Bộ Tài chính vừa công bố dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 68/2026/NĐ-CP quy định về chính sách thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh (hộ kinh doanh) và Nghị định 320/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành luật Thuế thu nhập doanh nghiệp.
Theo đó, Bộ Tài chính đề xuất tăng mức doanh thu năm không phải nộp thuế thu nhập cá nhân của hộ kinh doanh lên 1 tỉ đồng/năm. Đồng thời, nâng mức doanh thu không chịu thuế giá trị gia tăng của hộ kinh doanh lên 1 tỉ đồng/năm.
Mức này cũng thống nhất với quy định hộ kinh doanh có mức doanh thu hằng năm từ 1 tỉ đồng trở lên sử dụng hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền kết nối chuyển dữ liệu điện tử với cơ quan thuế.
Trước đó, ngưỡng doanh thu miễn thuế của hộ kinh doanh vừa được nâng lên 500 triệu đồng/năm từ ngày 1.1.2026.
Để đồng bộ với ngưỡng doanh thu không phải nộp thuế của hộ kinh doanh, Bộ Tài chính còn đề xuất xác định ngưỡng doanh thu được miễn thuế của doanh nghiệp nhỏ là 1 tỉ đồng/năm.
Tổng doanh thu làm căn cứ xác định doanh nghiệp thuộc đối tượng được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp là tổng doanh thu từ hoạt động bán hàng, cung cấp dịch vụ (không bao gồm các khoản giảm trừ doanh thu), doanh thu từ hoạt động tài chính và thu nhập khác trên phụ lục kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh kèm theo tờ khai quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp của kỳ tính thuế năm trước liền kề.
Trường hợp doanh nghiệp có thời gian hoạt động của kỳ tính thuế năm trước liền kề dưới 12 tháng thì tổng doanh thu kỳ tính thuế năm trước liền kề được xác định bằng tổng doanh thu thực tế trong kỳ tính thuế đó chia cho số tháng doanh nghiệp thực tế hoạt động sản xuất, kinh doanh trong kỳ tính thuế x 12 tháng.
Trường hợp doanh nghiệp mới thành lập, doanh nghiệp chuyển đổi loại hình doanh nghiệp, chuyển đổi hình thức sở hữu, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách trong tháng bất kỳ của kỳ tính thuế năm trước liền kề thì thời gian hoạt động được tính đủ tháng.
Trường hợp doanh nghiệp mới thành lập trong kỳ tính thuế và dự kiến tổng doanh thu trong kỳ tính thuế không quá 1 tỉ đồng thì doanh nghiệp tạm xác định không phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp.
Kết thúc kỳ tính thuế, trường hợp tổng doanh thu thực tế trong kỳ tính thuế vượt mức 1 tỉ đồng thì doanh nghiệp thực hiện kê khai, quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định.
Trường hợp tổng doanh thu thực tế không đáp ứng điều kiện để được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp như dự kiến thì doanh nghiệp nộp bổ sung số tiền thuế còn thiếu và tiền chậm nộp theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
Theo tính toán của cơ quan thuế, hiện nay, số hộ kinh doanh có doanh thu năm dưới 1 tỉ đồng là khoảng hơn 2,55 triệu hộ.
Với đề xuất như trên, dự kiến, số giảm thu ngân sách nhà nước là khoảng 16.650 tỉ đồng so với năm 2025 (thu theo chế độ thuế khoán và mức ngưỡng doanh thu không phải nộp thuế là 100 triệu đồng/năm); giảm khoảng 4.850 tỉ đồng so với chính sách hiện hành đã điều chỉnh ngưỡng doanh thu miễn thuế lên 500 triệu đồng/năm.
Với dự kiến miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có tổng doanh thu không quá 1 tỉ đồng/năm, số thuế thu nhập doanh nghiệp được miễn là khoảng 2.164 tỉ đồng và số lượng doanh nghiệp được miễn khoảng 235.800 doanh nghiệp.
Dự kiến, nghị định có hiệu lực từ ngày 1.1.2026.
Để tránh vướng mắc trong thực hiện, dự thảo nghị định quy định nội dung chuyển tiếp như sau: trường hợp hộ kinh doanh tự xác định có mức doanh thu năm từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ từ 1 tỉ đồng trở xuống mà đã kê khai nộp thuế thu nhập cá nhân, thuế giá trị gia tăng theo quy định tại Nghị định 68/2026/NĐ-CP thì được xử lý tiền thuế đã nộp theo quy định tại điều 12 Nghị định 68/2026/NĐ-CP.
Trường hợp doanh nghiệp đã tạm nộp thuế thu nhập doanh nghiệp quý 1/2026 mà doanh nghiệp dự kiến tổng doanh thu trong kỳ tính thuế từ 1 tỉ đồng trở xuống thì không phải tạm nộp thuế thu nhập các quý tiếp theo.
Kết thúc năm 2026, nếu tổng doanh thu từ 1 tỉ đồng trở xuống thì doanh nghiệp được bù trừ số thuế thu nhập doanh nghiệp tạm nộp vào năm tiếp theo (nếu có) hoặc được hoàn trả theo quy định của pháp luật về quản lý thuế đối với số thuế nộp thừa…
Với tính năng này, Grab trở thành một trong những nền tảng ứng dụng tiên phong cung cấp một sản phẩm tiện ích vượt trội, có khả năng tích hợp các hệ thống trạm sạc được phát triển bởi những nhà cung cấp khác nhau để các bác tài tìm kiếm trạm sạc, sạc và thanh toán - tất cả liền mạch chỉ trên một ứng dụng Grab Driver.
Theo một khảo sát do Grab Việt Nam thực hiện với các đối tác tài xế đang sử dụng ô tô điện, 62% bác tài phải tải từ 2 ứng dụng trạm sạc trở lên để sử dụng. Việc nạp tiền vào mỗi ứng dụng để có thể sử dụng dần cũng là một điều khiến tài xế phải đắn đo vì với họ, đây là dòng tiền bị ứ đọng. Chưa kể, tài xế cảm thấy khó quản lý vì tiền nằm ở các ví khác nhau.
Bên cạnh đó, pin là nỗi lo chung của tài xế trong lúc vận hành xe. Có đến 68% tài xế tham gia khảo sát chia sẻ rằng họ bắt đầu cảm thấy lo lắng và phải đi tìm trạm sạc ngay khi pin còn dưới 30% hoặc sau khi vừa nhận một chuyến đi dài và lúc kết thúc ngày làm việc. Đặc biệt, các tài xế thuộc nhóm "cẩn trọng cao" (12%) bắt đầu tìm trạm sạc ngay khi có thời gian rảnh để đảm bảo lượng pin luôn ở ngưỡng phù hợp.
Một nỗi lo khác của tài xế là việc thiếu thông tin về dữ liệu trạm sạc. Có đến 64% tài xế cho biết họ từng ít nhất một lần lái xe đến trạm sạc nhưng phải quay đi vì trạm hỏng, đang bảo trì, hoặc khu vực dành riêng cho cư dân nhưng không biết thông tin, hoặc đã kín chỗ.
Ông Mã Tuấn Trọng, Giám đốc Điều hành Grab Việt Nam, cho biết: Việc ra mắt tính năng 'Tiện ích xe điện' là bước tiến quan trọng trong chiến lược chuyển đổi xanh của Grab. Không chỉ là giải pháp bền vững để giải quyết các rào cản mà đối tác tài xế sử dụng xe điện đang gặp phải, tính năng này còn có thể giúp họ trải nghiệm trạm sạc liền mạch, yên tâm vận hành và ổn định sinh kế.
"Chúng tôi tin rằng điều này còn mang ý nghĩa thúc đẩy rất lớn đối với các đối tác tài xế chưa chuyển đổi, từ đó tăng số lượng xe điện trên nền tảng Grab và góp phần thực hiện mục tiêu Net Zero của Việt Nam" - ông Trọng khẳng định.
Giờ đây, chỉ bằng cách mở ứng dụng Grab Driver, nhấp vào biểu tượng của tính năng, đối tác tài xế có thể dễ dàng tiếp cận với tiện ích sạc bất cứ khi nào mà không cần phải thông qua bước đăng ký bổ sung hay đăng nhập các ứng dụng riêng lẻ của từng nhà cung cấp trạm sạc.
Các bác tài cũng không cần nạp tiền trước vào tài khoản trên mỗi ứng dụng sạc để sử dụng dần. Thông tin về các trạm sạc và tình trạng của từng trụ sạc được hiển thị theo thời gian thực, đảm bảo độ tin cậy để đối tác tài xế có thể lựa chọn được nơi sạc phù hợp với nhu cầu. Toàn bộ thao tác liên quan đến quá trình sạc - từ tìm kiếm, lựa chọn trạm sạc, bắt đầu và hoàn tất sạc đến thanh toán - tất cả liền mạch chỉ trên một ứng dụng Grab Driver.
Bên cạnh đó, đối tác tài xế có thể tận hưởng các ưu đãi giảm giá sạc thông qua hợp tác giữa Grab với nhiều nhà cung cấp trạm sạc.
Hiện tại, nền tảng do Voltality phát triển dưới hình thức tính năng "Tiện ích xe điện" trên ứng dụng Grab Driver dự kiến sẽ kết nối với hơn 250 trạm sạc mở từ 4 nhà cung cấp trạm sạc trong nửa đầu năm 2026. Nền tảng sẽ tiếp tục được mở rộng mạnh mẽ, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của đối tác tài xế sử dụng xe điện đang gia tăng trên nền tảng Grab.
Hơn 3 năm qua, Hiệp hội Bất động sản TP.HCM (HoREA) vẫn kiên trì kiến nghị bãi bỏ các quy định này. Khảo sát của Thanh Niên với nhiều doanh nghiệp cho thấy quy định này vẫn làm khó họ dù đã "tạm ngưng".
Cụ thể, khoản 9 điều 8 của Thông tư 39 cấm cho vay để góp vốn thực hiện dự án đầu tư không đủ điều kiện đưa vào kinh doanh tại thời điểm quyết định cho vay.
Lãnh đạo một doanh nghiệp bất động sản diễn giải: Quy định này đồng nghĩa với việc dự án bất động sản phải được cơ quan có thẩm quyền ra thông báo đủ điều kiện bán nhà ở hình thành trong tương lai thì mới được vay vốn ngân hàng. Ông nhìn nhận quy định này giúp bảo đảm an toàn cho hệ thống ngân hàng, nhưng mặt khác, doanh nghiệp sẽ vô cùng khó khăn để phát triển dự án. Bởi bên cạnh quy định này còn có thêm quy định dự án muốn chuyển nhượng phải có sổ hồng. Như vậy, trong trường hợp doanh nghiệp có dự án nhưng do khó khăn hoặc không đủ nguồn lực, kinh nghiệm để triển khai thì muốn bán cũng không được mà muốn vay vốn từ ngân hàng cũng không xong. Chỉ còn cách "ôm" dự án chịu chết mòn theo thời gian.
"Quy định này bất cập và không phù hợp thực tế. Vì để có đất sạch, doanh nghiệp đã phải bỏ ra một số tiền rất lớn để mua. Mới đây chúng tôi mua lại một dự án ở khu vực H.Nhà Bè cũ (TP.HCM) với số tiền gần 1.000 tỉ đồng. Mua xong là cạn tiền, muốn triển khai tiếp thì buộc phải vay vốn từ ngân hàng nhưng chiếu theo quy định trên thì lại không được. Để được vay tiền, chúng tôi buộc phải lách luật bằng cách lập các công ty con để vay tăng vốn điều lệ hoặc phát hành trái phiếu doanh nghiệp. Tài sản thế chấp cũng chính bằng miếng đất. Ngân hàng khi giải ngân đều biết số tiền trên được dùng để phát triển dự án thay vì dùng đúng mục đích như quy định trong hợp đồng tín dụng", vị lãnh đạo doanh nghiệp nói thẳng.
Ở một góc nhìn khác, ông Phan Viết Nuôi, Chủ tịch HĐQT Công ty Tư vấn và Đầu tư NHQ, nói thêm hiện nay theo luật Đầu tư, khi doanh nghiệp đã có đất sạch, cơ quan chức năng sẽ lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án bằng các hình thức như: chấp thuận nhà đầu tư hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời chấp thuận nhà đầu tư. Trong trường hợp chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời chấp thuận nhà đầu tư, khi đó doanh nghiệp đã tạo lập được quỹ đất nên mới được cơ quan có thẩm quyền lựa chọn đầu tư thực hiện dự án. Tới lúc này dự án gần như đã hoàn thiện pháp lý vì hiện nay luật cũng đã bỏ thủ tục cấp phép xây dựng.
"Tại thời điểm này thường phát sinh nhu cầu vay vốn tín dụng để triển khai dự án đến khi dự án đủ điều kiện đưa vào kinh doanh. Đây là nhu cầu có thật và rất bức thiết, chính đáng. Trong giai đoạn này, dù dự án chưa đủ điều kiện đưa vào kinh doanh, nhưng khả năng phát sinh nợ xấu của khoản vay tín dụng là rất thấp. Nên quy định không cho vay ở giai đoạn này là chưa hợp lý", ông Nuôi nhấn mạnh.
Cũng vì các bất cập trên, từ đầu năm 2023, khi Ngân hàng Nhà nước lấy ý kiến góp ý dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 39, HoREA đã đề xuất không nên bổ sung khoản 8, khoản 9, khoản 10 điều 8 vào Thông tư số 39. Sau đó, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 10 ngày 23.8 "tạm ngưng hiệu lực thi hành khoản 8, khoản 9 và khoản 10 điều 8 của Thông tư số 39" từ ngày 1.9.2023 kéo dài cho đến hiện nay.
Ông Lê Hoàng Châu, Chủ tịch HoREA, nhấn mạnh quy định nói trên đã bộc lộ một số bất cập, chưa thật phù hợp và chưa bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất với các quy định pháp luật có liên quan. Bởi theo luật Kinh doanh bất động sản 2023, dự án đủ điều kiện đưa vào kinh doanh khi đã được nghiệm thu việc hoàn thành xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật. Trường hợp là nhà chung cư, tòa nhà hỗn hợp phải có giấy tờ chứng minh đã được nghiệm thu hoàn thành xây dựng phần móng. Nghĩa là tại thời điểm dự án đã đủ điều kiện bán nhà ở hình thành trong tương lai thì chủ đầu tư được bán, huy động vốn từ khách hàng và không còn nhu cầu vay vốn tín dụng.
Chủ tịch HoREA chỉ rõ các tổ chức tín dụng không cho nhà đầu tư vay vốn để thực hiện công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, tạo lập quỹ đất đầu tư dự án. Đồng thời, luật Kinh doanh bất động sản 2023 quy định doanh nghiệp kinh doanh bất động sản phải có vốn chủ sở hữu không thấp hơn 20% tổng vốn đầu tư đối với dự án có quy mô sử dụng đất dưới 20 ha, không thấp hơn 15% với dự án có quy mô sử dụng đất từ 20 ha trở lên và phải bảo đảm khả năng huy động vốn để thực hiện dự án đầu tư. Trường hợp doanh nghiệp thực hiện nhiều dự án vốn chủ sở hữu cũng phải đủ phân bổ để bảo đảm tỷ lệ nêu trên. Vì thế đến lúc này, hầu hết họ đều có nhu cầu vay vốn tín dụng để phát triển dự án đến khi đủ điều kiện đưa vào kinh doanh.
"Đây là nhu cầu vay vốn chính đáng và có mục đích sử dụng vốn hợp pháp. Do vậy cần sửa Thông tư số 39 theo hướng cho dự án được vay khi đã có chấp thuận chủ trương đầu tư hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời với chấp thuận nhà đầu tư hoặc có văn bản giao chủ đầu tư, chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời giao chủ đầu tư hoặc thẩm định báo cáo nghiên cứu khả thi", ông Châu kiến nghị.
Ông Châu chia sẻ Thông tư 39 ban hành đã 10 năm, Thông tư 10 "tạm ngưng" các điều khoản bất cập như phân tích trên cũng đã 3 năm nên HoREA tiếp tục kiến nghị bãi bỏ các quy định nói trên cho phù hợp với tình hình thực tế hiện nay.
Theo đó, từ 28.4, phí nền tảng áp dụng đối với các dịch vụ GrabBike là 3.000 đồng. Đối với các dịch vụ Grab 4 bánh (không bao gồm dịch vụ GrabTaxi), mức phí nền tảng sẽ từ 5.000 - 19.000 đồng tùy theo khu vực điểm đón và quãng đường di chuyển.
Đối với phí dịch vụ cộng thêm, hãng này áp dụng mức từ 4.000 - 11.000 đồng đối với GrabExpress, mức phí tùy vào loại hình dịch vụ mà người dùng lựa chọn. Phí dịch vụ áp dụng cho các đơn hàng GrabFood, GrabMart và tùy vào mô hình hợp tác của các đối tác thương nhân là 4.000 đồng hoặc 6.000 đồng.
Nhìn chung, các loại phí của hầu hết các dịch vụ nhích thêm khoảng 1.000 đồng.
Grab lý giải việc điều chỉnh nhằm duy trì vận hành cho nền tảng, nâng cao chất lượng dịch vụ, cải tiến kỹ thuật, tăng thêm nhiều tính năng cũng như đưa ra các chương trình ưu đãi, đồng thời không ngừng nâng cao trải nghiệm dành cho người dùng và đối tác.
Việc điều chỉnh cũng giúp Grab có thể tăng cường triển khai các chương trình hỗ trợ cho cộng đồng đối tác tài xế khắp cả nước trong bối cảnh bão giá nhiên liệu kéo dài.
Trước đó, Grab Việt Nam đã 6 tuần liên tiếp dùng ngân sách của mình để kéo dài chương trình thưởng thêm theo tuần hỗ trợ đối tác tài xế ứng phó với biến động giá xăng dầu. Song song đó, Grab vẫn tiếp tục đẩy mạnh các chương trình ưu đãi nhằm hỗ trợ đối tác tài xế chuyển đổi sang xe điện để tiết kiệm chi phí, thêm tự tin chuyển đổi và góp phần thúc đẩy giao thông xanh tại Việt Nam.