Lúc này, rạng sáng 5/4, chuyến bay của hãng hàng không Nhật Bản từ TP HCM đi Tokyo đang ở độ cao 10.000 m, còn khoảng 30 phút nữa là hạ cánh xuống sân bay Haneda. Hệ thống loa trên máy bay vang lên bằng ba ngôn ngữ (Anh, Nhật, Việt), tìm kiếm bác sĩ hỗ trợ hành khách gặp sự cố y tế.
Bác sĩ Tiến, công tác tại Trung tâm Chấn thương Chỉnh hình, Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ, có mặt trên chuyến bay, vừa dùng xong bữa ăn và đang định nghỉ ngơi. Nghe thông báo, anh lập tức đứng dậy tiến về cabin. Một phụ nữ ngất xỉu sau khi đi vệ sinh, đang được tổ bay đặt nằm nghiêng trên sàn. Sắc mặt bệnh nhân nhợt nhạt, gọi hỏi hoàn toàn không đáp ứng.
Tìm hiểu từ người chồng và con trai đi cùng, bác sĩ Tiến ghi nhận bệnh nhân không có tiền sử đái tháo đường (nguyên nhân dễ dẫn đến hạ đường huyết), không tăng huyết áp, chưa từng bị ngất trước đó. Anh yêu cầu tiếp viên mang máy đo huyết áp tới, kiểm tra chỉ số của bệnh nhân 70/40 mmHg – mức tụt huyết áp rất sâu.
“Đây là mức huyết áp nguy hiểm”, bác sĩ Tiến cho biết, một ngày sau sự việc. Mức huyết áp này có thể gây rối loạn nhịp tim, giảm tưới máu đến các cơ quan trọng yếu như não, tim, thận, dẫn đến những biến chứng khó hồi phục như nhồi máu não hoặc nhồi máu cơ tim.
Trong điều kiện hạn chế trên không, không thể xác định ngay nguyên nhân bệnh nhân tụt huyết áp. Bác sĩ quyết định ưu tiên dùng dung dịch đẳng trương theo các khuyến cáo cấp cứu, cho đến khi tìm được nguyên nhân hoặc có đủ phương tiện có thể chẩn đoán chính xác trên bệnh nhân.
Kiểm tra vali cấp cứu y tế (doctor kit) của tổ bay mang theo, phát hiện có dung dịch truyền đẳng trương (Normal Saline) và kim luồn, anh quyết định thiết lập đường truyền tĩnh mạch ngay tại chỗ cho bệnh nhân.
Chuyên ngành chính là chấn thương chỉnh hình, bác sĩ Tiến cho biết những thao tác như đặt đường truyền tĩnh mạch thường xuyên thực hiện thời học bác sĩ nội trú song đã khá lâu anh không đụng đến. Trong khi đó không gian chật hẹp của khoang cabin, máy bay đang giảm độ cao, hơi rung lắc cùng ánh mắt dõi theo của nhiều hành khách xung quanh càng tạo thêm áp lực anh.
“Lúc đó tôi thực sự có chút lo vì mình không làm việc này hằng ngày, nhưng trong tình huống khẩn cấp, không có nhiều thời gian để chần chừ”, bác sĩ Tiến nói với VnExpress, ngày 6/5.
May mắn, thao tác “nhớ nghề” diễn ra trơn tru, kim được đâm vào đúng vị trí và dòng dịch truyền bắt đầu chảy đều. Để cả tổ bay, gồm một tiếp viên người Việt và các tiếp viên người Nhật, có thể phối hợp nhịp nhàng, bác sĩ Tiến chủ động trao đổi hoàn toàn bằng tiếng Anh trong suốt quá trình cấp cứu.
Sau khi thiết lập đường truyền, bác sĩ Tiến được bố trí ngồi cạnh để theo dõi sát sao bệnh nhân. Khoảng 10 phút sau, khi chai dịch vơi đi một nửa, huyết áp dần cải thiện, nữ hành khách mở mắt tỉnh táo trở lại và có thể nói chuyện với người nhà. Trong suốt thời gian còn lại của chuyến bay, tổ tiếp viên liên tục đo huyết áp bệnh nhân mỗi 5 phút và ghi nhận các chỉ số tăng dần.
Nhờ bệnh nhân đáp ứng tốt với dịch truyền, máy bay không phải hạ cánh khẩn cấp. Khi máy bay đáp xuống sân bay Haneda, toàn bộ hành khách được yêu cầu nán lại cabin để đội cấp cứu mặt đất gồm 8-10 người lên tiếp cận bệnh nhân. Bác sĩ Tiến trực tiếp bàn giao tình trạng bệnh nhân cùng các bước đã xử trí cho đội y tế địa phương.
Bác sĩ Tiến sau đó tiếp tục chuyến bay nội địa đến Toyama để tham gia khóa học chuyên sâu về cột sống kéo dài ba tháng. Trước đó, anh học ở Nhật 6 tháng tại tỉnh Yamagata. Anh cũng tham gia nhiều khóa học tại Thụy Sĩ, Đài Loan…
Nhìn lại sự việc, bác sĩ Tiến coi đây là một trải nghiệm khó quên. Quá trình diễn ra chớp nhoáng rồi nhanh chóng trở lại bình thường, nhưng cảm giác xử trí một ca cấp cứu giữa không trung, ở độ cao 10.000 m, là điều anh chưa từng trải qua.
Ngày 7-4, Bệnh viện Phụ sản Hà Nội chia sẻ vừa mổ lấy thai thành công cho sản phụ 56 tuổi mang song thai.
Ở tuổi 56, khi nhiều người đã an yên bên con cháu, bà T.O. (Hà Nội) lại bắt đầu hành trình làm mẹ thêm một lần nữa.
Trực tiếp theo dõi thai kỳ cho sản phụ, bác sĩ Hà Cẩm Thương, Phó khoa sản khoa tự nguyện, Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, cho hay sản phụ mang song thai nhờ thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) có tiền sử mổ đẻ cũ và mắc đái tháo đường thai kỳ, phải theo chỉ định của bác sĩ dùng thuốc insulin hằng ngày.
Quá trình mang thai, từng chỉ số đều được kiểm soát, từng nỗi lo đều được lắng nghe, để niềm tin dần lớn lên theo từng nhịp phát triển của hai con.
Chiều 6-4, khi thai kỳ bước sang tuần 38, sản phụ chuyển dạ và được chỉ định nhập viện mổ lấy thai.
Dù ca mổ tiềm ẩn nhiều nguy cơ, đặc biệt khó khăn trong gây tê, nhưng với kinh nghiệm và sự phối hợp nhịp nhàng, ê kíp đã đón hai bé chào đời an toàn.
Một bé trai 2,9kg, một bé gái 2,4kg, đều khỏe mạnh, phản xạ tốt. Sau ca mổ, sức khỏe sản phụ ổn định, hai bé được chăm sóc chu đáo.
Các bác sĩ khuyến cáo mang thai ở tuổi trên 50 có thể đối mặt với nhiều rủi ro cho cả mẹ và bé. Tuy nhiên việc sinh con và làm mẹ là quyền và thiên chức của mỗi người phụ nữ.
Do đó nếu bản thân mang thai khi đã lớn tuổi, người phụ nữ cần được chăm sóc tốt hơn, cần có được thông tin cụ thể về những biến chứng thường gặp khi mang thai để phòng tránh và giải quyết những rủi ro gặp phải.
Đồng thời phải theo dõi, quản lý thai chặt chẽ tại cơ sở y tế chuyên khoa có đội ngũ bác sĩ có kinh nghiệm để đảm an toàn cho cả mẹ và con.
Trong nhiều năm, các yếu tố nguy cơ của đột quỵ thường được xác định dựa trên lối sống và tình trạng sức khỏe ở tuổi trưởng thành, như béo phì, hút thuốc hay tăng huyết áp. Tuy nhiên, nghiên cứu mới do các nhà khoa học từ University of Gothenburg thực hiện đã mở rộng góc nhìn: nguy cơ đột quỵ có thể đã được "lập trình" từ khi một người chào đời.
Công trình phân tích dữ liệu của gần 800.000 người sinh tại Thụy Điển trong giai đoạn 1973-1982, theo dõi đến năm 2022. Kết quả cho thấy những người có cân nặng khi sinh dưới mức trung bình (khoảng 3kg) có nguy cơ đột quỵ cao hơn rõ rệt khi bước vào tuổi trưởng thành.
Cụ thể, nhóm này có nguy cơ mắc tất cả các dạng đột quỵ tăng khoảng 21%, trong đó nguy cơ đột quỵ thiếu máu cục bộ tăng đáng kể, còn xuất huyết nội sọ, dạng đột quỵ nguy hiểm hơn, tăng tới 27%.
Điều đáng chú ý là mối liên hệ này không bị ảnh hưởng bởi chỉ số BMI khi trưởng thành hay tuổi thai lúc sinh, cho thấy cân nặng khi sinh là một yếu tố độc lập.
Các nhà khoa học cho rằng cân nặng khi sinh phản ánh môi trường phát triển trong tử cung. Khi thai nhi không nhận đủ dinh dưỡng hoặc gặp điều kiện bất lợi, cơ thể có thể "thích nghi" bằng cách thay đổi cấu trúc và chức năng của các cơ quan, bao gồm hệ tim mạch và mạch máu não.
Những thay đổi này có thể không biểu hiện ngay nhưng âm thầm làm tăng nguy cơ bệnh lý trong tương lai, đặc biệt là các bệnh liên quan đến tuần hoàn máu như đột quỵ.
Nói cách khác, cơ thể "ghi nhớ" điều kiện sống từ trong bụng mẹ, và điều đó có thể ảnh hưởng đến sức khỏe suốt nhiều thập kỷ sau.
Mặc dù tỉ lệ đột quỵ đã giảm ở nhiều quốc gia phát triển, nhưng xu hướng này không rõ rệt ở người trẻ. Thậm chí, tại một số khu vực ở Đông Nam Á và các nước phát triển, tỉ lệ đột quỵ ở người trẻ và trung niên đang có dấu hiệu gia tăng.
Điều này khiến các nhà khoa học đặc biệt quan tâm đến những yếu tố nguy cơ "sớm" như cân nặng khi sinh, những yếu tố mà trước đây ít được chú ý trong đánh giá nguy cơ.
Không thể thay đổi quá khứ, nhưng có thể phòng ngừa tương lai. Đối với người trưởng thành hiện nay, cân nặng khi sinh là yếu tố không thể thay đổi. Tuy nhiên, việc nhận diện nguy cơ sớm có thể giúp chủ động phòng ngừa.
Những người từng sinh nhẹ cân nên chú ý hơn đến các yếu tố nguy cơ khác như huyết áp, chế độ ăn, vận động và kiểm tra sức khỏe định kỳ. Việc kiểm soát tốt các yếu tố này có thể giúp giảm đáng kể nguy cơ đột quỵ.
Quan trọng hơn, phát hiện này mở ra cơ hội can thiệp từ sớm, ngay từ giai đoạn mang thai. Chăm sóc dinh dưỡng tốt cho mẹ bầu, theo dõi thai kỳ chặt chẽ và đảm bảo điều kiện phát triển tối ưu cho thai nhi có thể góp phần giảm nguy cơ bệnh tật cho thế hệ tương lai.
Nghiên cứu được trình bày tại European Congress on Obesity 2026 không chỉ cung cấp thêm bằng chứng về mối liên hệ giữa giai đoạn đầu đời và sức khỏe lâu dài, mà còn gợi ý rằng cân nặng khi sinh có thể được đưa vào các mô hình đánh giá nguy cơ bệnh tim mạch.
Đây là một bước tiến trong cách tiếp cận y học dự phòng, không chỉ nhìn vào hiện tại, mà còn xem xét toàn bộ "lịch sử sinh học" của một con người.
Theo đó, chủ trương của thành phố Đà Nẵng sẽ nâng quy mô Trung tâm Y tế khu vực Sơn Trà lên khoảng 350 giường bệnh trong giai đoạn 2025-2030, hướng tới trở thành bệnh viện đa khoa khu vực thực hiện chức năng khám bệnh và điều trị nội trú.
Dự án sẽ mở rộng khuôn viên trung tâm về phía nam, giáp đường Vũ Văn Dũng. Sau khi mở rộng, diện tích khu đất khoảng 20.859m², gần gấp đôi so với hiện trạng. Thành phố dự kiến chi hơn 112,3 tỉ đồng để đền bù, giải phóng mặt bằng và bố trí 16 lô đất tái định cư tại các khu dân cư thuộc phường An Hải.
Theo quy hoạch, dự án sẽ xây dựng mới khối đa chức năng cao 9 tầng nổi và 1 tầng hầm với quy mô 160 giường bệnh; xây dựng khối lây nhiễm 3 tầng, nhà đại thể, quầy thuốc và hành lang nối giữa các khối nhà.
Bên cạnh đó, khối nhà 9 tầng hiện trạng với 180 giường và khối đông y - phục hồi chức năng cũng sẽ được cải tạo, nâng cấp đồng bộ về công năng, hạ tầng và trang thiết bị y tế.
Tổng mức đầu tư dự án gần 700 tỉ đồng từ ngân sách thành phố. Dự án dự kiến triển khai xây dựng trong giai đoạn 2026-2029. Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp và hạ tầng kỹ thuật Đà Nẵng được giao làm chủ đầu tư kiêm quản lý dự án.