Thông tư 40 miễn một số khoản phí, lệ phí nhằm hỗ trợ sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực giao thông vận tải. Cụ thể miễn phí, lệ phí trong lĩnh vực hàng không (trừ phí thẩm định cấp giấy phép ra vào khu vực hạn chế tại cảng hàng không, sân bay) quy định tại biểu mức thu phí, lệ phí trong lĩnh vực hàng không ban hành kèm theo Thông tư số 193/2016 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí, lệ phí trong lĩnh vực hàng không.
Miễn phí, lệ phí hàng hải đối với tàu thuyền vào, rời khu vực hàng hải quy định tại chương III Thông tư số 261/2016 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về phí, lệ phí hàng hải và biểu mức thu phí, lệ phí hàng hải được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư 90/2019 và Thông tư 74/2021.
Miễn phí, lệ phí áp dụng tại cảng, bến thủy nội địa đối với phương tiện thủy nội địa hoạt động giữa các cảng, bến thủy nội địa của Việt Nam quy định tại khoản 1 điều 4 Thông tư 39/2026 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp phí, lệ phí áp dụng tại cảng, bến thủy nội địa.
Miễn phí sử dụng kết cấu hạ tầng đường sắt quốc gia do nhà nước đầu tư quy định tại điểm a khoản 1 điều 3 Thông tư số 11/2026 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp phí thuộc lĩnh vực đường sắt.
Thông tư 40 có hiệu lực thi hành từ ngày 7.4 đến 30.6. Từ ngày 1.7, các khoản phí, lệ phí quy định trên sẽ thực hiện hiện theo quy định tại các thông tư được viện dẫn và các văn bản sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế (nếu có).
Ngoài ra, không áp dụng mức thu phí thẩm định cấp chứng chỉ, giấy phép, giấy chứng nhận trong hoạt động hàng không dân dụng, phí đăng ký giao dịch bảo đảm đối với tàu bay, phí trình báo đường thủy nội địa đối với phương tiện thủy nội địa hoạt động giữa các cảng, bến thủy nội địa của Việt Nam tương ứng tại số thứ tự 3 và 10 điều 1 Thông tư số 64/2025 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định mức thu, miễn một số khoản phí, lệ phí nhằm hỗ trợ cho doanh nghiệp, người dân từ ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành đến hết ngày 30.6.
Sản lượng bán hàng các sản phẩm thép xây dựng, thép cuộn chất lượng cao, thép cuộn cán nóng và phôi thép của Hòa Phát cũng đạt 3 triệu tấn, tăng 26% so với cùng kỳ năm trước.
Trong đó, thép xây dựng, thép cuộn chất lượng cao ghi nhận 1,4 triệu tấn, tăng 20% so với cùng kỳ 2025 và tăng 8% so với quý cuối năm trước. Thép Hòa Phát duy trì thị phần số 1 Việt Nam với 36% và có mặt tại hơn 45 quốc gia, vùng lãnh thổ khắp năm châu lục trên thế giới.
Thép Hòa Phát được sử dụng rộng rãi trong các công trình trọng điểm, tiêu biểu như dự án mở rộng sân bay Tân Sơn Nhất, sân bay Phú Quốc, đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội, cao tốc Bắc - Nam, cao tốc Long Thành - Dầu Giây, cầu Mỹ Thuận 2, cầu đi bộ qua sông Sài Gòn, các dự án cầu mới qua sông Hồng (cầu Trần Hưng Đạo, Ngọc Hồi)...
Đối với thép cuộn cán nóng (HRC), sản lượng bán hàng đạt hơn 1,4 triệu tấn, tăng 48% so với quý đầu năm 2025. Hiện tại, sản lượng tiêu thụ HRC ở thị trường trong nước chiếm gần 80%, còn lại là xuất khẩu. Hòa Phát đã xuất khẩu HRC đến 20 quốc gia, vùng lãnh thổ tại châu Á, châu Âu, châu Mỹ, châu Phi.
Hòa Phát còn sản xuất và cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu nhiều loại sản phẩm chế biến sau thép như ống thép, tôn mạ, thép dự ứng lực các loại. Trong quý đầu năm, tập đoàn cung cấp 241.000 tấn ống thép, 106.000 tấn tôn mạ, tăng tương ứng 30% và 19% so với quý đầu năm 2025. Thép dự ứng lực, thép rút dây các loại đạt hơn 62.000 tấn, tăng 63% so với cùng kỳ năm trước.
Tập đoàn Hòa Phát hiện là nhà sản xuất thép lớn nhất Đông Nam Á với công suất 16 triệu tấn thép thô từ cuối năm 2026. Trong đó, trên 60% sản lượng là các loại thép chất lượng cao, phục vụ các ngành công nghiệp cơ khí chế tạo, sản xuất ô tô, đóng tàu, dầu khí, đồ gia dụng, kết cấu thép, năng lượng. Hiện tại, Hòa Phát là doanh nghiệp Việt Nam duy nhất đầu tư sản xuất được thép cuộn cán nóng HRC.
Hòa Phát đang quyết liệt triển khai dự án Nhà máy sản xuất thép ray và thép đặc biệt tại KKT Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi. Sau 3 tháng từ ngày khởi công, Nhà máy đã hoàn thành 35% tiến độ xây dựng, dự kiến bắt ra sản phẩm thép ray vào năm 2027, phục vụ các dự án đường sắt trọng điểm của Việt Nam và xuất khẩu ra thị trường quốc tế.
Theo đó, đối tượng rà soát, chuẩn hóa dữ liệu mã số thuế cá nhân gồm: các mã số thuế của cá nhân có quốc tịch Việt Nam và cá nhân có phát sinh thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân, là người phụ thuộc theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân.
Cá nhân có phát sinh nghĩa vụ thuế với ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật về thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước như: thuế sử dụng đất phi nông nghiệp; lệ phí trước bạ nhà đất, ô tô, xe máy...
Cá nhân đại diện hộ kinh doanh sử dụng mã số thuế 10 số được cấp trước thời điểm 1.7.2025 để kê khai các nghĩa vụ thuế của cá nhân đại diện hộ kinh doanh.
Về nội dung rà soát, người nộp thuế cập nhật đầy đủ, chính xác 3 thông tin vào dữ liệu của các mã số thuế thuộc phạm vi rà soát để đồng bộ với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, gồm: họ và tên; số căn cước công dân hoặc số định danh đối với cá nhân chưa có căn cước công dân; ngày, tháng, năm sinh của cá nhân.
Thuế TP.Hà Nội hướng dẫn người nộp thuế đổi thông tin đăng ký thuế theo phương thức điện tử như sau: cách 1, đăng nhập Cổng dịch vụ công quốc gia và làm theo hướng dẫn.
Cách 2, người nộp thuế là cá nhân chủ động rà soát, cập nhật thông tin cá nhân tại chức năng "Đăng ký thuế" => "Thay đổi thông tin đăng ký thuế" trên ứng dụng Etax Mobile.
Để được hoàn thuế thu nhập cá nhân tự động, Thuế TP.Hà Nội nêu rõ, thứ nhất, thông tin kê khai của người nộp thuế phải khớp đúng với thông tin tổng hợp quyết toán thuế của các cơ quan chi trả đã kê khai với cơ quan thuế.
Cụ thể, tổng thu nhập chịu thuế trên tờ khai khớp đúng với số liệu tổng hợp trong kỳ quyết toán; chỉ tiêu "Tổng số thuế đề nghị hoàn trả" nhỏ hơn hoặc bằng số liệu tổng hợp trong kỳ quyết toán thuế theo cơ sở dữ liệu quản lý thuế của ngành thuế tại thời điểm giải quyết hồ sơ; người nộp thuế không thay đổi chỉ tiêu trên tờ khai gợi ý; số căn cước công dân tồn tại duy nhất 1 mã số thuế.
Thứ hai, cơ quan chi trả đã nộp thuế thu nhập cá nhân thay cho người nộp thuế. Tất cả cơ quan chi trả của người nộp thuế không còn nợ trong kỳ đề nghị hoàn.
Cạnh đó, người nộp thuế đã liên kết tài khoản ngân hàng trên eTax Mobile. Số tài khoản ngân hàng khớp với số tài khoản đã được hệ thống ngân hàng gửi dữ liệu về cơ quan thuế. Cá nhân đã hoàn thành nghĩa vụ quyết toán thuế thu nhập cá nhân của các kỳ trước.
Thứ ba, tờ khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân không kèm theo hồ sơ giảm thuế do thiên tai, hỏa hoạn, bệnh hiểm nghèo.
Nếu xác định hồ sơ hoàn thuế không thuộc đối tượng và trường hợp được hoàn thuế tự động, hồ sơ sẽ chuyển về cho cán bộ thuế xử lý.
Trong kiến nghị vừa gửi đến Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng về một số chính sách quản lý đối với hoạt động kinh doanh vàng trang sức mỹ nghệ, Hiệp hội Kinh doanh vàng VN cho rằng đến nay chưa có văn bản, quy định nào của Chính phủ cũng như ngành chức năng hướng dẫn việc mua, huy động nguồn vàng trong nước để làm nguyên liệu cho sản xuất, chế tác vàng trang sức mỹ nghệ, gây lãng phí nguồn lực trong nước. Do đó, Hiệp hội này đề nghị Thủ tướng Chính phủ cho phép các doanh nghiệp (DN) sản xuất kinh doanh vàng trang sức được vay vàng trong dân với lãi suất thỏa thuận phù hợp với pháp luật dân sự. Kiến nghị này không nhận được sự ủng hộ của hầu hết chuyên gia kinh tế.
TS Cấn Văn Lực, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tiền tệ quốc gia, nói thẳng: không ai muốn quay trở lại chính sách vay mượn bằng vàng. Đây là một mặt hàng kinh doanh có điều kiện, liên quan trực tiếp đến ngoại hối và dự trữ quốc gia. Vì vậy, nhóm hàng này cần tiếp tục được quản lý chặt chẽ, đảm bảo phù hợp với mục tiêu kiểm soát rủi ro của nền kinh tế, kiên quyết chấm dứt hoàn toàn tình trạng vay mượn bằng vàng. Đây là kinh nghiệm quan trọng rút ra từ nhiều năm trước nhằm giảm thiểu rủi ro hệ thống và bảo vệ sự ổn định của thị trường tài chính. Ông Lực nhấn mạnh: chính sách cho phép vay mượn bằng vàng trước đây khiến nền kinh tế bị "vàng hóa", đã từng gây ra nhiều hệ lụy cho nền kinh tế. Khi Nghị định 24 được áp dụng, Chính phủ đã quyết tâm bỏ chính sách đó và đã đạt được hiệu quả.
"Còn mục đích huy động vốn vàng trong dân đưa vào nền kinh tế thì sẽ có những cách khác như quyết tâm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cao và ổn định kinh tế vĩ mô, gia tăng niềm tin cho người dân và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh. Việc minh bạch hóa thị trường và tạo ra các kênh đầu tư hấp dẫn khác là cực kỳ quan trọng. Khi đó người dân chuyển hướng đưa tiền, vàng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhiều hơn thay vì đầu cơ vàng. Song song, Chính phủ cần tạo thuận lợi hơn cho việc luân chuyển, thanh khoản thị trường vàng thông qua việc nghiên cứu phát hành chứng chỉ vàng, lập sàn giao dịch vàng... để thị trường vàng phát triển an toàn, nhanh chóng và hiệu quả hơn. Những giải pháp này sẽ giúp giảm bớt xu hướng tích trữ vàng vật chất trong dân, giảm áp lực lên nguồn cung vàng vật chất", TS Lực phân tích.
Cũng tỏ ra bất ngờ với đề xuất từ Hiệp hội Kinh doanh vàng VN, chuyên gia kinh tế, PGS-TS Đinh Trọng Thịnh cho rằng đề xuất này không phù hợp. Trong khi hệ thống ngân hàng (NH) có kiểm soát chặt thì không được phép huy động và cho vay bằng vàng, nếu cho phép các DN sản xuất kinh doanh vàng trang sức vay mượn vàng từ người dân thì sẽ tiềm ẩn rất nhiều vấn đề. "Đặt trường hợp một hay nhiều DN mất khả năng thanh toán vàng cho khách hàng thì sẽ ra sao? Nếu không kiểm soát tốt thì hiện tượng đầu cơ, lừa đảo và nguy cơ "vàng hóa " trong nền kinh tế có thể quay trở lại và từ đó sẽ ảnh hưởng đến chính sách tài chính tiền tệ, kiểm soát lạm phát. Vấn đề quan trọng là làm sao để người dân không tập trung hết tiền vào vàng mà có thể sử dụng tiền, vốn cho các hoạt động đầu tư sinh lợi như phát triển các thị trường hàng hóa, kênh đầu tư khác…", ông Thịnh nhấn mạnh.
Đồng quan điểm, TS Đinh Thế Hiển, Viện trưởng Viện Nghiên cứu tin học và kinh tế ứng dụng, phân tích: trước đây khi NH vẫn được phép huy động và cho vay bằng vàng thì đã phát sinh một số bất ổn cho thị trường tiền tệ nên mới có quy định ngừng hoạt động này. Giả sử cho DN vay vàng từ người dân theo đề xuất nêu trên, khi DN phải trả lãi suất và trả lại số lượng vàng đã vay bình thường. Ví dụ DN vay 50 lượng vàng miếng để chế biến thành vàng trang sức và bán ra thị trường, sau một thời gian sẽ thu tiền về và mua lại vàng trả nợ cho khách hàng. Nhưng trong trường hợp giá vàng biến động rất cao như năm 2024 - 2025 vừa qua, tăng đến 30 - 40% và thậm chí cao hơn nhiều thì số tiền DN bán vàng trang sức ra chưa chắc đã mua lại nổi 50 lượng vàng miếng thì việc thua lỗ là tất yếu. Vậy DN có thanh toán được nợ vàng hay không? Câu chuyện này có khi diễn ra ở nhiều DN kinh doanh vàng trang sức cùng lúc thì sẽ xuất hiện đổ vỡ dây chuyền. Đó là chưa kể thậm chí có tình trạng vay xong và cố tình chây ì, không trả nợ. Trước đây thực tế đã xảy ra nhiều tiệm vàng vay nợ bằng vàng nhưng sau đó vì giá tăng cao, vì thua lỗ… đã không trả được nợ, gây ra sự náo loạn trên thị trường.
Do vậy TS Đinh Thế Hiển nhấn mạnh: chỉ cần một đốm lửa nhỏ là sẽ lan sang cả thị trường vàng, gây ra hệ lụy cho thị trường tài chính và cả nền kinh tế. Vì vậy không thể có chuyện cho phép DN vay vàng từ người dân. Để khuyến khích thu hút dòng vốn từ người dân chảy vào nền kinh tế thì cần tạo ra môi trường đầu tư kinh doanh ổn định, các kênh đầu tư khác phát triển thì dòng vốn sẽ tự động lựa chọn kênh đầu tư hiệu quả hơn tích trữ vàng.