Cải ngồng, còn gọi là cải làn hay cải rổ, là loại rau không xa lạ với nhiều gia đình Việt. Phần thân non giòn, lá xanh, vị ngọt xen chút đắng nhẹ khiến loại rau này dễ kết hợp với nhiều món ăn, từ xào tỏi, luộc chấm nước mắm cho tới nấu canh hay xào cùng thịt bò.
Ở nhiều vùng trồng rau, cải ngồng còn được ưa chuộng vì thời gian sinh trưởng ngắn, chỉ sau gần 2 tháng đã có thể cho thu hoạch lứa đầu.
Trong danh sách 18 loại rau tốt nhất thế giới được CDC Mỹ công nhận, rau cải ngồng xếp ở vị trí thứ 10 với điểm dinh dưỡng 62,49.
Theo nghiên cứu của CDC Mỹ, nhiều loại rau thuộc nhóm rau lá xanh và họ cải nằm trong nhóm thực phẩm có mật độ dinh dưỡng cao, tức là cung cấp lượng dưỡng chất đáng kể so với năng lượng mà chúng mang lại.
Theo Harvard T.H. Chan School of Public Health, các loại rau họ cải như cải xoăn, bắp cải, cải Brussels, bông cải xanh và nhiều loại cải xanh khác từ lâu đã là một phần quan trọng của chế độ ăn lành mạnh, có liên quan đến nguy cơ mắc bệnh tim mạch và đột quỵ thấp hơn.
Các nhà khoa học cũng tiếp tục nghiên cứu vai trò của nhóm rau này trong phòng ngừa ung thư nhờ các hợp chất thực vật đặc trưng mà chúng chứa.
Trong bữa cơm thường ngày, cải ngồng có lợi thế dễ ăn, ít năng lượng và có thể giúp bữa ăn cân bằng hơn. Những người muốn kiểm soát cân nặng thường được khuyên tăng lượng rau trong khẩu phần vì rau giúp bữa ăn có thể tích lớn hơn nhưng không làm năng lượng tăng quá nhiều.
Với cải ngồng, cảm giác giòn, ngọt nhẹ cũng khiến món ăn này phù hợp khi đi kèm các món đạm hoặc món có vị đậm.
Theo Dịch vụ Y tế Quốc gia Anh, vitamin K có nhiều trong các loại rau lá xanh như bông cải xanh, rau bina và bắp cải. Điều này lý giải vì sao các loại rau xanh thường xuyên được khuyến khích xuất hiện trong bữa ăn hàng ngày, nhất là ở những người cần duy trì chế độ ăn lành mạnh lâu dài.
Cải ngồng là nguồn cung cấp vitamin A dồi dào. Đây là dưỡng chất quan trọng giúp bảo vệ thị lực. Việc bổ sung loại rau này thường xuyên có thể góp phần phòng ngừa các bệnh về mắt như đục thủy tinh thể, thoái hóa điểm vàng hay tăng nhãn áp.
Bên cạnh đó, cải ngồng không chỉ giàu kali, giúp điều hòa huyết áp, mà còn chứa nhiều sắt, thành phần cần thiết cho quá trình tạo hồng cầu. Nhờ vậy, loại rau này có thể hỗ trợ phòng ngừa tình trạng thiếu máu. Để tăng hiệu quả hấp thu sắt, nên kết hợp cải ngồng với các thực phẩm giàu vitamin C hoặc nguồn đạm phù hợp trong bữa ăn.
Theo Quỹ Nghiên cứu Ung thư Mỹ, không có một thực phẩm đơn lẻ nào đủ khả năng bảo vệ cơ thể khỏi ung thư hoặc bệnh mạn tính. Giá trị thực sự nằm ở cả mô hình ăn uống, tức ăn đa dạng rau quả, ngũ cốc nguyên hạt, thực phẩm nguồn gốc thực vật và hạn chế đồ chế biến sẵn.
Nói cách khác, cải ngồng là một mắt xích tốt trong chế độ ăn lành mạnh, chứ không phải “thần dược” đứng riêng lẻ.
Đó cũng là lý do những món ăn dân dã như cải ngồng xào tỏi, cải ngồng luộc hay nấu canh vẫn được các chuyên gia dinh dưỡng đánh giá cao hơn nhiều món ăn quá nhiều dầu mỡ, đường hoặc muối.
Khi được chế biến đơn giản, không nấu quá lâu, cải ngồng vừa giữ được vị ngon đặc trưng, vừa góp phần bổ sung thêm rau xanh cho khẩu phần hàng ngày.
Ngày 12-4, Hội Ung thư Việt Nam phối hợp với AstraZeneca Việt Nam tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề: “Kỷ nguyên mới trong điều trị ung thư phổi: Hiện thực hóa mục tiêu triệt căn cùng liệu pháp nhắm trúng đích và miễn dịch”.
Tại hội thảo, TS.BS Diệp Bảo Tuấn - Giám đốc Bệnh viện Ung bướu TP.HCM - cho biết ung thư phổi tiếp tục là một trong các thách thức y học hàng đầu tại Việt Nam cũng như toàn cầu.
Theo số liệu Globocan 2022 và Tổ chức Y tế thế giới (WHO), hằng năm nước ta ghi nhận hơn 24.000 ca ung thư phổi mới (đứng thứ 3 trong các loại ung thư) và gần 22.600 ca tử vong vì bệnh này (đứng thứ 2 về số ca tử vong do ung thư).
Mặc dù có nhiều tiến bộ, việc tiếp cận các phương pháp điều trị ung thư phổi tại Việt Nam vẫn còn hạn chế, với tỉ lệ phát hiện bệnh ở giai đoạn muộn còn cao, tạo ra gánh nặng rất lớn. Theo thống kê, có tới 84% bệnh nhân ung thư phổi được chẩn đoán khi bệnh đã ở giai đoạn muộn, chỉ khoảng 16% được phát hiện sớm.
TS.BS Phạm Xuân Dũng - Chủ tịch Hội Ung thư TP.HCM - cũng cho hay ung thư phổi đang có xu hướng gia tăng cả về số ca mắc mới lẫn tử vong, đặc biệt tại các quốc gia đang phát triển.
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã có nhiều bước tiến đáng kể, tiệm cận trình độ khu vực và thế giới trong các phương pháp điều trị như hóa trị, xạ trị và phẫu thuật. Tuy nhiên thách thức lớn vẫn nằm ở việc nâng cao hiệu quả điều trị, đặc biệt với những trường hợp bệnh tiến xa, ít còn lựa chọn điều trị khả quan.
Từ cuối thế kỷ 20 và trong hai thập niên đầu thế kỷ 21, điều trị ung thư phổi đã có bước chuyển mình với sự xuất hiện của hai “vũ khí” quan trọng: liệu pháp nhắm trúng đích và liệu pháp miễn dịch.
Khi được kết hợp với các phương pháp truyền thống như hóa trị, xạ trị và phẫu thuật, những tiến bộ này đã làm thay đổi đáng kể cách tiếp cận và tiên lượng bệnh.
“Trước đây, với ung thư phổi giai đoạn muộn đã di căn, thời gian sống thêm thường dưới 12 tháng. Tuy nhiên hiện nay, không hiếm trường hợp bệnh nhân có thể sống thêm 2 - 4 năm. Điều này cho thấy chúng ta đang tiến gần hơn đến mục tiêu cá thể hóa trong điều trị ung thư”, BS Dũng nói.
Tương tự, BS Tuấn cho biết các liệu pháp toàn thân hiện đại, bao gồm liệu pháp nhắm trúng đích ở nhóm có đột biến EGFR và liệu pháp miễn dịch đang dịch chuyển gần hơn đến các giai đoạn sớm hơn của bệnh, và tiến đến thay đổi chiến lược điều trị từ “điều trị kéo dài sống còn” đến “hiện thực hóa mục tiêu triệt căn”.
“Nếu chỉ điều trị bằng hóa trị, thời gian sống người mắc ung thư phổi ở giai đoạn 4 thường chỉ khoảng 8 - 9 tháng. Trong khi đó, với liệu pháp miễn dịch có thể tăng thời gian sống lên khoảng 33 tháng”, BS Tuấn so sánh.
Theo các chuyên gia, các liệu pháp toàn thân hiện đại, bao gồm liệu pháp nhắm trúng đích ở nhóm có đột biến EGFR và liệu pháp miễn dịch đang dịch chuyển ngày một gần hơn đến các giai đoạn sớm hơn của bệnh, và tiến đến thay đổi chiến lược điều trị từ “điều trị kéo dài sống còn” đến “hiện thực hóa mục tiêu triệt căn”.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, cần đẩy mạnh các xét nghiệm di truyền và sinh học phân tử, phát triển các liệu pháp nhắm trúng đích và miễn dịch, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn ngày, cũng như đổi mới trong nghiên cứu lâm sàng nhằm tối ưu hóa phác đồ điều trị cho từng bệnh nhân.
Để tối ưu lợi ích sức khỏe khi uống cà phê, mọi người có thể áp dụng những cách sau:
Nếu muốn giữ trọn lợi ích của cà phê thì cà phê đen là lựa chọn đơn giản và hiệu quả nhất. Khi không thêm đường hay sữa đặc vào cà phê, người uống sẽ hấp thụ đầy đủ các chất chống ô xy hóa tự nhiên có trong cà phê, đặc biệt là polyphenol và chlorogenic axit. Những chất này giúp giảm căng thẳng ô xy hóa và giúp bảo vệ tế bào khỏi tổn thương lâu dài, theo chuyên trang Eating Well (Mỹ).
Ngoài ra, cà phê đen gần như không chứa calo nên rất phù hợp với người đang kiểm soát cân nặng. Một điểm đáng chú ý là nhiều người không tăng cân vì cà phê mà vì những thành phần đi kèm như đường, sữa đặc hay kem béo. Tuy vậy, mọi người vẫn nên uống cà phê đen ở mức vừa phải. Uống quá nhiều có thể gây mất ngủ, hồi hộp hoặc lo âu.
Thêm một chút quế hoặc bạch đậu khấu vào cà phê là cách đơn giản để tăng hương vị mà không cần dùng đường. Quế có vị ngọt nhẹ tự nhiên, giúp giảm nhu cầu thêm đường hay sữa.
Với sức khỏe, quế có khả năng giúp kiểm soát đường huyết và cải thiện độ nhạy insulin. Điều này đặc biệt có lợi cho những người có nguy cơ tiểu đường hoặc đang cần ổn định đường huyết
Bạch đậu khấu tuy ít được biết đến nhưng đã được sử dụng từ lâu trong ẩm thực, có tác dụng hỗ trợ tiêu hóa và giảm cảm giác đầy bụng. Khi kết hợp với cà phê, loại gia vị này không chỉ giúp đồ uống thơm hơn mà còn mang lại thêm lợi ích sức khỏe.
Kết hợp cà phê với bột ca cao nguyên chất là một lựa chọn rất tốt cho sức khỏe. Ca cao rất giàu flavanol, một nhóm chất chống ô xy hóa có lợi cho tim mạch. Khi thêm ca cao vào cà phê, người uống sẽ tăng cường lượng chất chống ô xy hóa mà cơ thể nhận được.
Một số nghiên cứu cho thấy flavanol trong ca cao có thể giúp cải thiện chức năng mạch máu. Điều này góp phần giảm nguy cơ các vấn đề tim mạch khi sử dụng đều đặn. Người uống nên chọn loại ca cao nguyên chất, không đường vì các loại pha sẵn thường chứa nhiều đường và chất béo.
Có người thích cà phê có hương vị vanilla hay caramel. Thế nhưng, các loại siro tạo hương thường chứa rất nhiều đường và phụ gia. Thay vào đó, chúng ta có thể dùng các hương liệu tự nhiên như chiết xuất vanilla, vỏ cam hoặc một chút tinh chất hạnh nhân.
Những lựa chọn này gần như không chứa calo nhưng vẫn giúp cà phê trở nên hấp dẫn hơn. Điều quan trọng là chúng không làm tăng đường huyết hay gây dư thừa calo như siro công nghiệp, theo Eating Well.
Ngày 9/4, Sở Y tế tỉnh Đăk Lăk cho biết Viện Vệ sinh Dịch tễ Tây Nguyên xét nghiệm 10 mẫu bệnh phẩm người ngộ độc thì 5 mẫu dương tính với vi khuẩn Salmonella. Đối với thực phẩm, phát hiện hai mẫu nhiễm Salmonella (rau và dăm bông), một mẫu rau nhiễm vi khuẩn Escherichia coli (E.coli).
Cơ quan chức năng xác định nguyên nhân 86 người ngộ độc là do ăn bánh mì mua tại tiệm Quốc Hùng (xã Ra Đrăng) nhiễm vi sinh vật gây bệnh.
Cơ quan chức năng cũng ghi nhận hôm 27/3 tiệm Quốc Hùng bán khoảng 300 ổ bánh mì. Tối cùng ngày xuất hiện những ca đầu tiên ngộ độc sau khi ăn bánh mì, triệu chứng như sốt, đau bụng, tiêu chảy, buồn nôn và nôn. Những ngày sau đó lần lượt nhiều người khác nhập viện.
Đến nay tất cả bệnh nhân đã bình phục.
UBND xã Ea Drăng đề nghị UBND tỉnh xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm đối với hộ kinh doanh tiệm bánh mì Quốc Hùng, dự kiến mức phạt 80 triệu đồng.
Vi khuẩn Salmonella và E.coli đều là tác nhân hàng đầu gây ngộ độc thực phẩm và nhiễm trùng đường ruột nghiêm trọng, thường xuất hiện trong các vụ ngộ độc quy mô lớn tại Việt Nam do ăn uống thực phẩm không vệ sinh. Triệu chứng thường là tiêu chảy, sốt, đau bụng.
Thời gian gần đây các tỉnh phía Nam xảy ra nhiều vụ ngộ độc thực phẩm sau ăn bánh mì, nguyên nhân chủ yếu là nhiễm hai loại vi khuẩn này.