Thành công nổi bật của hoạt động đối sánh giai đoạn 2020-2025 là góp phần minh bạch chất lượng giáo dục phổ thông (GDPT). Thay vì chỉ dựa vào tỷ lệ tốt nghiệp hay số lượng điểm cao, dữ liệu đối sánh giúp nhận diện rõ hơn chất lượng thực của quá trình dạy và học. Nhờ đó, nhiều địa phương xác định được vị trí của mình trong tương quan cả nước (đối sánh ngang) và theo dõi được xu hướng tiến bộ hay thụt lùi qua các năm (đối sánh dọc).
Đối sánh cũng tạo ra áp lực cải tiến tích cực. Khi chênh lệch giữa điểm học bạ và điểm thi được chỉ ra, nhiều địa phương buộc phải rà soát lại công tác kiểm tra, đánh giá trong nhà trường. Một số nơi đã triển khai giải pháp nâng cao chất lượng và đạt kết quả rõ nét khi thứ hạng điểm trung bình thi (TBĐT) toàn quốc được cải thiện. Chẳng hạn, Nghệ An tăng hạng mạnh từ vị trí 38 năm 2020 lên hạng 2 năm 2025; Hà Tĩnh từ 24 lên 4; Vĩnh Phúc (cũ) không chỉ tăng hạng mà nhiều năm giữ vị trí dẫn đầu. Ở chiều ngược lại, một số địa phương có xu hướng giảm hạng như Vĩnh Long, Đồng Tháp, Lâm Đồng, Đà Nẵng (cũ).
Từ góc độ quản lý, đối sánh góp phần hình thành tư duy sử dụng dữ liệu trong hoạch định chính sách và điều chỉnh hoạt động dạy và học. Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất hiện nay là đặt tất cả địa phương vào cùng một “mặt bằng so sánh”, trong khi điều kiện kinh tế – xã hội, nguồn lực giáo dục và chất lượng đầu vào rất khác nhau. Vì vậy, đối sánh theo nhóm các địa phương hoặc trường học có điều kiện tương đồng là cách tiếp cận hợp lý, giúp so sánh công bằng và hỗ trợ cải tiến chất lượng giáo dục.
Dữ liệu TBĐT kỳ thi tốt nghiệp THPT giai đoạn 2021–2025 cho thấy có sự phân hóa rõ rệt giữa 12 địa phương, gồm 6 thành phố trực thuộc T.Ư và 6 địa phương sáp nhập vào các thành phố này, như Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu, Hải Dương, Quảng Nam, Sóc Trăng và Hậu Giang.
“TBĐT 5 năm” của mỗi địa phương được tính bằng trung bình cộng TBĐT từng năm của địa phương đó. Chẳng hạn, Bình Dương có TBĐT từng năm giai đoạn 2021-2025 lần lượt là 7,055, 7,021, 7,161, 7,320 và 6,480 thì “TBĐT 5 năm” của tỉnh này là 7,007.
Tính “TBĐT 5 năm” giai đoạn 2021–2025 của 12 địa phương cho thấy mức bình quân chung đạt 6,490 điểm. Lấy mốc này để so sánh, có 6 địa phương có điểm trung bình cao hơn, gồm: Bình Dương (7,007 điểm), Hải Phòng (6,765 điểm), Hải Dương (6,648 điểm), TP.HCM (6,625 điểm), Hà Nội (6,552 điểm) và Cần Thơ (6,525 điểm).
6 địa phương còn lại có điểm trung bình thấp hơn mức này, gồm: Bà Rịa – Vũng Tàu (6,474 điểm), Huế (6,453 điểm), Đà Nẵng (6,224 điểm), Quảng Nam (6,217 điểm), Hậu Giang (6,197 điểm) và Sóc Trăng (6,187 điểm).
Như vậy, trong 12 địa phương được so sánh, một nửa có kết quả cao hơn mức trung bình chung và một nửa thấp hơn.
Trong nhóm TP.HCM – Bình Dương – Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương nổi bật với điểm trung bình 7,007, luôn nằm trong nhóm dẫn đầu cả nước. TP.HCM đạt 6,625 điểm, còn Bà Rịa – Vũng Tàu thấp hơn với 6,474 điểm.
Cặp Hải Phòng – Hải Dương có kết quả khá gần nhau (6,765 và 6,648 điểm), cho thấy chất lượng giáo dục trong vùng tương đối cân bằng.
Ở các nhóm còn lại, khoảng cách thể hiện rõ hơn. Đà Nẵng chưa tạo được chênh lệch đáng kể so với Quảng Nam (6,224 so với 6,217), dù điều kiện phát triển thuận lợi hơn. Tại ĐBSCL, Cần Thơ giữ vai trò trung tâm với điểm trung bình cao hơn nhiều so với Hậu Giang và Sóc Trăng, phản ánh sự chênh lệch về chất lượng giáo dục. TBĐT và thứ hạng của 12 địa phương được thể hiện ở bảng sau:
Đối sánh nhóm 6 thành phố lớn sau sáp nhập
Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2025 có nhiều thay đổi: thi theo Chương trình GDPT 2018, số môn thi giảm còn 4 (toán, ngữ văn và 2 môn tự chọn), ngoại ngữ chuyển từ bắt buộc sang tự chọn. Đồng thời, tuyển sinh ĐH không còn xét tuyển sớm, xét học bạ phải tính cả điểm học kỳ II lớp 12. Những điều chỉnh này đã làm thay đổi bức tranh kết quả thi giữa các địa phương, đặc biệt là 6 thành phố trực thuộc T.Ư.
Kết quả đối sánh năm 2025 cho thấy sự phân hóa khá rõ. Hà Nội dẫn đầu với 6,451 điểm, xếp thứ 5/34 toàn quốc. Hải Phòng đứng ngay sau với 6,346 điểm, xếp thứ 6/34, cho thấy chất lượng giáo dục ổn định. TP.HCM và Huế thuộc nhóm tiếp theo, lần lượt xếp thứ 8 và thứ 9.
Trong khi đó, Cần Thơ – sau khi sáp nhập thêm Hậu Giang và Sóc Trăng – xếp thứ 16/34, phản ánh những khó khăn đặc thù của giáo dục vùng ĐBSCL Cửu Long. Đà Nẵng đứng thứ 23/34, thấp nhất trong nhóm 6 thành phố. Đây không phải hiện tượng nhất thời mà là xu hướng kéo dài nhiều năm, khi Đà Nẵng và Quảng Nam thường nằm trong nhóm địa phương có điểm trung bình thấp.
Kết quả này cho thấy việc sáp nhập địa giới hành chính chủ yếu tạo ra không gian quản lý mới, còn mặt bằng chất lượng giáo dục giữa các vùng trong mỗi thành phố vẫn chưa thật sự đồng đều.
Xây dựng bản đồ chất lượng đến từng xã, phường, trường học
Để các “siêu đô thị” hình thành sau sáp nhập thực sự trở thành động lực nâng cao chất lượng giáo dục quốc gia, hoạt động đối sánh theo nhóm cần được xác lập như một công cụ phản hồi và điều chỉnh chính sách. Giá trị cốt lõi của đối sánh không nằm ở xếp hạng, mà ở khả năng chỉ ra khoảng cách, nhận diện nguyên nhân và gợi mở cải tiến phù hợp.
Trước hết, các đô thị cần xây dựng bản đồ chất lượng giáo dục đến từng xã, phường, từng trường, phản ánh đầy đủ điều kiện kinh tế – xã hội, quy mô trường lớp, đội ngũ giáo viên và kết quả học tập của học sinh. Đây sẽ là cơ sở để phân bổ nguồn lực theo nhu cầu thực tiễn, thay vì chia đều hay dựa vào địa giới hành chính. Kết quả khảo sát chất lượng học sinh lớp 12 của Hà Nội vừa mới đây đã cho thấy rõ tính cần thiết của giải pháp này.
Thứ hai, cần mở rộng quyền tự chủ cho các địa phương và nhà trường khi phạm vi quản lý rộng lớn hơn, đồng thời thiết kế các gói hỗ trợ có mục tiêu rõ ràng cho những khu vực còn yếu, gắn chặt trách nhiệm giải trình với kết quả đầu ra. Đối sánh theo nhóm giúp xác định cụ thể đối tượng cần hỗ trợ, mức độ hỗ trợ và thời gian hỗ trợ, qua đó hạn chế tình trạng đầu tư dàn trải nhưng hiệu quả thấp. Các trường học từng bước trở thành tổ chức tự học hỏi và tự cải tiến qua đối sánh và kiểm định.
Thứ ba, phát triển đội ngũ giáo viên theo vùng trong nội bộ đô thị là giải pháp then chốt. Việc tạo cơ chế luân chuyển, chia sẻ giáo viên giỏi giữa khu vực trung tâm và vùng ven, vùng khó khăn sẽ góp phần thu hẹp chênh lệch chất lượng đã kéo dài nhiều năm, đồng thời tạo môi trường phát triển nghề nghiệp công bằng hơn cho đội ngũ nhà giáo.
Chiều 7.4, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM tổ chức tọa đàm với chủ đề "Đánh giá năng lực học sinh lớp 9: Thước đo chuẩn hóa và cầu nối chuyển cấp theo chương trình giáo dục phổ thông".
GS-TS Huỳnh Văn Sơn, Hiệu trưởng nhà trường, cho hay Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đã chính thức được triển khai và đến nay đang bước vào một giai đoạn rất đặc biệt. Những học sinh đầu tiên học theo chương trình mới từ lớp 1 đến lớp 12 đã hoàn thành chương trình vào năm học 2024–2025, đánh dấu một chu kỳ triển khai quan trọng. Đây không chỉ là cột mốc về mặt thời gian, mà còn là thời điểm cần thiết để chúng ta có những nhìn nhận, đánh giá sâu sắc hơn về hiệu quả của chương trình, đặc biệt là về việc đánh giá năng lực học sinh – một trong những trụ cột cốt lõi của chương trình giáo dục mới.
Cũng theo GS Huỳnh Văn Sơn, khác với cách tiếp cận trước đây chủ yếu dựa trên việc kiểm tra, đánh giá kiến thức, chương trình Giáo dục phổ thông 2018 hướng đến phát triển phẩm chất và năng lực người học. "Tuy nhiên, trên thực tế, việc hiểu đúng và triển khai đúng đánh giá năng lực vẫn còn nhiều thách thức. Không ít nơi, việc đánh giá vẫn mang nặng tính kiểm tra, chấm điểm, chưa thực sự phản ánh được năng lực vận dụng, tư duy và khả năng giải quyết vấn đề của học sinh", GS Huỳnh Văn Sơn nói.
Chính vì vậy, theo GS Huỳnh Văn Sơn, việc củng cố nhận thức đúng đắn về đánh giá năng lực là hết sức cần thiết, không chỉ đối với đội ngũ giáo viên mà còn đối với cán bộ quản lý giáo dục các cấp. Đánh giá năng lực không chỉ là "đo lường" kết quả học tập, mà bản chất sâu xa của nó là một hoạt động học tập, góp phần thúc đẩy sự tiến bộ của học sinh, giúp người học hiểu rõ mình, định hướng phát triển và thích ứng với các yêu cầu học tập tiếp theo.
Hiệu trưởng Trường ĐH Sư phạm TP.HCM cũng cho hay từ năm 2022, trường đã tổ chức kỳ thi đánh giá năng lực chuyên biệt dành cho học sinh THPT. Trên cơ sở đó, trường tiếp tục mở rộng hướng nghiên cứu ở cấp THCS, đặc biệt là đối với học sinh lớp 9 – giai đoạn chuyển tiếp quan trọng từ THCS lên THPT. Từ đầu năm 2025, trường đã thành lập các nhóm nghiên cứu chuyên môn, tiến hành xây dựng định dạng bài thi và ngân hàng câu hỏi nhằm đánh giá năng lực chuyên biệt của học sinh lớp 9. Dự kiến từ năm học 2026–2027, hoạt động đánh giá này sẽ được triển khai rộng rãi, từng bước trở thành một công cụ hỗ trợ hữu hiệu cho việc đánh giá năng lực của học sinh khi tốt nghiệp THCS và chuyển cấp.
Tại tọa đàm, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM giới thiệu bài thi đánh giá năng lực chuyên biệt dành cho học sinh lớp 9 do trường nghiên cứu và phát triển, bao gồm định dạng bài thi, cấu trúc đề thi và cách thức xây dựng ngân hàng câu hỏi theo hướng chuẩn hóa, hiện đại. Đồng thời, thảo luận về khả năng triển khai và sử dụng kết quả đánh giá năng lực, đặc biệt trong việc hỗ trợ tuyển sinh, phân luồng và định hướng học tập cho học sinh trong giai đoạn chuyển cấp.
Trường tiểu học và trung học Sasayama, từng nổi tiếng với tên gọi dài nhất tại Nhật Bản, đã chính thức đóng cửa từ đầu tháng 4, khép lại lịch sử hơn 70 năm, do số lượng học sinh theo học ngày càng ít.
Tên chính thức của trường là “Trường tiểu học và trung học cơ sở Sasayama thuộc Liên hiệp các trường tiểu học và trung học Sasayama do thị trấn Ainan, quận Minamiuwa, tỉnh Ehime và thành phố Sukumo, tỉnh Kochi quản lý” (tên gọi tắt là Trường tiểu học và trung học Sasayama). Ngôi trường này nổi tiếng vì có tên dài nhất tại Nhật Bản.
Ngôi trường tọa lạc ở thị trấn Ainan, tỉnh Ehime, sát con sông Shinogawa là ranh giới giữa hai tỉnh Ehime và tỉnh Kochi. Cách đây 70 năm, cư dân ở thị trấn hai bên bờ sông thường xuyên qua lại và cùng nhau thống nhất thành lập trường trung học vào năm 1949, trường tiểu học vào năm 1952 và đặt tên gọi mang dấu ấn của cả hai địa phương.
Theo thông lệ của trường, học sinh sau khi nhập học đều phải thường xuyên luyện đọc tên trường trong các giờ ra chơi đến khi thuộc lòng.
Mặc dù với những người khác việc đọc tên trường quá dài là một phiền toái, nhưng đối với không ít cựu học sinh của trường thì đây lại là niềm tự hào, là “điểm nhấn” khi giới thiệu về bản thân.
Vào thời kỳ cao điểm nhất là cuối những năm 50 của thế kỷ trước, trường có khoảng 300 học sinh theo học, nhưng sau đó số lượng giảm dần. Đến năm học 2025 chỉ còn 9 học sinh, trong đó có 3 học sinh tiểu học và 6 học sinh trung học.
Điều này khiến việc duy trì vận hành trường gặp nhiều khó khăn.
Hiện phía tỉnh Kochi không còn học sinh nào theo học và từ tháng 4, các học sinh còn lại của trường sẽ chuyển sang các trường khác trong thị trấn Ainan, với khoảng 110 học sinh tiểu học và 60 học sinh trung học.
Việc đóng cửa ngôi trường nhiều năm tuổi để lại không ít tiếc nuối cho những người dân từng gắn bó từ khi còn nhỏ. Tuy nhiên điều này cũng phản ánh một thực trạng tỉ lệ sinh giảm ngày càng nghiêm trọng tại Nhật Bản, đặc biệt là tại các địa phương vùng sâu, vùng xa, khiến nhiều trường học khó duy trì đủ số lượng học sinh cần thiết và buộc phải sáp nhập với các trường khác.
Chiều nay, 7.4, tại Trường THPT chuyên Chu Văn An (Hà Nội) đã diễn ra buổi giao lưu giữa PGS Nguyễn Quỳnh Lan, Viện Nghiên cứu tiên tiến, Đại học Phenikaa, với học sinh của trường.
Tại đây, nhà vật lý thiên văn đã chia sẻ những thông tin thú vị nhằm "giải oan" cho ngành học bị mang định kiến "trên trời" này.
PGS Nguyễn Quỳnh Lan cho biết, vật lý thiên văn vẫn bị mang tiếng là ngành học xa vời, viển vông, trong khi thực tế nó xuất phát từ "mặt đất" và đang có nhiều ứng dụng phục vụ cuộc sống ngay trên "mặt đất".
PGS Nguyễn Quỳnh Lan nói: "Thiên văn học là một ngành khoa học có từ thời cổ đại, bắt nguồn từ những trận lũ lụt do dòng sông Nile gây nên. Hồi ấy, các tu sĩ Ai Cập đã phải nhìn lên bầu trời để xác định chu kỳ nước sông Nile lên xuống, từ đó tính toán thời gian gieo trồng và thu hoạch mùa màng trước khi lũ tràn về san phẳng làng mạc. Cách ra đời của ngành thiên văn học tương tự như ngành hình học (Geometry - đo đất), cũng là từ nhu cầu thực tiễn thời Ai Cập cổ đại nhằm đo đạc lại ruộng đồng sau mỗi mùa lũ".
Cũng theo PGS Nguyễn Quỳnh Lan, ngày nay, thiên văn học tiếp tục hiện diện trong nhiều khía cạnh của đời sống con người. Hệ thống định vị GPS chúng ta sử dụng trên điện thoại di động chính là kết quả của việc nghiên cứu các vệ tinh trong thiên văn.
Hoặc điện hạt nhân bắt nguồn từ việc nghiên cứu các phản ứng nhiệt hạt nhân trong lòng mặt trời. Ngay cả những hiện tượng gây nhiễu động từ trường hay làm giảm tuổi thọ vệ tinh thực chất cũng xuất phát từ việc mặt trời hoạt động mạnh, sinh ra các vết đen và phát xạ hạt mang điện tạo thành bão từ.
PGS Nguyễn Quỳnh Lan tiếp tục mang đến cho các học sinh ham thích khám phá tự nhiên của Trường THPT chuyên Chu Văn An một bất ngờ khác khi giới thiệu một tiến bộ mới trong ngành vật lý thiên văn: lắng nghe tiếng vọng của vũ trụ qua sóng hấp dẫn.
PGS Nguyễn Quỳnh Lan cho biết, nhà bác học Albert Einstein là người dự đoán sự tồn tại của sóng hấp dẫn vào năm 1916 trong thuyết tương đối tổng quát. Đây là một khám phá về lý thuyết, sóng hấp dẫn được tạo ra từ các sự kiện vũ trụ năng lượng lớn (như 2 lỗ đen sáp nhập) làm rung chuyển không - thời gian. Nhưng đến năm 2015, các nhà khoa học tại đài quan sát LIGO (Mỹ) mới lần đầu tiên ghi nhận được sự hiện diện của sóng hấp dẫn (phát hiện này được công bố năm 2016, được giải Nobel năm 2017).
Để ghi nhận được sự hiện diện của sóng hấp dẫn, các nhà khoa học đã xây dựng những đài quan sát nằm sâu trong lòng đất hoặc ở những không gian được cách ly đặc biệt trên mặt đất. Từ trái đất, qua những máy "siêu dò", các nhà khoa học "lắng nghe tiếng vọng của vũ trụ", ghi nhận những dao động nhỏ nhất từ vũ trụ xa xôi.
Theo PGS Nguyễn Quỳnh Lan, việc nắm bắt được loại sóng này đòi hỏi hàng chục năm nỗ lực của một mạng lưới hợp tác quốc tế khổng lồ. Hiện tại, những gì con người có thể thấy và nghe được mới chỉ chiếm khoảng 4% vũ trụ, 96% còn lại vẫn là bức màn bí ẩn của vật chất tối và năng lượng tối. Do đó, kiến thức cần được khám phá của ngành vật lý thiên văn là vô cùng mênh mông. Tương lai của ngành vẫn còn nằm ở phía trước và phụ thuộc vào các bạn học sinh yêu vật lý thiên văn.