Sau hơn một tháng triển khai đồng loạt các giải pháp tiết kiệm nhằm tối đa hóa nguồn năng lượng sử dụng, ngày 5.4, ông Nguyễn Văn Thịnh, Giám đốc Công ty CP ALP Logistics – chi nhánh Hải Phòng, cập nhật: Với chính sách tận dụng container rỗng đã giúp công ty “tiết kiệm một vòng xe”. Bên cạnh đó, việc tìm đối tác để kẹp 2 container nhỏ 20 feet trên xe đầu kéo loại 40 feet, ghép hàng hóa khách lẻ đi một chuyến… đã giúp công ty duy trì được lượng hàng hóa vận chuyển, nhưng giảm phần nào áp lực tăng giá xăng dầu. Ông nói, về lý thuyết việc tận dụng giảm 1 lượt xe về giúp giảm được 50% chi phí dầu diesel; tuy nhiên nỗ lực này không thể đảm bảo 100% thành công bởi có nhiều thời điểm không có hàng ngay để đóng đưa về, xe có thể di chuyển sang các địa phương khác để đóng hàng, không hẳn nằm trên lộ trình đã định, nên mức độ tận dụng tối đa cho việc sử dụng container rỗng không đạt hoàn toàn như mong muốn. Nhưng nhờ vậy, chi phí nhiên liệu trung bình giảm được 8 – 10%.
“Các giải pháp tăng ứng dụng công nghệ trong quản lý vận hành, điều phối, bảo dưỡng xe; thậm chí thay các thiết bị tiết kiệm nhiên liệu, làm việc với đối tác để tính toán cung đường mới vận chuyển hàng…, chi phí không thấp. Tuy nhiên, chúng tôi xác định đây là đầu tư ban đầu để có kết quả tối ưu về lâu dài. Nếu mọi thứ vào guồng sẽ giúp giảm nhiên liệu cho nhiều năm sau. Giá xăng dầu thế giới biến động, mọi giải pháp tiết kiệm thông minh, điều hành khoa học để giảm chi phí tiêu hao xăng dầu là nhiệm vụ cấp bách của doanh nghiệp (DN) và chúng tôi xác định đó là một trong những nhiệm vụ sống còn”, ông Nguyễn Văn Thịnh nhấn mạnh.
Tương tự, bà Nguyễn Thị Thùy Loan, Giám đốc Công ty CP WR1 Trans, cho hay DN của bà đã tối ưu hóa lộ trình vận chuyển để tiết kiệm nhiên liệu; rà soát hiệu suất đội xe, giảm thiểu lãng phí trong vận hành; đồng hành với khách hàng để tìm kiếm các phương án vận chuyển hiệu quả nhất. Trong đó, chú ý tận dụng tối đa container rỗng sau giao hàng, đóng luôn hàng xuất để không phải chở container rỗng về cảng như trước. Kết quả là vẫn duy trì hoạt động của đội xe, nhưng chi phí sử dụng nhiên liệu giảm khoảng 10%.
“Đây là một mức giảm rất cố gắng và đã được triển khai từ sớm, quyết liệt và đồng lòng từ trên xuống dưới của công ty. Trong thực tế, chi cho nhiên liệu chiếm 35 – 40% chi phí vận hành một chiếc xe; bên cạnh đó là gánh nặng từ phí nâng hạ tại cảng và cước vận tải biển tăng… Trong khi giá dầu diesel tháng 2 từ 18.000 – 19.000 đồng/lít, đến ngày 6.4 giá dầu diesel chúng tôi mua tại thị trường vùng 1 là 45.780 đồng/lít, cao hơn gấp đôi. Trong khó khăn, chúng tôi tích cực trao đổi với khách hàng để có giải pháp tối ưu vận tải và giảm bớt phần nào gánh nặng chi phí gia tăng này”, bà Nguyễn Thị Thùy Loan cho biết.
Bà Loan nói thêm, DN có kinh nghiệm trong triển khai các giải pháp tiết kiệm nhiên liệu trong quá khứ nên nay rà soát, áp dụng không gặp nhiều khó khăn. Chẳng hạn, với chính sách tái sử dụng container rỗng, năm 2025 công ty đã tiết kiệm được đoạn đường vận chuyển hàng hơn 10.000 km, lượng dầu tiết kiệm được khoảng 4.300 lít. Đối với xe tải sau 8 năm vận hành, nếu được bảo dưỡng tốt, định mức tiêu hao nhiên liệu đạt khoảng 0,38 – 0,4 lít/km. “Năm 2025, chúng tôi đặt định mức tiêu hao nhiên liệu là 0,366 lít/km quãng đường xe đi là 373.736 km, tương ứng mức dầu diesel giảm là 0,024 lít/km… Chúng tôi đã triển khai 3 trụ cột chuyển đổi xanh trên toàn hệ thống. Tuy vậy, hiện các hãng tàu đang siết chính sách tái sử dụng container rỗng, các chủ hàng chưa linh hoạt thời gian đóng hàng nên tỷ lệ kết hợp chở hàng trong bối cảnh chi phí nhiên liệu tăng chưa đạt như kỳ vọng”, bà Loan phân tích.
Bên cạnh xăng dầu, tiết kiệm điện năng 10% từ nay đến 2028 cũng là chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ nêu tại Chỉ thị 10 vừa qua; và nhiều DN cũng quán triệt chỉ đạo này. Từ cuối tháng 2, Công ty quảng cáo sáng tạo Project Pluto (TP.HCM) đã quay trở lại cơ chế “work from home” để giảm tối đa chi phí xăng dầu cho nhân viên. Đại diện DN này cho hay, giá xăng tăng mạnh, công ty quyết định cho nhân sự làm việc tại nhà, không chỉ tiết kiệm xăng cho nhân viên mà ngay công ty không mở văn phòng cũng tiết kiệm được tiền điện trong tháng 3. Do đó, tuy có biến động giá năng lượng thế giới, nhưng chi phí nhiên liệu cho nhân viên không bị ảnh hưởng đáng kể.
DN của ông Đỗ Phước Tống, Chủ tịch HĐTV Công ty cơ khí Duy Khanh, cũng đang áp dụng các biện pháp để giảm chi phí điện và dầu thông qua việc giao hàng ghép xe, điều chỉnh tối ưu cung đường, giảm được 10 – 20% chi phí dầu dùng để vận tải hàng hóa. Bên cạnh đó, công ty cũng đã cấp tốc cho điều chỉnh sản xuất vào khung giờ thấp điểm, qua đó giảm được mức tăng của hóa đơn tiền điện từ tháng 3. “Nếu cứ sản xuất bình thường như trước, hóa đơn tiền điện có thể tăng 30% vào mùa nóng. Chúng tôi áp dụng điều chỉnh giờ sản xuất, chi phí điện năng có thể tăng chỉ bằng một nửa so với mức tiêu dùng thực tế”, ông Thống tính toán.
Trong lĩnh vực bán lẻ, đại diện Central Retail Việt Nam (đơn vị sở hữu chuỗi siêu thị GO!, Tops Market…) đã lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái tại 32 siêu thị và đại siêu thị trên toàn quốc, giúp giảm bình quân khoảng 14% lượng điện tiêu thụ. Năm 2025, thông qua việc mở rộng hệ thống điện mặt trời áp mái và triển khai các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng tại các trung tâm thương mại, DN này đã cắt giảm hơn 36.000 tCO₂e, tương đương với khoảng 14% mức tiêu thụ điện lưới quốc gia. Đại diện Central Retail Việt Nam cho hay với chiến lược phủ xanh hệ thống trung tâm thương mại GO! bằng điện mặt trời khẳng định cam kết của Central Retail trong việc trở thành DN bán lẻ bền vững hàng đầu VN, giảm phụ thuộc vào lưới điện quốc gia.
Là DN sản xuất cơ khí, nhu cầu tiêu thụ năng lượng cực lớn, Công ty Yuki (TP.HCM) cũng đã đầu tư điện mặt trời mái nhà để sử dụng và giảm được 18% tiền điện mỗi tháng. Trong kế hoạch chung, công ty đang muốn mở rộng lắp cho nhiều mái nhà xưởng để tận dụng tối ưu năng lượng mặt trời, giúp làm mát nhà xưởng và giảm tiền điện hằng tháng.
GS-TS Mạc Quốc Anh, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội DN nhỏ và vừa Hà Nội, đánh giá những giải pháp nhằm giảm thiểu nhiên liệu sử dụng của một số DN sản xuất kinh doanh trong thời gian qua là rất đáng hoan nghênh, đa số phản ứng rất nhanh và có tính chủ động cao. Về chi phí logistics, trong kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược phát triển logistics đến 2035 cũng cho thấy việc tối ưu logistics là một phần quan trọng để giảm áp lực nguồn cung và chi phí.
GS-TS Mạc Quốc Anh nhấn mạnh: “Trong bối cảnh này, tiết kiệm nhiên liệu, điện cần được DN đưa vào chiến lược phát triển chứ không phải các giải pháp, cách ứng phó nhất thời trước biến động giá năng lượng thế giới. Phải coi đó là chiến lược song song chuyển đổi xanh để phát triển bền vững”.
Phát họa bức tranh tổng thể của ngành cà phê Việt Nam, ông Nguyễn Thành Tài, Ủy viên Ban chấp hành Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam (VICOFA) nói: Năm 2025, xuất khẩu cà phê đạt khoảng 1,59 triệu tấn, giá trị kim ngạch 9 tỉ USD nhưng xuất khẩu nguyên liệu vẫn là chủ yếu. phân khúc cà phê rang xay, hòa tan và phối trộn đạt hơn 1,4 tỉ USD nhưng phần lớn nằm trong tay của các doanh nghiệp FDI.
Để nâng cao kim ngạch xuất khẩu, chế biến sâu là con đường trực tiếp nhất. Thực tế, các sản phẩm chất lượng cao đòi hỏi nguồn nguyên liệu đồng đều, có khả năng truy xuất và đạt chuẩn. Vì vậy, càng đi sâu vào chế biến, doanh nghiệp càng buộc phải đầu tư bài bản cho vùng trồng, khâu sơ chế, logistics và hệ thống dữ liệu qua đó nâng cao giá trị cà phê nguyên liệu Việt Nam.
"Bên cạnh đó, chế biến sâu còn mở ra dư địa phát triển kinh tế tuần hoàn trong ngành cà phê. Một chuỗi giá trị hiện đại không chỉ dừng ở hạt cà phê mà còn khai thác hiệu quả các phụ phẩm như cascara, vỏ quả, sinh khối… Đây là lĩnh vực giàu tiềm năng nhưng vẫn chưa được khai thác tương xứng tại Việt Nam", ông Tài nhận định.
Ông Trần Văn Công, Tham tán Nông nghiệp Việt Nam xác nhận, Châu Âu là thị trường tiêu thụ cà phê Việt Nam nhiều nhất nhiều người dân EU, kể cả một số cán bộ công chức cũng không biết gì về cà phê Việt Nam. Nguyên nhân vì Việt Nam chủ yếu xuất cà phê nhân vào thị trường nàynên sản phẩm không có thương hiệu dẫn đến người tiêu dùng thông thường không ai biết gì về cà phê Việt Nam.
Theo ông Công, EU hiện là một trong 2 trung tâm tiêu thụ cà phê lớn nhất thế giới quy mô thị trường trên 26 tỉ USD và sản lượng hàng năm khoảng 2,7 triệu tấn. Đây là thị trường có sức mua rất lớn, với mức tiêu thụ bình quân gần 20 kg/ người/ năm nhưng Việt Nam mới xuất khẩu sang EU khoảng 580.000 tấn, đạt kim ngạch 3,2 tỉ USD, đứng thứ hai sau Brazil. Việt Nam mạnh ở khâu đầu chuỗi - cung cấp nguyên liệu,nhưng còn hạn chế ở các khâu có giá trị gia tăng cao, dẫn đến việc bỏ lỡ nhiều cơ hội nâng cao giá trị. "Những con số trên cho thấy tiềm năng, cơ hội và dư địa cho hạt cà phê Việt Nam còn rất lớn nếu biết cách đầu tư khai thác hiệu quả ở phân khúc chế biến sâu nhằm tạo ra giá trị gia tăng", ông Công lưu ý.
Ở góc độ doanh nghiệp, ông Nguyễn Đức Hưng, Giám đốc Công ty CP SX-TM-XNK Cà phê Napoli cho biết, tính chung cả nước, Việt Nam ước có khoảng 10.000 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực cà phê nhưng ít doanh nghiệp mạnh và đặc biệt không có doanh nghiệp mạnh trên thị trường quốc tế. Trong khi như cả Trung Quốc chỉ có khoảng 500 doanh nghiệp, nhưng có rất nhiều doanh nghiệp tên tuổi. Tại Mỹ, số lượng doanh nghiệp cũng không nhiều nhưng đa số đều có năng lực cạnh tranh cao.
Ông Thái Anh Tuấn Tổng Giám đốc Công ty TNHH MTV Xuất nhập khẩu 2.9 Đắk Lắk (Simexco Daklak) một trong những doanh nghiệp xuất khẩu cà phê lớn nhất Việt Nam hiện nay nói rằng: Để phát triển chế biến sâu, doanh nghiệp cần hội đủ ba yếu tố: vốn, công nghệ và thị trường. Doanh nghiệp phải đáp ứng đúng nhu cầu thị trường, đồng thời có nguồn cung ổn định từ các HTX. Hiện nay, hoạt động xuất khẩu được thực hiện theo các tiêu chuẩn quốc tế, với hệ thống truy xuất nguồn gốc đầy đủ. Người mua có thể truy xuất đến từng container, từng hộ nông dân và vùng trồng cụ thể. Đây là điều kiện quan trọng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường. Nhưng vấn đề đầu tư vào công nghệ chế biến, xây dựng và phát triển thị trường gắn với thương hiệu sản phẩm riêng thì cần phải có vốn lớn và lộ trình phù hợp. Hiện doanh nghiệp đang lựa chọn thị trường phù hợp, triển khai từng bước chắc chắn trước khi đầu tư mạnh vào chế biến sâu.
Ông Nguyễn Quang Bình, chuyên gia thị trường cà phê nhận định: Doanh nghiệp trong nước cũng chưa nhận được sự hỗ trợ tương xứng, đặc biệt từ hệ thống ngân hàng - lực lượng có vai trò quan trọng trong việc kết nối và duy trì chuỗi cung ứng. Trong khi đó, khối doanh nghiệp nước ngoài (FDI) được hậu thuẫn mạnh từ hệ thống tài chính để giữ vững vị trí trong chuỗi.
TS Đỗ Việt Hà, Phó Chủ tịch Hiệp hội nông nghiệp hữu cơ Việt Nam cũng khẳng định: Nếu so với gạo hay thủy sản chính sách cho cà phê vẫn chưa tương xứng. "Một ngành đạt giá trị xuất khẩu đến 9 tỉ USD nhưng lại chưa có chính sách riêng để tiếp tục phát triển mạnh hơn nữa là vấn đề cần lưu ý", ông Hà trăn trở.
Nhà báo Tô Đình Tuân, Tổng biên tập Báo Người Lao Động, nhấn mạnh: Nếu thúc đẩy chế biến sâu hiệu quả, theo hướng chuẩn mực và nghiêm túc, ngành cà phê Việt Nam không chỉ dừng lại ở mức 8 - 9 tỉ USD mà trong vài năm tới hoàn toàn có thể hướng đến những cột mốc hàng chục tỉ USD. Để đạt được những kỷ lục mới, cần xác định chế biến sâu là một trục chiến lược quốc gia, với sự tham gia của doanh nghiệp, các cơ quan, ban ngành, các đơn vị liên quan và cả cơ quan truyền thông. Bên cạnh đó, cần tạo cú hích về tài chính cho doanh nghiệp, vì đây là điểm nghẽn lớn nhất. Muốn vậy, cần có chính sách miễn, giảm thuế; giảm thuế nhập khẩu máy móc. Ngoài ra cần phát triển vùng nguyên liệu chuẩn hóa. Nếu không có nguồn nguyên liệu đạt chuẩn thì không thể phát triển chế biến sâu.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trong tháng 3 cán cân thương mại ngành nông sản vẫn duy trì xuất siêu 1,55 tỉ USD, tuy giảm 19,3% so với cùng kỳ năm trước nhưng lũy kế 3 tháng đầu năm 2026, đạt gần 4,8 tỉ USD, tăng 12% và có 5 mặt hàng xuất siêu chính là gỗ, cà phê, tôm, gạo và rau quả.
Trong số này, đáng chú ý là mặt hàng gạo có tốc độ tăng mạnh nhất với 74% so cùng kỳ năm trước với 812 triệu USD, trên tổng kim ngạch xuất khẩu gạo trong 3 tháng đầu năm đạt 1,1 tỉ USD. Theo một số chuyên gia, lượng gạo xuất khẩu vẫn đạt trên 2,3 triệu tấn, tăng nhẹ so nhưng gạo nhập khẩu giảm đáng kể so với năm trước vì các doanh nghiệp tập trung thu mua tiêu thụ lúa gạo hàng hóa nội địa cho nông dân. Điều này cho thấy sự linh hoạt và vai trò quan trọng của các doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị ngành hàng lúa gạo thế giới. Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) cũng đánh giá, Việt Nam đồng thời vừa là nhà xuất và nhập khẩu gạo lớn thứ 2 thế giới.
Ngoài mặt hàng gạo, xuất siêu tôm cũng tăng gần 32% so với cùng kỳ, đạt con số trên 995 triệu USD; rau quả xuất siêu 740 triệu USD, tăng 33%; gỗ và sản phẩm gỗ xuất siêu 3 tỉ USD, giảm 7,5%; cà phê là 2,6 tỉ USD, giảm 6% so cùng kỳ năm 2026.
Cục thống kê cho biết, trong quý 3 tháng đầu năm, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 249,5 tỉ USD, tăng 23% so với cùng kỳ năm trước; trong đó xuất khẩu tăng 19% còn nhập khẩu tăng 27%. Cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 3,6 tỉ USD tăng nhẹ so với cùng kỳ năm 2025; khu vực kinh tế trong nước nhập siêu gần 11 tỉ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 7 tỉ USD.
Từ đầu năm tới nay, giá vàng thế giới biến động trồi sụt rất khó lường. Đầu năm, giá vàng tăng vọt lên mức cao nhất vào ngày 29.1 là gần 5.600 USD/ounce. Đầu tháng 3, giá vàng dao động 5.200 - 5.400 USD/ounce, sau đó có tăng, có giảm, xu hướng giảm là chính.
Giá vàng dần "thủng" các ngưỡng kháng cự quan trọng như 5.000 USD/ounce, 4.500 USD/ounce, thấp nhất ngày 23.3, có thời điểm ghi nhận giá dưới 4.200 USD/ounce.
Từ cú giảm sâu đó tới nay, giá vàng lình xình có lên, có xuống, song không quay lại mức 5.000 USD/ounce, cao nhất khoảng 4.800 USD/oune. Giá vàng đóng cửa tuần này ở 4.676 USD/ounce.
Nhìn lại lịch sử thị trường vàng, TS kinh tế Lê Bá Chí Nhân phân tích, có thể nhận diện một số chu kỳ điển hình "tăng đỉnh - sập sâu - đi ngang kéo dài".
Đợt thứ nhất là sau đỉnh năm 1980. Vàng khi đó tăng mạnh do lạm phát cao và bất ổn địa chính trị, nhưng bước ngoặt đến khi Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) thực hiện chính sách thắt chặt quyết liệt, đẩy lãi suất lên mức rất cao. Kết quả, vàng sụp đổ mạnh, bước vào giai đoạn "ngủ đông" kéo dài gần 2 thập kỷ, đến đầu những năm 2000 mới thực sự hồi phục.
Đợt thứ hai là chu kỳ sau khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Vàng đạt đỉnh lịch sử năm 2011 nhờ các gói nới lỏng định lượng (QE) và lãi suất thấp kéo dài.
Tuy nhiên, từ năm 2013, khi Fed phát tín hiệu thu hẹp QE, thị trường đảo chiều mạnh, vàng giảm sâu và mất khoảng 30 - 40% giá trị trong vòng vài năm, sau đó đi ngang tích lũy khá dài trước khi bước vào chu kỳ tăng mới.
Đợt thứ ba mang tính ngắn hạn hơn là giai đoạn 2020 - 2022. Sau khi đạt đỉnh trong đại dịch Covid-19 nhờ chính sách tiền tệ siêu nới lỏng, vàng nhanh chóng điều chỉnh khi lạm phát tăng cao buộc các ngân hàng T.Ư quay lại chu kỳ thắt chặt. Dù mức giảm không kéo dài hàng thập kỷ, nhưng vẫn cho thấy rõ tính nhạy cảm của vàng với lãi suất thực.
"Điểm chung của các chu kỳ này là vàng thường đạt đỉnh khi chính sách tiền tệ ở trạng thái nới lỏng cực độ, và sụt giảm khi chu kỳ thắt chặt bắt đầu. Sau cú sốc giảm, thị trường thường bước vào giai đoạn tích lũy dài do thiếu động lực tăng mới", ông Nhân nói.
Các đợt "sập giá" của vàng luôn có một số điểm tương đồng mang tính quy luật, nhưng bối cảnh hiện nay xuất hiện những khác biệt đáng lưu ý.
Vai trò của các ngân hàng T.Ư trong việc mua ròng vàng đang lớn hơn nhiều so với các chu kỳ trước, tạo ra lực đỡ dài hạn.
Cạnh đó, thế giới đang bước vào giai đoạn phân mảnh tài chính và xu hướng giảm phụ thuộc vào USD, khiến vàng tiếp tục được coi là tài sản dự trữ chiến lược, chứ không đơn thuần là công cụ đầu cơ.
Rủi ro địa chính trị hiện nay mang tính kéo dài, khó dự báo hơn, làm cho nhu cầu phòng ngừa rủi ro chưa thể suy giảm hoàn toàn.
"Kịch bản giá vàng sập sâu và đi ngang như sau năm 1980 hoàn toàn có thể lặp lại về mặt ngắn hạn hoặc trung hạn nếu lãi suất duy trì cao lâu hơn dự kiến. Tuy nhiên, xác suất xuất hiện một chu kỳ suy giảm kéo dài hàng thập kỷ thấp hơn, bởi nền tảng cầu của vàng hiện đã đa dạng, bền vững hơn", ông Nhân dự báo.
Về trung và dài hạn, theo ông Nhân, yếu tố chi phối mang tính quyết định tới giá vàng vẫn là chính sách của Fed.
Diễn biến gần đây cho thấy, khi lạm phát còn dai dẳng, Fed có xu hướng duy trì lãi suất cao hơn kỳ vọng, làm tăng lợi suất thực và gây áp lực lên vàng. Ngược lại, nếu chu kỳ nới lỏng quay trở lại vào cuối năm 2026, đây sẽ là yếu tố quan trọng giúp vàng phục hồi. Các yếu tố hỗ trợ vàng dài hạn vẫn hiện hữu.
Đa số tổ chức lớn đang đưa ra vùng dự báo khá rộng cho năm 2026. Kịch bản cơ sở, giá vàng dao động quanh 4.000 - 5.000 USD/ounce; trong khi các kịch bản tích cực hơn có thể hướng tới 5.400 - 6.000 USD nếu xuất hiện chu kỳ giảm lãi suất và rủi ro địa chính trị leo thang. Ngược lại, nếu lãi suất duy trì cao kéo dài, vùng 3.800 - 4.200 USD sẽ đóng vai trò đáy cân bằng.
"Tóm lại, vàng vẫn được hỗ trợ trong dài hạn nhưng biên độ biến động sẽ lớn hơn, phụ thuộc chặt chẽ vào chu kỳ chính sách tiền tệ. Kịch bản lập đỉnh mới trong năm 2026 là khả thi, nhưng không còn mang tính một chiều như giai đoạn 2024 - 2025", ông Nhân nhận định.
TS Đào Lê Trang Anh, giảng viên cao cấp ngành tài chính (Đại học RMIT Việt Nam), cũng cho rằng, về dài hạn, các nền tảng hỗ trợ cho vàng vẫn còn, bao gồm bất ổn địa chính trị, rủi ro nợ công toàn cầu, nhu cầu đa dạng hóa dự trữ của ngân hàng T.Ư và vai trò phòng ngừa rủi ro hệ thống của vàng trong danh mục đầu tư.
"Năm nay, mặt bằng dự báo hiện khá phân hóa. Kịch bản thận trọng đặt vùng giá xoay quanh 4.600 - 5.000 USD/ounce. Trong kịch bản các rủi ro vĩ mô và chính sách tiếp tục hiện hữu, giá vàng hoàn toàn có thể kiểm định các vùng đỉnh mới. Vùng giá tiềm năng được nhiều nhà phân tích nhắc tới quanh 5.500 - 6.200 USD/ounce, dù biến động sẽ còn rất lớn", bà Trang Anh nói.