần.
"Điểm mấu chốt là không chỉ điều trị triệu chứng mà phục hồi chức năng vận động thực sự cho người bệnh", bác sĩ Khanh cho biết.
"Do triệu chứng ban đầu khá nhẹ, người bệnh thường nghĩ là đau cơ thông thường nên không đi khám. Ngoài ra, nhiều người ngại vận động vì sợ đau, điều này lại khiến khớp càng cứng hơn, tạo thành vòng xoắn bệnh lý", bác sĩ Khanh lưu ý.
Thạc sĩ vật lý trị liệu Nguyễn Thành Nam (Trung tâm Phục hồi chức năng, Bệnh viện Bạch Mai), chia sẻ thêm khi tham gia điều trị người bệnh thường sợ đau nên không muốn trị liệu, tập vận động, ngại hoặc bỏ dở tập giữa chừng, khiến bệnh kéo dài hoặc nặng hơn.
Với mỗi người, khi áp dụng vật lý trị liệu cũng như tập vận động phục hồi chức năng, kỹ thuật viên sẽ cài đặt, điều chỉnh các phương pháp vật lý trị liệu, thiết kế bài tập phù hợp với từng giai đoạn và theo dõi phản ứng của người bệnh, điều chỉnh cường độ tập.
Người bệnh cần tập vận động đúng hướng dẫn và duy trì luyện tập đều đặn; không bỏ tập giữa chừng, tập quá sức; không tự ý tập theo mạng.
Hạch to bằng ngón tay cái xuất hiện ở vùng cổ bên phải, không đau, anh dùng nhang đang cháy để châm đốt trực tiếp vào vùng da có hạch. Hạch không tan mà vùng da cổ bị bỏng để lại nhiều vết sẹo rỗ lỗ chỗ. Hạch ngày càng phình to, biến dạng vùng cổ, anh đến Bệnh viện Ung bướu TP HCM kiểm tra.
TS.BS.CK2 Lâm Đức Hoàng, Trưởng khoa Xạ trị Đầu cổ, Bệnh viện Ung Bướu TP HCM, cho biết kết quả nội soi vòm hầu bệnh nhân phát hiện khối u sùi dễ chảy máu đã phát triển bít tắc hoàn toàn lỗ mũi trái. Hạch cổ xuất hiện ở cả hai bên (trái lớn hơn phải), dính chặt thành một khối to 6-7 cm.
Các kết quả chẩn đoán hình ảnh chuyên sâu cho thấy bệnh đã tiến triển nặng. CT scan ghi nhận khối choán chỗ ở vòm hầu đã xâm lấn lên nền sọ giữa. Xạ hình xương phát hiện các tổn thương hủy xương vùng nền sọ. Xét nghiệm định lượng virus EBV - tác nhân liên quan mật thiết đến ung thư vòm hầu, tăng vọt.
Bác sĩ chẩn đoán bệnh nhân mắc ung thư vòm hầu giai đoạn cuối. Khối u đã lớn và xâm lấn phức tạp, bệnh nhân được hóa trị trước nhằm kiểm soát bệnh và thu nhỏ khối bướu.
Theo bác sĩ Hoàng, các triệu chứng ung thư vòm hầu thường không đặc hiệu, dễ nhầm với bệnh tai mũi họng thông thường nên nhiều người bỏ qua "thời gian vàng".
Ung thư vùng đầu cổ có tốc độ nhân đôi và phát triển rất nhanh so với nhiều bệnh lý khác, có thể diễn tiến tại chỗ, tại vùng và di căn xa chỉ trong một thời gian ngắn. Phát hiện và can thiệp sớm, cơ hội điều trị hiệu quả rất cao, có thể khỏi bệnh. Trì hoãn điều trị hoặc áp dụng phương pháp thiếu khoa học như đốt thuốc, đắp lá... có thể kích thích khối u phát triển nhanh, tăng nguy cơ di căn.
Ù tai thường là dấu hiệu sớm và hay gặp nhất của ung thư vòm hầu, kèm theo nghe kém một hoặc hai bên tai. Bệnh có thể gây nghẹt mũi, chảy dịch mũi lẫn máu, nhức đầu, đau mặt giống viêm xoang. Ngoài ra, người bệnh dễ bị chảy máu cam tái diễn, đôi khi dẫn đến thiếu máu mạn tính.
Bác sĩ khuyến cáo không áp dụng các phương pháp thiếu chứng cứ khoa học như đắp lá, châm cứu hay "đốt nhang" vào các khối u, hạch bất thường trên cơ thể. Điều này có thể kích thích tế bào ung thư phát triển nhanh hơn, gieo rắc ra mô lành xung quanh và thậm chí đẩy tế bào ung thư di căn xa theo đường máu.
Cần đi khám sớm khi có dấu hiệu như ù tai, nghẹt mũi kéo dài, chảy máu mũi hoặc hạch cổ to dần, ít đau. Hạch nghi ngờ ung thư thường trên một cm, cứng chắc, không đau, di động kém cần được kiểm tra kịp thời.