Đối sánh môn toán giai đoạn 2021-2025 cho thấy chất lượng có sự phân hóa rõ giữa các vùng, miền, thậm chí trong nhóm thành phố trực thuộc T.Ư cũng tồn tại khoảng cách đáng kể. Điều này đặt ra yêu cầu phải nhìn nhận sâu hơn, không chỉ ở điểm thi mà ở cấu trúc chất lượng dạy học và các yếu tố hệ thống phía sau.
Trong thời đại công nghiệp 4.0, khi trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn chi phối đời sống, môn toán giữ vai trò nền tảng trong giáo dục phổ thông (GDPT). Không chỉ dừng ở tính toán, toán học rèn luyện cho học sinh tư duy logic, khả năng phân tích và giải quyết vấn đề – những năng lực cốt lõi của tư duy khoa học và tư duy thuật toán.
Toán học là ngôn ngữ của khoa học – công nghệ, hiện diện trong nhiều lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu, kỹ thuật, tài chính hay y học. Vì vậy, chất lượng dạy và học toán ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành nguồn nhân lực công nghệ, đặc biệt là AI.
Nhiều quốc gia đã đổi mới mạnh mẽ dạy và học toán theo hướng phát triển năng lực: giảm ghi nhớ máy móc, tăng cường giải quyết vấn đề thực tiễn, mô hình hóa, tư duy thống kê và ứng dụng công nghệ số. Học sinh được khuyến khích khám phá, thảo luận, trình bày nhiều cách giải, làm dự án thực tiễn, thay vì học công thức, giải đề.
Chương trình GDPT 2018 đã tiếp cận theo hướng này. Tuy nhiên, quá trình triển khai còn phụ thuộc lớn vào năng lực giáo viên, điều kiện dạy học và cách thức kiểm tra, đánh giá. Chính vì vậy, kết quả thi toán còn là “tấm gương” của toàn bộ hệ thống giáo dục.
Trong kỷ nguyên số, toán là nền tảng để làm chủ công nghệ và giữ vai trò then chốt trong các kỳ thi, đặc biệt kỳ thi tốt nghiệp THPT. Tuy nhiên, so sánh toàn quốc chưa phản ánh rõ khác biệt vùng miền, nên cần đối sánh theo nhóm địa phương có điều kiện tương đồng.
Trước ngày 1.7.2025, Việt Nam có 6 thành phố trực thuộc T.Ư. Sau mốc này, có thêm 6 tỉnh được sáp nhập vào 6 thành phố. Vì vậy, khi phân tích kết quả môn toán giai đoạn 2021–2025, cần đặt trong bối cảnh nhóm 12 địa phương, để bảo đảm tính hợp lý thực tiễn phát triển giáo dục.
Điểm trung bình của nhóm được tính bằng trung bình cộng điểm toán của 12 địa phương theo từng năm, trong khi mức trung bình cả nước là kết quả của 63 địa phương. Kết quả cho thấy điểm trung bình của nhóm luôn cao hơn mặt bằng chung cả nước.
Tính bình quân 5 năm, mỗi địa phương được lấy điểm trung bình của 5 năm liên tiếp. Nhóm 12 địa phương đạt mức 6,24 điểm, cao hơn mức 5,93 của cả nước khoảng 0,3 điểm. Dù không lớn, khoảng cách này cho thấy đây là nhóm có chất lượng dạy và học toán khá tốt, phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội và đội ngũ giáo viên ở các đô thị, địa phương phát triển.
Tuy nhiên, chênh lệch trong nhóm vẫn rõ rệt. So với mức trung bình cả nước, có 10 địa phương cao hơn, trong khi Hậu Giang và Sóc Trăng thấp hơn. Nếu so với mức trung bình của nhóm, chỉ 7 địa phương vượt lên, chủ yếu là các đô thị lớn và địa phương có điều kiện kinh tế tốt như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, TP.HCM và các tỉnh công nghiệp. Những nơi này có hệ thống trường học đa dạng, môi trường cạnh tranh và khả năng tiếp cận giáo dục STEM (khoa học-công nghệ-kỹ thuật-toán học) tốt hơn.
Ngược lại, các địa phương như Huế, Cần Thơ, Quảng Nam, Hậu Giang, Sóc Trăng có điểm thấp hơn trung bình nhóm, chủ yếu do còn nhiều khu vực khó khăn, điều kiện dạy và học hạn chế.
Khoảng cách giữa địa phương cao nhất và thấp nhất lên tới hơn 1,2 điểm, phản ánh rõ sự khác biệt về điều kiện phát triển và chất lượng giáo dục. Nhìn chung, các vùng kinh tế phát triển vẫn có lợi thế rõ rệt, trong khi một số khu vực còn nhiều thách thức. Dữ liệu điểm và thứ hạng môn toán của 12 địa phương thể hiện ở bảng sau.
Nếu đặt kết quả môn toán năm 2025 của 6 thành phố trực thuộc T.Ư (mới) trong tương quan xếp hạng với 34 tỉnh, thành phố mới sau sáp nhập, có thể rút ra một số nhận định tổng quan sau.
Trước hết, phần lớn các thành phố trực thuộc trung ương đều nằm trong nhóm dẫn đầu cả nước về môn toán. Hà Nội đạt 5,29 điểm (hạng 2/34), TP.HCM 5,26 điểm (hạng 3/34), và Hải Phòng 5,13 điểm (hạng 4/34). Ba đô thị lớn này đều thuộc top 5, cho thấy lợi thế rõ rệt về dạy và học toán.
Tiếp theo là Huế (4,90 điểm, hạng 7) và Đà Nẵng (4,89 điểm, hạng 8), tiếp tục khẳng định mặt bằng dạy học toán ở các đô thị lớn nhìn chung vẫn ở mức cao so với cả nước.
Trong khi đó, Cần Thơ chỉ đạt 4,32 điểm, xếp hạng 27/34, thấp hơn đáng kể. Kết quả này phản ánh phần nào thực trạng chung của khu vực đồng bằng sông Cửu Long, nơi điểm toán thường thấp hơn nhiều vùng khác.
Nhìn tổng thể, 5/6 thành phố trực thuộc T.Ư nằm trong top 10 toàn quốc về môn toán năm 2025, cho thấy lợi thế của đô thị lớn về điều kiện giáo dục, đội ngũ và môi trường học tập. Tuy nhiên, khoảng cách giữa Cần Thơ và các thành phố còn lại cũng cho thấy chênh lệch vùng miền vẫn tồn tại.
Đáng lưu ý, sau sáp nhập, sự chênh lệch này có thể bị “che lấp” trong số liệu trung bình. Nếu thiếu phân tích chi tiết theo vùng, nguy cơ bỏ sót các “vùng trũng” giáo dục là rất lớn.
Để lý giải sự khác biệt trên, cần nhìn từ 3 cấp độ: lớp học, nhà trường và hệ thống.
Ở cấp lớp học, phương pháp dạy học vẫn là yếu tố quyết định. Nhiều nơi vẫn nặng về luyện tập dạng bài, trong khi yêu cầu mới là phát triển tư duy và năng lực. Khi đề thi thay đổi, những hạn chế này bộc lộ rõ và những học sinh yếu sẽ mất tự tin khi gặp dạng đề thi mới.
Ở cấp nhà trường, sự khác biệt về điều kiện cơ sở vật chất, quy mô lớp học, và văn hóa học tập ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả. Những trường có môi trường học tập tích cực, chú trọng STEM thường có kết quả tốt hơn.
Ở cấp hệ thống, việc phân bổ giáo viên, đầu tư nguồn lực và chính sách hỗ trợ vùng khó khăn đóng vai trò then chốt. Những địa phương thiếu giáo viên toán giỏi thường gặp khó khăn kéo dài, khó cải thiện trong ngắn hạn.
Ngày 7-4, PGS.TS Tô Văn Phương - Trưởng phòng đào tạo Trường đại học Nha Trang - xác nhận hội đồng thi tại trường đã phát hiện hai trường hợp thí sinh khai không đúng thông tin cá nhân để được dự thi kỳ thi đánh giá năng lực.
Theo đó, trước giờ làm bài sáng 5-4, trong quá trình kiểm tra giấy tờ, giám thị phát hiện sự chênh lệch về năm sinh của hai thí sinh, căn cước công dân của thí sinh này ghi năm 2009, trong khi giấy báo dự thi thể hiện năm 2008.
“Thông thường, học sinh lớp 12 sinh năm 2008. Nếu có trường hợp đặc biệt, Đại học Quốc gia TP.HCM sẽ gửi danh sách riêng về các điểm thi để theo dõi” - ông Phương cho hay.
Ngay sau khi phát hiện sai lệch, hội đồng thi đã mời hai thí sinh ra ngoài trước thời điểm phát đề để làm rõ.
Làm việc với nhà trường, hai thí sinh thừa nhận đã khai gian tuổi với mục đích được tham gia kỳ thi để trải nghiệm và tự đánh giá năng lực học tập.
Theo đại diện Trường đại học Nha Trang, quy chế kỳ thi không cho phép hai trường hợp này dự thi. Tuy nhiên, khi đủ điều kiện theo quy định, hai thí sinh này vẫn có thể đăng ký tham gia các đợt thi sau.
Ngày 4.4, đại diện Bộ GD-ĐT đã trao quyết định công nhận trường cao đẳng chất lượng cao cho Trường CĐ Viễn Đông. Đây là dấu mốc đáng chú ý của giáo dục nghề nghiệp khi lần đầu tiên một cơ sở ngoài công lập đạt danh hiệu này trong đợt công nhận chính thức của Bộ GD-ĐT.
Theo quyết định phê duyệt danh sách các trường triển khai đánh giá, công nhận trường cao đẳng chất lượng cao năm 2025, cả nước có 10 cơ sở đạt chuẩn. Trong đó, Trường CĐ Viễn Đông là đơn vị ngoài công lập duy nhất đạt danh hiệu này.
Theo quyết định, 9 trường công lập còn lại được công nhận là trường cao đẳng chất lượng cao gồm: Trường CĐ Cơ khí nông nghiệp, Trường CĐ Kỹ thuật công nghiệp, Trường CĐ Y tế Thanh Hóa, Trường CĐ Y tế Thái Bình, Trường CĐ Công nghiệp Huế, Trường CĐ Cơ giới và Thủy lợi, Trường CĐ Công nghệ quốc tế LILAMA 2, Trường CĐ Kỹ thuật Cao Thắng và Trường CĐ Kỹ thuật công nghệ Bà Rịa - Vũng Tàu.
Trong lễ trao quyết định, GS-TS Lê Quân nhấn mạnh, trong bối cảnh đất nước đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, giáo dục nghề nghiệp đang đứng trước yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ và toàn diện. Những nhiệm vụ trọng tâm bao gồm nâng cao chất lượng đào tạo, hiện đại hóa cơ sở vật chất, tăng cường tự chủ, nâng cao năng lực quản trị và đặc biệt là thúc đẩy chuyển đổi số trong toàn hệ thống.
Theo lãnh đạo Bộ GD-ĐT, các trường cao đẳng chất lượng cao không chỉ dừng lại ở việc đạt chuẩn, mà phải đóng vai trò là hạt nhân đổi mới sáng tạo. Đây sẽ là những đơn vị tiên phong trong đổi mới mô hình quản trị, xây dựng chương trình đào tạo tiên tiến và áp dụng phương thức đào tạo hiện đại, từ đó lan tỏa và nâng cao chất lượng chung của giáo dục nghề nghiệp.
"Các trường cao đẳng chất lượng cao phải thực sự trở thành hạt nhân đổi mới sáng tạo; tiên phong trong mô hình quản trị hiện đại, chương trình và phương thức đào tạo tiên tiến; có khả năng dẫn dắt, lan tỏa và nâng cao mặt bằng chất lượng chung của hệ thống giáo dục nghề nghiệp", GS-TS Lê Quân nhấn mạnh.
GS-TS Lê Quân cũng chỉ rõ thực tế mạng lưới hơn với hơn 400 trường cao đẳng với tổng quy mô tuyển sinh đào tạo trình độ cao đẳng, trung cấp, sơ cấp khoảng gần 900.000 học sinh, sinh viên tại 20 lĩnh vực; quy mô tuyển sinh và đào tạo trình độ cao đẳng còn hạn chế; còn trùng lắp về địa bàn, ngành nghề đào tạo; tính thích ứng chưa cao để ứng phó kịp với sự thay đổi của khoa học công nghệ và yêu cầu đào tạo kỹ năng nghề cao; chưa thống nhất, đồng bộ giữa định hướng phát triển, dự báo nhu cầu và phát triển chương trình, hệ thống quản trị trong đào tạo chất lượng cao nói chung và các trường chất lượng cao nói riêng.
Theo GS-TS Lê Quân, trong bối cảnh đó, việc sắp xếp lại theo hướng tinh gọn, hiệu quả, phân tầng rõ ràng; hình thành các trường cao đẳng chất lượng cao và trường trọng điểm quốc gia làm hạt nhân dẫn dắt; đồng thời nâng cao năng lực quản trị, thúc đẩy chuyển đổi số và hiện đại hóa điều kiện bảo đảm là nhiệm vụ trọng tâm của toàn hệ thống.
GS-TS Lê Quân xác định việc xây dựng và phát triển các cơ sở giáo dục nghề nghiệp chất lượng cao đóng vai trò trung tâm, nòng cốt, dẫn dắt trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế là nhiệm vụ, định hướng chiến lược quan trọng của Đảng và Nhà nước, đã được thể chế hóa bằng các nghị quyết và quy định pháp luật.
Cụ thể, theo Quyết định 2239/QĐ-TTg, mục tiêu đặt ra là phát triển một số cơ sở giáo dục nghề nghiệp đạt trình độ các nước tiên tiến trong khu vực, tiến tới chuẩn quốc tế, góp phần đào tạo nguồn nhân lực có kỹ năng nghề cao. Bên cạnh đó, luật Giáo dục nghề nghiệp 2025 (có hiệu lực từ 1.1.2026) cũng nhấn mạnh yêu cầu chuẩn hóa và hiện đại hóa các cơ sở đào tạo, trong đó ưu tiên đầu tư các trường cao đẳng chất lượng cao tại các trung tâm kinh tế lớn.
Có một thực tế đáng suy nghĩ, theo nhiều thống kê và quan sát xã hội, rất ít học sinh THPT tham gia việc nhà thường xuyên.
Chúng tôi thử khảo sát sơ bộ trong gần 150 học sinh THPT (3 lớp học), thì thấy tỷ lệ học sinh không bao giờ biết tự ủi đồ đi học là rất lớn, khoảng từ 30 - 40%. Tỷ lệ tương tự với các việc như gặt đồ, quét nhà, rửa chén bát... Điều đó đặt ra một câu hỏi gia đình đang ở đâu trong việc giáo dục kỹ năng sống ở nhà cho con em?
Không ít phụ huynh quan niệm rằng nhiệm vụ chính của con là học, còn mọi việc khác đã có cha mẹ lo. Từ việc nhỏ như dọn dẹp phòng, rửa chén, đến những việc cần kỹ năng hơn như nấu ăn, quản lý chi tiêu… tất cả đều được người lớn "bao trọn". Sự hy sinh ấy xuất phát từ tình thương, nhưng lại tiềm ẩn một hệ quả lâu dài là con trẻ mất đi cơ hội học cách tự lập.
Trong khi đó theo các chuyên gia tâm lý giáo dục, lứa tuổi THPT là giai đoạn chuyển tiếp quan trọng trước khi bước vào đời. Việc thiếu kỹ năng sống không chỉ khiến các em gặp khó khăn trong sinh hoạt cá nhân, mà còn ảnh hưởng đến khả năng thích nghi khi học xa nhà, đi làm hoặc xây dựng cuộc sống riêng sau này. Đáng nói hơn, nhiều em hình thành tâm lý ỷ lại, thụ động. Khi mọi thứ đã có người khác làm thay, các em không còn nhu cầu học hỏi hay chịu trách nhiệm cho chính cuộc sống của mình.
Nhiều phụ huynh nghĩ rằng làm việc nhà sẽ ảnh hưởng đến việc học. Tuy nhiên, theo quan điểm người viết bài thì ngược lại. Học sinh biết chia sẻ việc nhà thường có ý thức trách nhiệm cao hơn, kỹ năng quản lý thời gian tốt hơn và tinh thần tự lập rõ rệt hơn.
Giúp việc nhà, nếu được phân bổ hợp lý, không hề lấy đi thời gian học tập mà còn giúp học sinh hiểu giá trị của lao động, rèn luyện tính kỷ luật và kiên trì, hình thành kỹ năng giải quyết vấn đề trong đời sống thực tế. Một học sinh biết tự nấu ăn, tự giặt giũ, tự sắp xếp không gian sống… cũng chính là một người đang học cách làm chủ bản thân. Đó là những bài học không có trong sách giáo khoa, nhưng lại theo các em suốt đời.
Nhà trường dạy kiến thức, xã hội có thể tạo môi trường, nhưng chính gia đình mới là nơi đặt nền móng cho thói quen và kỹ năng sống. Trẻ em không tự nhiên biết làm việc nhà, mà các em học bằng cách quan sát và được hướng dẫn. Nếu cha mẹ luôn làm thay, hoặc không giao việc cụ thể, trẻ sẽ không hình thành được ý thức trách nhiệm. Ngược lại, những gia đình biết cách giáo dục con thông qua việc nhà sẽ giao việc phù hợp với độ tuổi (rửa chén, quét nhà, nấu ăn đơn giản…); không làm thay khi con có thể tự làm; kiên nhẫn hướng dẫn thay vì trách mắng khi con làm chưa tốt; xem việc nhà là trách nhiệm chung, không phải "giúp đỡ" cha mẹ. Và chính trong không gian gia đình, những kỹ năng tưởng chừng nhỏ bé ấy dần tích lũy thành năng lực sống bền vững.
Đừng đợi đến khi con rời nhà mới dạy con tự lập. Nếu gia đình không chuẩn bị từ sớm, con trẻ sẽ phải học những bài học cơ bản nhất trong hoàn cảnh bị động và áp lực hơn rất nhiều. Ngược lại, nếu ngay từ khi còn ở nhà, các em đã được rèn luyện từng chút một, thì khi bước ra đời, các em sẽ tự tin, chủ động và thích nghi nhanh hơn.
Thực ra không thiếu những bài học từ sách vở, nhà trường (cả sách chương trình cũ và mới) đã dạy học sinh những kỹ năng sống. Từ thời nhỏ các em đã biết đến các bài thơ giản dị như về việc đánh răng; việc "Quạt cho bà ngủ" (tên bài thơ của Thạch Quý) là hành động nhỏ nhưng đầy tình cảm, dạy trẻ biết chăm sóc người thân, biết quan tâm.
Sách giáo khoa cũng dạy bé biết phụ giúp việc nhỏ trong nhà trong bài Tí Xíu (Ngô Văn Phú); giúp trẻ quan sát lao động để hiểu giá trị lao động chân chính trong bài tập đọc Bố làm thợ mộc (Ngô Quân Miện); hoặc văn bản tập đọc Đẹp mà không đẹp dạy trẻ biết giữ gìn không gian công cộng sạch đẹp...
Những bài học nói trên không chỉ dạy chữ mà còn dạy cách sống bằng những hình ảnh giản dị, gần gũi.
Chỉ tiếc rằng giữa sách vở, lý thuyết nhà trường và ứng dụng thực tế còn khoảng cách khá xa. Để lấp đầy khoảng cách này cần sự sẵn sàng hợp sức của cha mẹ học sinh.