Thành công nổi bật của hoạt động đối sánh giai đoạn 2020-2025 là góp phần minh bạch chất lượng giáo dục phổ thông (GDPT). Thay vì chỉ dựa vào tỷ lệ tốt nghiệp hay số lượng điểm cao, dữ liệu đối sánh giúp nhận diện rõ hơn chất lượng thực của quá trình dạy và học. Nhờ đó, nhiều địa phương xác định được vị trí của mình trong tương quan cả nước (đối sánh ngang) và theo dõi được xu hướng tiến bộ hay thụt lùi qua các năm (đối sánh dọc).
Đối sánh cũng tạo ra áp lực cải tiến tích cực. Khi chênh lệch giữa điểm học bạ và điểm thi được chỉ ra, nhiều địa phương buộc phải rà soát lại công tác kiểm tra, đánh giá trong nhà trường. Một số nơi đã triển khai giải pháp nâng cao chất lượng và đạt kết quả rõ nét khi thứ hạng điểm trung bình thi (TBĐT) toàn quốc được cải thiện. Chẳng hạn, Nghệ An tăng hạng mạnh từ vị trí 38 năm 2020 lên hạng 2 năm 2025; Hà Tĩnh từ 24 lên 4; Vĩnh Phúc (cũ) không chỉ tăng hạng mà nhiều năm giữ vị trí dẫn đầu. Ở chiều ngược lại, một số địa phương có xu hướng giảm hạng như Vĩnh Long, Đồng Tháp, Lâm Đồng, Đà Nẵng (cũ).
Từ góc độ quản lý, đối sánh góp phần hình thành tư duy sử dụng dữ liệu trong hoạch định chính sách và điều chỉnh hoạt động dạy và học. Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất hiện nay là đặt tất cả địa phương vào cùng một “mặt bằng so sánh”, trong khi điều kiện kinh tế – xã hội, nguồn lực giáo dục và chất lượng đầu vào rất khác nhau. Vì vậy, đối sánh theo nhóm các địa phương hoặc trường học có điều kiện tương đồng là cách tiếp cận hợp lý, giúp so sánh công bằng và hỗ trợ cải tiến chất lượng giáo dục.
Dữ liệu TBĐT kỳ thi tốt nghiệp THPT giai đoạn 2021–2025 cho thấy có sự phân hóa rõ rệt giữa 12 địa phương, gồm 6 thành phố trực thuộc T.Ư và 6 địa phương sáp nhập vào các thành phố này, như Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu, Hải Dương, Quảng Nam, Sóc Trăng và Hậu Giang.
“TBĐT 5 năm” của mỗi địa phương được tính bằng trung bình cộng TBĐT từng năm của địa phương đó. Chẳng hạn, Bình Dương có TBĐT từng năm giai đoạn 2021-2025 lần lượt là 7,055, 7,021, 7,161, 7,320 và 6,480 thì “TBĐT 5 năm” của tỉnh này là 7,007.
Tính “TBĐT 5 năm” giai đoạn 2021–2025 của 12 địa phương cho thấy mức bình quân chung đạt 6,490 điểm. Lấy mốc này để so sánh, có 6 địa phương có điểm trung bình cao hơn, gồm: Bình Dương (7,007 điểm), Hải Phòng (6,765 điểm), Hải Dương (6,648 điểm), TP.HCM (6,625 điểm), Hà Nội (6,552 điểm) và Cần Thơ (6,525 điểm).
6 địa phương còn lại có điểm trung bình thấp hơn mức này, gồm: Bà Rịa – Vũng Tàu (6,474 điểm), Huế (6,453 điểm), Đà Nẵng (6,224 điểm), Quảng Nam (6,217 điểm), Hậu Giang (6,197 điểm) và Sóc Trăng (6,187 điểm).
Như vậy, trong 12 địa phương được so sánh, một nửa có kết quả cao hơn mức trung bình chung và một nửa thấp hơn.
Trong nhóm TP.HCM – Bình Dương – Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương nổi bật với điểm trung bình 7,007, luôn nằm trong nhóm dẫn đầu cả nước. TP.HCM đạt 6,625 điểm, còn Bà Rịa – Vũng Tàu thấp hơn với 6,474 điểm.
Cặp Hải Phòng – Hải Dương có kết quả khá gần nhau (6,765 và 6,648 điểm), cho thấy chất lượng giáo dục trong vùng tương đối cân bằng.
Ở các nhóm còn lại, khoảng cách thể hiện rõ hơn. Đà Nẵng chưa tạo được chênh lệch đáng kể so với Quảng Nam (6,224 so với 6,217), dù điều kiện phát triển thuận lợi hơn. Tại ĐBSCL, Cần Thơ giữ vai trò trung tâm với điểm trung bình cao hơn nhiều so với Hậu Giang và Sóc Trăng, phản ánh sự chênh lệch về chất lượng giáo dục. TBĐT và thứ hạng của 12 địa phương được thể hiện ở bảng sau:
Đối sánh nhóm 6 thành phố lớn sau sáp nhập
Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2025 có nhiều thay đổi: thi theo Chương trình GDPT 2018, số môn thi giảm còn 4 (toán, ngữ văn và 2 môn tự chọn), ngoại ngữ chuyển từ bắt buộc sang tự chọn. Đồng thời, tuyển sinh ĐH không còn xét tuyển sớm, xét học bạ phải tính cả điểm học kỳ II lớp 12. Những điều chỉnh này đã làm thay đổi bức tranh kết quả thi giữa các địa phương, đặc biệt là 6 thành phố trực thuộc T.Ư.
Kết quả đối sánh năm 2025 cho thấy sự phân hóa khá rõ. Hà Nội dẫn đầu với 6,451 điểm, xếp thứ 5/34 toàn quốc. Hải Phòng đứng ngay sau với 6,346 điểm, xếp thứ 6/34, cho thấy chất lượng giáo dục ổn định. TP.HCM và Huế thuộc nhóm tiếp theo, lần lượt xếp thứ 8 và thứ 9.
Trong khi đó, Cần Thơ – sau khi sáp nhập thêm Hậu Giang và Sóc Trăng – xếp thứ 16/34, phản ánh những khó khăn đặc thù của giáo dục vùng ĐBSCL Cửu Long. Đà Nẵng đứng thứ 23/34, thấp nhất trong nhóm 6 thành phố. Đây không phải hiện tượng nhất thời mà là xu hướng kéo dài nhiều năm, khi Đà Nẵng và Quảng Nam thường nằm trong nhóm địa phương có điểm trung bình thấp.
Kết quả này cho thấy việc sáp nhập địa giới hành chính chủ yếu tạo ra không gian quản lý mới, còn mặt bằng chất lượng giáo dục giữa các vùng trong mỗi thành phố vẫn chưa thật sự đồng đều.
Xây dựng bản đồ chất lượng đến từng xã, phường, trường học
Để các “siêu đô thị” hình thành sau sáp nhập thực sự trở thành động lực nâng cao chất lượng giáo dục quốc gia, hoạt động đối sánh theo nhóm cần được xác lập như một công cụ phản hồi và điều chỉnh chính sách. Giá trị cốt lõi của đối sánh không nằm ở xếp hạng, mà ở khả năng chỉ ra khoảng cách, nhận diện nguyên nhân và gợi mở cải tiến phù hợp.
Trước hết, các đô thị cần xây dựng bản đồ chất lượng giáo dục đến từng xã, phường, từng trường, phản ánh đầy đủ điều kiện kinh tế – xã hội, quy mô trường lớp, đội ngũ giáo viên và kết quả học tập của học sinh. Đây sẽ là cơ sở để phân bổ nguồn lực theo nhu cầu thực tiễn, thay vì chia đều hay dựa vào địa giới hành chính. Kết quả khảo sát chất lượng học sinh lớp 12 của Hà Nội vừa mới đây đã cho thấy rõ tính cần thiết của giải pháp này.
Thứ hai, cần mở rộng quyền tự chủ cho các địa phương và nhà trường khi phạm vi quản lý rộng lớn hơn, đồng thời thiết kế các gói hỗ trợ có mục tiêu rõ ràng cho những khu vực còn yếu, gắn chặt trách nhiệm giải trình với kết quả đầu ra. Đối sánh theo nhóm giúp xác định cụ thể đối tượng cần hỗ trợ, mức độ hỗ trợ và thời gian hỗ trợ, qua đó hạn chế tình trạng đầu tư dàn trải nhưng hiệu quả thấp. Các trường học từng bước trở thành tổ chức tự học hỏi và tự cải tiến qua đối sánh và kiểm định.
Thứ ba, phát triển đội ngũ giáo viên theo vùng trong nội bộ đô thị là giải pháp then chốt. Việc tạo cơ chế luân chuyển, chia sẻ giáo viên giỏi giữa khu vực trung tâm và vùng ven, vùng khó khăn sẽ góp phần thu hẹp chênh lệch chất lượng đã kéo dài nhiều năm, đồng thời tạo môi trường phát triển nghề nghiệp công bằng hơn cho đội ngũ nhà giáo.
Kết quả môn ngữ văn trong kỳ thi tốt nghiệp THPT giai đoạn 2021–2025 cho thấy Hải Phòng và Hà Nội duy trì điểm khá cao, Huế tăng rõ rệt, TP.HCM và Cần Thơ biến động mạnh, trong khi Đà Nẵng thuộc nhóm cuối.
Kết quả đối sánh môn ngữ văn 6 thành phố trước sáp nhập
Trong nhiều năm, đánh giá chất lượng giáo dục Việt Nam chủ yếu dựa vào đối sánh kết quả thi THPT giữa các địa phương với so sánh chung toàn quốc. Cách làm này thiếu công bằng vì điều kiện kinh tế – xã hội, đầu vào học sinh rất khác nhau. Trong bối cảnh đó, đối sánh nhóm trở thành cách tiếp cận phù hợp. Đối sánh nhóm là so sánh kết quả học tập, thi cử giữa các đơn vị tương đồng về điều kiện. Chẳng hạn, với 6 thành phố trực thuộc T.Ư trước và sau khi sáp nhập.
Xét điểm trung bình môn ngữ văn giai đoạn 2021–2025, Hải Phòng dẫn đầu với hơn 7,44 điểm, tiếp đến là Hà Nội trên 7,14 điểm, đều cao hơn mức trung bình của nhóm khoảng 6,75 điểm. Hai địa phương này duy trì chất lượng khá ổn định. Huế đạt mức trung bình, có xu hướng cải thiện trong các năm 2024–2025 gần đây rõ rệt hơn.
Ngược lại, TP.HCM và Cần Thơ thuộc nhóm trung bình thấp, điểm số không quá yếu nhưng thứ hạng biến động mạnh. Đáng chú ý, Sóc Trăng có điểm ngữ văn cao hơn Cần Thơ và Hậu Giang. Điều này phản ánh đặc trưng đô thị lớn, nơi thí sinh đông, phân hóa cao và nhiều học sinh không đặt nặng kỳ thi tốt nghiệp THPT.
Riêng Đà Nẵng (cũ), điểm trung bình 5 năm chỉ hơn 6 điểm, thấp nhất; thứ hạng hầu như luôn nằm ở nhóm cuối của cả nước, và năm 2025 rơi xuống vị trí 63/63.
Để đảm bảo tính so sánh tương đồng, giá trị trung bình của nhóm được xác định bằng trung bình cộng điểm trung bình môn ngữ văn của 12 địa phương theo từng năm; trong khi đó, trung bình cả nước được tính bằng trung bình cộng điểm trung bình của 63 tỉnh, thành. Dữ liệu điểm thi và thứ hạng môn ngữ văn 12 địa phương thể hiện ở bảng sau.
Bức tranh điểm trung bình và xếp hạng môn ngữ văn năm 2025 của 6 thành phố trực thuộc T.Ư sau sáp nhập cho thấy sự phân hóa khá rõ.
Hà Nội giữ vị trí cao với 7,62 điểm, xếp 3/34, nhờ không thay đổi địa giới, bảo đảm sự ổn định về đội ngũ và cách đánh giá. Cần Thơ sau khi sáp nhập Hậu Giang và Sóc Trăng đạt 7,23 điểm, xếp 5/34; Huế với điểm trung bình 7,18 điểm, xếp 7/34, vẫn phát huy truyền thống dạy – học ngữ văn.
TP.HCM sáp nhập Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu đạt 7,07 điểm, xếp 9/34; Hải Phòng sáp nhập Hải Dương đạt 7,03 điểm, xếp 10/34.
Riêng Đà Nẵng sau khi sáp nhập với Quảng Nam chỉ đạt 6,26 điểm, xếp 33/34. Kết quả này vừa phản ánh sự chênh lệch vùng miền, vừa gợi lại tranh luận về cách chấm ngữ văn ở Đà Nẵng vốn được cho là nghiêm và chặt.
Một trong những nguyên nhân cốt lõi khiến chất lượng ngữ văn ở các thành phố không cao nằm ở sự thay đổi trong việc ưu tiên trong học tập. Trong nhiều năm, các đô thị lớn tập trung mạnh vào ngành nghề STEM, công nghệ, ngoại ngữ, kỹ năng số và hội nhập quốc tế. Đây là lựa chọn hợp lý trong bối cảnh phát triển kinh tế tri thức, kinh tế số nhưng hệ quả không mong muốn là ngữ văn dần bị đẩy xuống vị trí thứ yếu.
Với không ít học sinh thành phố, ngữ văn trở thành môn chỉ cần "đủ điểm tốt nghiệp", không phải môn quyết định tương lai. Khi động lực học tập không cao, kết quả trung bình khó có thể bứt phá, đặc biệt trong một kỳ thi ngày càng coi trọng năng lực đọc hiểu và nghị luận xã hội, thể hiện ý kiến cá nhân về một vấn đề nào đó.
Với trường hợp Đà Nẵng, thành phố này không chỉ được biết đến với sự quan tâm cho giáo dục mà còn nổi bật bởi văn hóa thi cử nghiêm túc, kỷ cương. Tuy nhiên, điểm thi môn ngữ văn thấp gần đây làm dấy lên nhiều tranh luận. Một số ý kiến cho rằng cách chấm thi còn chặt, thiên về "ý chuẩn", ít linh hoạt với bài viết sáng tạo. Ý kiến khác lại nhìn nhận học sinh chưa đầu tư đúng mức cho môn văn khi xu hướng lựa chọn các ngành STEM ngày càng mạnh.
Những nhận định này cần được nhìn nhận thận trọng nhưng có cơ sở. Đà Nẵng vốn đề cao sự chuẩn mực, rõ ràng trong quản lý – điều phù hợp với các lĩnh vực khoa học, công nghệ. Nhưng với ngữ văn, môn học đòi hỏi tư duy mở và cá tính, cách chấm quá khuôn mẫu có thể khiến những bài viết sáng tạo bị đánh giá thấp.
Từ năm 2025, khi đề thi ngữ văn không còn bám sách giáo khoa, tăng yêu cầu đọc hiểu và bày tỏ chính kiến, hạn chế này càng bộc lộ rõ. Chấm mở không đồng nghĩa với chấm dễ, mà đòi hỏi bản lĩnh nghề nghiệp và sự đổi mới tư duy của giáo viên.
Cũng cần nhấn mạnh rằng điểm thi thấp không đồng nghĩa học sinh Đà Nẵng yếu. Đây là địa phương có tỷ lệ học sinh theo học chương trình chất lượng cao, quốc tế khá lớn, nên ít tập trung vào bài thi ngữ văn theo chuẩn quốc gia. Dù vậy, trong bối cảnh hội nhập, năng lực ngôn ngữ và viết vẫn là nền tảng quan trọng cho học tập và phát triển lâu dài.
Trong khi đó, Hà Nội và Hải Phòng, cũng là những đô thị lớn, nhưng vẫn duy trì được chất lượng ngữ văn khá ổn định.
Huế là ví dụ điển hình cho sự trở lại của "văn hóa học văn". Khi đề thi chuyển sang đánh giá năng lực đọc hiểu, Huế – với truyền thống nhân văn và chiều sâu văn hóa – đã cải thiện thứ hạng rõ rệt năm 2024, 2025. Điều này cho thấy đề thi mới không bất lợi cho đô thị, mà bất lợi cho nơi chưa coi trọng năng lực ngôn ngữ đúng mức.
Để nâng cao chất lượng môn ngữ văn, các thành phố cần thay đổi từ gốc, chứ không chỉ điều chỉnh kỹ thuật ôn thi hay chấm thi.
Trước hết, cần khẳng định ngữ văn là môn học công cụ, nền tảng cho tư duy phản biện, giao tiếp, hợp tác và sáng tạo – những năng lực cốt lõi của công dân toàn cầu. Ngữ văn không đối lập với STEM mà là môi trường để STEM vận hành hiệu quả. Ngữ văn cùng với toán là 2 trụ cột chính trong các tổ hợp tuyển sinh ĐH.
Thứ hai, cần đổi mới cách dạy theo hướng phát triển năng lực đọc – viết – nói – nghe, gắn với các vấn đề đương đại, liên ngành, toàn cầu. Học sinh phải được tranh luận, phản biện, trình bày chính kiến, thay vì chỉ học thuộc văn mẫu và phân tích tác phẩm.
Thứ ba, đổi mới cách chấm và đánh giá. Chấp nhận sự khác biệt có lý lẽ, khuyến khích lập luận độc lập, coi trọng cách diễn đạt sáng tạo. Đây là khâu khó nhất nhưng quyết định thành công của đề thi mở. Riêng Đà Nẵng, giải pháp then chốt là chuyển từ kỷ cương cứng sang kỷ cương mềm trong môn ngữ văn. Nghiêm túc không đồng nghĩa với khép chặt. Thành phố cần đầu tư bồi dưỡng giáo viên ngữ văn theo hướng giáo dục ngôn ngữ hiện đại, giúp họ tự tin đánh giá bài viết sáng tạo mà vẫn công bằng.
Cùng đó, đưa ngữ văn trở lại đúng vị thế trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực: coi năng lực diễn đạt, thuyết phục, phản biện là kỹ năng sống còn của công dân toàn cầu và trái tim bản sắc dân tộc Việt Nam.
Các chuyên gia giáo dục của Hệ thống Trường Quốc tế Việt Úc (VAS) - Ảnh: NTCC
Trong buổi chia sẻ trực tuyến của Hệ thống Trường Quốc tế Việt Úc (VAS), cô Đỗ Minh Châu, Giám đốc Khối Dịch vụ Trường học & Tuyển sinh cho rằng đích đến không đơn thuần là tốt nghiệp lớp 12 và trúng tuyển đại học, mà là việc học sinh có đủ năng lực, bằng cấp và hồ sơ để vào đúng trường, đúng ngành phù hợp với bản thân.
Mỗi hệ thống đại học trên thế giới có một ‘gu’ tuyển sinh riêng. Các trường tại Mỹ và Canada thường đánh giá cao hồ sơ toàn diện trong đó kết quả học tập chỉ chiếm khoảng 40-50%, còn lại là hoạt động ngoại khóa, kỹ năng lãnh đạo và bài luận cá nhân.
Trong khi đó, các trường tại Anh và Úc lại đặt trọng tâm vào năng lực học thuật xuất sắc, được khẳng định qua các chứng chỉ học thuật chuyên sâu như Cambridge IGCSE và A Level.
Tại Việt Nam, dù là các trường quốc tế hay các đại học công lập hàng đầu, yêu cầu tiên quyết vẫn là nền tảng học thuật vững chắc kết hợp với kỹ năng thế kỷ 21 đặc biệt là năng lực số, kỹ năng tự học và thích ứng để học sinh có thể thành công trong môi trường đại học đầy cạnh tranh.
Do đó, tùy vào quốc gia con muốn đến, bộ hồ sơ năng lực cần được ‘đo ni đóng giày’ ngay từ sớm chứ không thể ‘làm đẹp cấp tốc’ trong giai đoạn cuối cấp.
Cô Đỗ Minh Châu - Giám đốc Khối Dịch vụ Trường học & Tuyển sinh Hệ thống Trường Quốc tế Việt Úc (VAS)
Tại VAS, hồ sơ này được nhà trường đồng hành cùng học sinh xây dựng ngay từ lớp 8 thông qua chương trình Tư vấn Hướng nghiệp và Chuẩn bị vào đại học (UCCC).
Trong đó, học sinh được tư vấn cá nhân hoá xuyên suốt đến lớp 12, giúp các em xác định ‘đích đến’ phù hợp với bản thân, lập kế hoạch và chuẩn bị các điều kiện cần thiết để từng bước đạt được mục tiêu.
Theo cô Kelcie Jean Lamont - Giám đốc Điều hành kiêm Trưởng chương trình Cambridge Mầm non và Tiểu học, cơ sở VAS Riverside: ‘Thành công ở năm lớp 12 không bao giờ là sự ngẫu nhiên. Đó là kết quả của một hành trình đã được bắt đầu từ nhiều năm trước đó’.
Khi chúng ta nhìn thấy một học sinh đứng trên sân khấu với học bổng toàn phần hoặc điểm A tuyệt đối ở A Levels, chúng ta không chỉ đang nhìn vào một năm nỗ lực, đó thực chất là ‘trái ngọt’ từ một nền tảng chiến lược được xây dựng bền bỉ suốt những năm Tiểu học và Trung học.
Cô Kelcie Jean Lamont - Giám đốc Điều hành kiêm Trưởng chương trình Cambridge Mầm non & Tiểu học, cơ sở VAS Riverside
Theo các chuyên gia, để thành công trong môi trường toàn cầu, bên cạnh học thuật, học sinh cần được trang bị các kỹ năng cốt lõi cho tương lai như: Kỹ năng số & tư duy AI; bộ kỹ năng thế kỷ 2 (giao tiếp, phản biện, tự học) và quan trọng nhất đó là kỹ năng thích nghi thực tế, luôn giữ cho bản thân vững vàng cân bằng trước mọi biến động.
Đây cũng chính là những năng lực mà học sinh được nuôi dưỡng và phát triển trong suốt hành trình 15 năm từ bậc mầm non tới lớp 12 tại VAS.
Cô Nguyễn Thu Hà, Hiệu trưởng Hệ thống cho biết: VAS hiện đang giảng dạy 3 lộ trình học song ngữ, tất cả đều có đầu ra là bằng cấp, chứng chỉ Cambridge có giá trị toàn cầu gồm: Lộ trình Tích hợp Quốc tế Toàn phần Cambridge (CAPI); Lộ trình Song ngữ Học thuật Cambridge (CAP); Lộ trình Tiếng Anh Cambridge Chuyên sâu (CEP); Cùng các chương trình giáo dục toàn diện như: giá trị cốt lõi, sức khoẻ well-being, ngoại khoá, UCCC...
Do đó, dù học sinh có nhu cầu và ‘đích đến’ ở đâu cũng có thể tìm được lộ trình học phù hợp để được hỗ trợ tối ưu.
Hiệu trưởng Hệ thống Trường Quốc tế Việt Úc (VAS) - Cô Nguyễn Thu Hà
Hành trình 15 năm học tại VAS được thiết kế rõ ràng theo từng giai đoạn gồm:
- Mầm non - Gieo hạt : Trẻ làm quen với chương trình giáo dục mầm non Cambridge, phát triển toàn diện và hình thành sự tự tin, khả năng giao tiếp và tình yêu học tập.
- Tiểu học - Xây nền học thuật và tư duy : Học sinh phát triển tiếng Anh học thuật, tư duy logic và kỹ năng tự học; sử dụng tiếng Anh để học các môn học thuật Cambridge và thi lấy chứng chỉ Cambridge Checkpoint Tiểu học.
- THCS (Lớp 6-8) - Định hướng cá nhân : Học sinh khám phá bản thân, xác định thiên hướng; đồng thời rèn luyện các kỹ năng quan trọng như tư duy phản biện, nghiên cứu, thuyết trình, quản lý dự án và thi lấy chứng chỉ Cambridge Checkpoint Trung học.
- THPT (Lớp 9-12) - Tăng tốc : Học sinh xác định mục tiêu rõ ràng và lập kế hoạch chi tiết để từng bước ‘về đích’. Đầu ra chứng chỉ IGCSE và A Levels chính là ‘tấm vé thông hành’ đến các trường đại học hàng đầu thế giới, tuyển thẳng vào nhiều đại học lớn ở Việt Nam, đồng thời giúp học sinh tăng lợi thế khi ‘săn’ họ bổng và có thể rút ngắn gần 1 năm học đại học nhờ được miễn tín chỉ khi quy đổi điểm A Level.
Đây chính là những yếu tố giúp học sinh không chỉ trúng tuyển vào đại học mà còn là bệ phóng để các em phát triển và vững bước thành công trong tương lai.
Chương trình Bí quyết ôn thi tốt nghiệp THPT đạt điểm cao năm 2026 sẽ phát sóng chuyên đề đầu tiên của môn hóa học tại địa chỉ thanhnien.vn , Facebook.com/thanhnien và YouTube Thanh Niên.
https://www.youtube.com/watch?v=ebW2ECAGYFs
Chuyên đề đầu tiên của môn hóa học do giáo viên Phạm Lê Thanh, Trường THPT Nguyễn Hiền (P.Bình Thới, TP.HCM) thực hiện.
Với chủ đề ''Tổng quan về cấu tạo và lớp vỏ nguyên tử'', mở đầu cho 10 chuyên đề ôn thi, giáo viên Phạm Lê Thanh ôn tập phần kiến thức hóa học lớp 10 thông qua xây dựng nền tảng vững chắc kiến thức hóa học. Chuyên đề giúp học sinh tái hiện nhanh những vấn đề về cấu tạo hạt nhân, nguyên tử, nắm chắc các dạng bài tập về hạt cơ bản và đồng vị – những câu hỏi "ăn điểm" chắc chắn trong đề thi.
Bắt đầu từ ngày 20.4 vào các khung giờ cố định (16 giờ 30, 18 giờ 30 và 20 giờ 30) từ thứ hai đến thứ bảy hàng tuần, Báo Thanh Niên lần lượt phát sóng trực tiếp 88 chuyên đề Bí quyết ôn thi tốt nghiệp THPT đạt điểm cao tại các địa chỉ thanhnien.vn, Facebook.com/thanhnien và YouTube Báo Thanh Niên.
88 chuyên đề ôn tập kiến thức do các giáo viên giàu kinh nghiệm tại TP.HCM xây dựng của Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong, chuyên Trần Đại Nghĩa, Bùi Thị Xuân, Lê Quý Đôn, Marie Curie, Nguyễn Hiền, quốc tế Á Châu… Qua mỗi chuyên đề ôn thi trực tuyến, giáo viên sẽ giúp học sinh tiết kiệm thời gian, tận dụng lợi thế của công nghệ để hứng thú với việc học, tích lũy kiến thức cho kỳ thi quan trọng sắp đến.
Sau các khung giờ nói trên, các chuyên đề vẫn xuất hiện trên các nền tảng thanhnien.vn, Facebook.com/thanhnien và YouTube Thanh Niên. Học sinh sử dụng bất kỳ thiết bị (điện thoại thông minh, máy tính cá nhân hay máy tính cố định) và chỉ cần kết nối internet đều có thể tiếp cận nội dung hệ thống kiến thức của 9 môn thi trong kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026.
Học sinh có thể truy cập vào các nền tảng của Báo Thanh Niên hoặc quét mã QR từ lịch phát sóng để xem trực tiếp chương trình Bí quyết ôn thi tốt nghiệp THPT năm 2026 vào đúng khung giờ hoặc xem lại 88 chuyên đề ôn thi tốt nghiệp THPT đã phát.
Lịch phát sóng tuần từ 20 đến 25.4 các chuyên đề ôn thi tốt nghiệp năm 2026