Những người bán vé số dạo đang rơi vào tình trạng 3 không: không hợp đồng lao động, không bảo hiểm xã hội và không bảo hộ an toàn lao động. Mặc dù họ là người trực tiếp mang lại nguồn thu khổng lồ cho ngân sách (khoảng 52.000 tỉ đồng nộp ngân sách năm 2025), nhưng địa vị pháp lý của họ lại cực kỳ mờ nhạt.
Trên thực tế, Nghị định 30/2007/NĐ-CP về kinh doanh xổ số hiện chỉ tập trung điều chỉnh mối quan hệ giữa doanh nghiệp xổ số và các đại lý. Trong khi đó, mối quan hệ giữa đại lý và người bán dạo – khâu quan trọng nhất trong chuỗi phân phối lại bị bỏ ngỏ, dẫn đến việc các đại lý tự đặt ra những “luật chơi” riêng.
Mô hình “mua đứt bán đoạn” hiện nay bắt người bán lẻ phải gánh toàn bộ rủi ro kinh doanh, từ vé tồn đến vé giả, trong khi họ chỉ được hưởng mức hoa hồng ít ỏi; đi kèm đó là hệ thống an sinh xã hội không được đảm bảo kéo theo nhiều bấp bênh, gánh nặng cơm áo gạo tiền.
Liên quan kiến nghị của đại biểu Quốc hội về việc sửa đổi các quy định nhằm tăng quyền lợi cho người bán vé số dạo, nhiều luật sư cho rằng đề xuất này có cơ sở khi lực lượng bán vé số hiện chưa được bảo đảm đầy đủ về thu nhập và an sinh.
Cụ thể, luật sư kiến nghị rà soát Nghị định 122/2017/NĐ-CP (quy định một số nội dung đặc thù về cơ chế quản lý tài chính và đánh giá hiệu quả hoạt động đối với doanh nghiệp kinh doanh xổ số) và các thông tư liên quan để quy định minh bạch hơn cơ chế phân chia lợi nhuận, bổ sung chính sách hỗ trợ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; đồng thời xác lập vị trí pháp lý phù hợp cho người bán vé số dạo trong hệ thống kinh doanh xổ số.
Luật sư Hoàng Hà, Đoàn luật sư TP.HCM cho rằng đề xuất tăng quyền lợi cho người bán vé số dạo là có cơ sở. Bởi pháp luật hiện hành đã quy định mức trần hoa hồng dành cho đại lý xổ số nhưng chưa có mức sàn dành riêng cho người bán lẻ cuối cùng. Vì vậy, thu nhập của người bán vé số dạo hiện phụ thuộc vào nhiều cách phân chia của từng đại lý.
Cụ thể, Nghị định 122 giao doanh nghiệp kinh doanh xổ số chi hoa hồng cho đại lý xổ số, Thông tư 138 năm 2017 của Bộ Tài chính quy định mức chi hoa hồng đại lý do doanh nghiệp quyết định nhưng tối đa không vượt quá 15% doanh thu từ hoạt động kinh doanh xổ số.
Ngoài ra, người bán vé số dạo cũng chưa có địa vị pháp lý rõ ràng để được bảo vệ ổn định. Họ thường tự nhận vé từ đại lý để bán, tự chịu rủi ro nếu vé ế, vé rách, vé bị tráo hoặc tai nạn trong quá trình mưu sinh.
Từ đó, luật sư Hoàng Hà đề xuất ba hướng xử lý trước mắt:
Thứ nhất, cần sửa nghị định, thông tư chuyên ngành. Cụ thể là Thông tư 138 để quy định tỷ lệ hoa hồng tối thiểu phải đến tay người bán lẻ; đồng thời yêu cầu doanh nghiệp công khai cơ cấu chi trả, minh bạch việc giao nhận vé và thanh toán.
Thứ hai, hỗ trợ người bán vé số tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm y tế từ quỹ phúc lợi doanh nghiệp và các nguồn hợp pháp khác, thay vì cố xếp họ vào quan hệ lao động bắt buộc khi chưa phù hợp với bản chất của quan hệ này theo quy định của bộ luật Lao động 2019.
Thứ ba, nhìn nhận người bán vé số dạo là nhóm lao động phi chính thức đặc thù trong chính sách công vì họ chính là mắt xích không thể thiếu để tạo doanh thu cho hệ thống xổ số.
Cùng quan điểm, luật sư Nguyễn Đình Thế, Đoàn luật sư TP.HCM cho rằng cần có giải pháp căn cơ hơn để giải quyết triệt để vấn đề và tăng quyền lợi cho người bán vé số dạo.
Theo luật sư Thế, trước hết cần quy định mức hoa hồng tối thiểu (sàn hoa hồng) cho người bán vé số dạo. Mức này nên được quy định ở mức 12 – 15% trên giá vé hoặc một khung tỷ lệ cố định để đảm bảo thu nhập thực tế.
Bên cạnh đó, nên áp dụng cơ chế “ký gửi – hoàn trả” vé tồn, tức người bán dạo chỉ thanh toán số vé đã bán được và có quyền trả lại vé chưa bán trước giờ quay số. Cơ chế này sẽ giúp giảm rủi ro ôm vé cho người lao động yếu thế.
Luật sư Thế cũng đề xuất ban hành hợp đồng mẫu giữa đại lý và người bán lẻ, quy định rõ tỷ lệ hoa hồng, trách nhiệm hỗ trợ khi xảy ra tai nạn hoặc bị lừa đảo.
Về dài hạn, luật sư kiến nghị cho phép các công ty xổ số trích một phần lợi nhuận, khoảng 1 – 2% lập Quỹ an sinh ngành xổ số, dùng để hỗ trợ trực tiếp đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện, mức hỗ trợ này có thể lên đến 50 – 70% và mua bảo hiểm y tế cho người bán vé số dạo. Khi người bán vé số dạo có được tấm thẻ bảo hiểm và sổ hưu trí, họ mới thực sự an tâm lao động và không còn là gánh nặng của xã hội khi về già.
Ngoài ra, cần khuyến khích thành lập các tổ chức đại diện như nghiệp đoàn hoặc hội nghề nghiệp để người bán vé số có tiếng nói tập thể khi thương lượng quyền lợi của chính mình. Sự đoàn kết này sẽ tạo ra tiếng nói đủ mạnh để đối trọng với quyền lực pháp lý của các đại lý, đảm bảo sự công bằng trong chuỗi giá trị xổ số.
Cũng theo luật sư, bảo vệ người bán vé số dạo không chỉ là hoạt động nhân đạo mà còn là trách nhiệm pháp lý và thước đo của một xã hội văn minh.
Trước đó, hôm 20.4, Quốc hội khóa XVI thảo luận tại hội trường về các vấn đề kinh tế – xã hội năm 2026 và kế hoạch 5 năm (2026 – 2030). Bà Châu Quỳnh Dao (đại biểu đoàn An Giang) dẫn số liệu của Bộ Tài chính năm 2025, riêng 21 công ty xổ số khu vực miền Nam đạt doanh thu 155.500 tỉ đồng, đóng góp ngân sách khoảng 52.000 tỉ đồng.
Tuy nhiên, theo bà Dao, những người bán vé số dạo, chủ yếu là người yếu thế, người già neo đơn, phụ nữ, trẻ em khó khăn, người khuyết tật hoặc lao động di cư lại đang phải đối mặt với cuộc sống vô cùng bấp bênh.
Trong khi đó, các nghị định về phân phối lợi nhuận chưa có quy định cụ thể để chăm lo trực tiếp cho lực lượng lao động tự do này. Do không có hợp đồng lao động chính thức với các đại lý hay doanh nghiệp xổ số, người bán vé số dạo hoàn toàn không có bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.
Bà Dao dẫn chứng: Với mức hoa hồng khoảng 1.000 đồng/tờ, một người bán vé số dạo phải làm việc cực nhọc cả ngày mới kiếm được khoảng 200.000 đồng. Trong khi có sự chênh lệch rất lớn giữa tiền lương của cán bộ nhân viên của công ty xổ số kiến thiết hay mức thu nhập của các đại lý lớn và người lao động tự do, nhóm yếu thế bán vé số dạo.
Đồng thời, đội ngũ bán vé số dạo cũng phải đối mặt với tai nạn giao thông, thời tiết khắc nghiệt, nạn tráo vé giả hay rủi ro ôm vé khi bán ế.
Từ đó, bà Châu Quỳnh Dao kiến nghị Chính phủ rà soát, hoàn thiện quy định pháp luật để công nhận vị trí xã hội của người bán vé số dạo, có chính sách hỗ trợ tiếp cận bảo hiểm xã hội tự nguyện và hỗ trợ đóng bảo hiểm cho người bán vé số dạo thông qua ngân sách hoặc trích từ quỹ phúc lợi của các công ty xổ số.
Cũng theo bà Dao, Chính phủ cần nghiên cứu, sửa đổi các nghị định, thông tư, đặc biệt là Nghị định số 122 theo hướng tiếp cận hài hòa, minh bạch về phân phối lợi nhuận giữa công ty xổ số, đại lý và người bán dạo.
Phát biểu trước Quốc hội ngày 21/4, Phó thủ tướng Nguyễn Văn Thắng cho biết công tác quản lý an toàn thực phẩm hiện do nhiều bộ, ngành cùng phụ trách nên vừa chồng chéo trách nhiệm, vừa tồn tại khoảng trống trong kiểm soát. Vì vậy, Chính phủ đang xây dựng đề án thành lập cơ quan quản lý thống nhất nhằm tập trung đầu mối, khắc phục tình trạng phân tán, nâng cao hiệu quả quản lý, kiểm tra và xử lý vi phạm.
Theo Luật An toàn thực phẩm 2010, trách nhiệm quản lý nhà nước được phân công cho 3 bộ chính theo từng nhóm sản phẩm và công đoạn. Bộ Y tế quản lý thực phẩm chức năng, phụ gia, nước uống đóng chai và bếp ăn tập thể như trường học, bệnh viện. Bộ Nông nghiệp và Môi trường phụ trách thực phẩm tươi sống, toàn bộ khâu trồng trọt, chăn nuôi, giết mổ, sơ chế ban đầu, đồng thời kiểm soát dịch bệnh, kiểm dịch và điều kiện vệ sinh thú y. Bộ Công Thương quản lý khâu chế biến công nghiệp, lưu thông và phân phối thực phẩm trên thị trường.
Các quy định tiếp tục được cụ thể hóa tại nghị định và văn bản hướng dẫn theo hướng chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, tăng trách nhiệm của doanh nghiệp. Ở địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cấp xã cùng các cơ quan chuyên ngành, lực lượng thanh tra trực tiếp tổ chức thực thi.
Theo chuỗi vận động của thực phẩm, hệ thống quản lý được phân tách theo từng công đoạn. Ở khâu chăn nuôi, ngành nông nghiệp kiểm soát dịch bệnh, cấp giấy kiểm dịch và giám sát điều kiện vệ sinh. Sang khâu giết mổ, trách nhiệm thuộc cơ quan thú y và chính quyền địa phương. Đến khâu chế biến công nghiệp, trách nhiệm chuyển sang ngành công thương, doanh nghiệp phải bảo đảm nguyên liệu đầu vào có nguồn gốc rõ ràng. Ở khâu phân phối, lực lượng quản lý thị trường và chính quyền địa phương kiểm tra hàng hóa lưu thông.
Tại bếp ăn tập thể, đặc biệt trong trường học, ngành y tế là cơ quan quản lý chính, người đứng đầu đơn vị phải chịu trách nhiệm toàn bộ từ lựa chọn nhà cung cấp đến quy trình chế biến.
Trong một tình huống cụ thể như thịt lợn nhiễm dịch xuất hiện trong bếp ăn trường học, trách nhiệm được xác định theo toàn bộ chuỗi. Cơ sở chăn nuôi vi phạm có thể bị xử lý hình sự, cơ quan thú y chịu trách nhiệm nếu để lọt khâu kiểm dịch, cơ sở giết mổ vi phạm khi xử lý động vật không đủ điều kiện. Đơn vị cung cấp thực phẩm phải kiểm soát nguồn gốc, trong khi nhà trường chịu trách nhiệm kiểm tra đầu vào. Các cơ quan quản lý địa phương cũng phải xem xét trách nhiệm thanh tra, giám sát.
Đại biểu Phạm Khánh Phong Lan, Giám đốc Sở An toàn thực phẩm TP HCM, cho biết khó khăn lớn hiện nay nằm ở công tác thanh kiểm tra. Việc bỏ thanh tra chuyên ngành, chuyển sang kiểm tra thông thường khiến việc phát hiện, xử lý thực phẩm bẩn gặp nhiều hạn chế, trong khi quy trình kiểm tra còn nặng tính hình thức.
Bà Lan cho rằng việc kiểm tra chủ yếu theo kế hoạch được phê duyệt trước khiến khả năng phát hiện vi phạm thấp. "Khi được duyệt xong, lại phải gửi thông báo cho doanh nghiệp trước khi kiểm tra thì hiệu quả không cao", bà nói.
Bên cạnh đó, lực lượng chức năng thường chỉ được kiểm tra các cơ sở do mình cấp phép, trong khi những cá nhân, tổ chức vi phạm hoạt động lén lút, ngoài phạm vi quản lý hoặc buôn bán trôi nổi. Nhiều vụ việc phải có sự tham gia của lực lượng công an mới xử lý được.
Hiện ngoài TP HCM đã tổ chức mô hình Sở An toàn thực phẩm theo hướng một đầu mối, các địa phương khác vẫn duy trì quản lý phân tán giữa 3 ngành. Theo bà Lan, điều này dẫn đến tình trạng khi có kết quả thì nhiều đơn vị cùng nhận, nhưng khi xảy ra sự cố lại khó xác định trách nhiệm.
Bà cũng cho biết quy trình xử phạt hành chính còn phức tạp, mất nhiều thời gian từ lập biên bản đến ban hành quyết định, doanh nghiệp có thể khiếu nại kéo dài, gây khó khăn cho cơ quan quản lý. Thực trạng sản xuất, kinh doanh nhỏ lẻ phổ biến khiến việc kiểm soát an toàn thực phẩm càng khó khăn hơn.
Để khắc phục, bà Phạm Khánh Phong Lan đề nghị thực hiện nghiêm Chỉ thị 17 của Trung ương, trong đó tập trung thống nhất đầu mối quản lý và tăng cường hậu kiểm. Tuy nhiên, rào cản lớn nhất hiện nay là hành lang pháp lý. Bộ Y tế đang xây dựng dự án Luật An toàn thực phẩm sửa đổi, dự kiến trình Quốc hội vào kỳ họp tháng 10. Khi luật được ban hành, các nghị định và thông tư mới có thể hoàn thiện đồng bộ, thay thế các quy định chồng chéo hiện nay.
Ông Trần Văn Sao, Chủ tịch xã Văn Kiều, cho biết lực lượng chức năng đang phối hợp với ngành điện lực cắt điện, điều động xe cẩu tới hiện trường để đưa thi thể nạn nhân xuống, bàn giao cho gia đình mai táng.
Theo Chủ tịch xã, thời điểm phát hiện, Khánh mặc đồ bảo hộ, thi thể treo lơ lửng trên đường dây điện. Vị trí nơi Khánh gặp nạn là đường dây điện trung thế 35kV, cao hơn 12 m, thuộc xã Văn Kiều (trước đây thuộc huyện Nghi Lộc).
Người thân cho hay sáng nay Khánh mặc đồ bảo hộ, mang theo thang đi bắt chim. Nhà chức trách nhận định trong quá trình bắc thang trèo lên cột điện bắt chim, Khánh không may chạm vào đường dây nên gặp nạn.
Sáng 9/4, Quốc hội thảo luận tại tổ về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng. Điểm đáng chú ý là đề xuất thu hẹp phạm vi các giao dịch bắt buộc phải công chứng.
Theo dự thảo, chỉ các giao dịch quan trọng, giá trị lớn và rủi ro cao mới bắt buộc công chứng, như mua bán, chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp bất động sản giữa cá nhân với cá nhân hoặc với tổ chức không kinh doanh bất động sản. Một số trường hợp đặc biệt như di chúc của người không biết chữ hoặc bị hạn chế về thể chất cũng thuộc diện bắt buộc.
Ngược lại, các giao dịch giá trị nhỏ, rủi ro thấp sẽ không còn bắt buộc công chứng, mà có thể thực hiện theo cơ chế đơn giản hơn.
Nhiều đại biểu bày tỏ đồng tình với hướng sửa đổi này. Đại biểu Dương Đức Hải, Cục trưởng Cục Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy và Cứu nạn cứu hộ, cho rằng chỉ nên bắt buộc công chứng với giao dịch có giá trị lớn, tác động mạnh đến quyền tài sản. Với giao dịch nhỏ như mua bán xe máy cũ vài triệu đồng, nên chuyển sang xác nhận hành chính đơn giản để giảm chi phí và bớt phiền hà cho người dân.
Chủ tịch Trung ương Hội Luật gia Việt Nam Nguyễn Khánh Ngọc cũng ủng hộ việc thu hẹp danh mục bắt buộc công chứng, nhằm bảo đảm quyền tự do thỏa thuận của cá nhân và doanh nghiệp. Ông đề nghị ở những nơi khó khăn như hải đảo, có thể giao UBND cấp xã thực hiện chứng thực với giá trị tương đương để người dân không phải đi lại xa.
Đại biểu Nguyễn Minh Tuấn, Giám đốc Công an tỉnh Phú Thọ, cho rằng cần tiếp tục cắt giảm thủ tục công chứng để đẩy mạnh cải cách hành chính. Cơ quan chức năng có thể nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, trong đó một số nước không bắt buộc công chứng với mọi giao dịch bất động sản mà dựa vào nghĩa vụ thuế để xác lập giao dịch.
Bên cạnh đó, một số ý kiến đề nghị làm rõ hơn quy định trong dự thảo. Đại biểu Võ Ngọc Thanh Trúc, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ TP HCM, cho rằng khái niệm "giao dịch có tính chất quan trọng" còn chung chung, dễ dẫn tới cách hiểu khác nhau. Bà đề nghị cần có tiêu chí cụ thể hoặc giao Chính phủ quy định khung để tránh áp dụng không thống nhất.
Các đại biểu cũng thống nhất rằng với giao dịch bất động sản, việc bắt buộc công chứng vẫn cần thiết nhằm phòng ngừa tranh chấp, bảo vệ người yếu thế và bảo đảm minh bạch thị trường. Đồng thời, cần đơn giản hóa thủ tục, đẩy mạnh số hóa và xây dựng cơ sở dữ liệu công chứng để tiến tới thực hiện công chứng trực tuyến.