Trong bối cảnh này, nhiều sự chú ý dồn vào một tổ chức quốc tế được thành lập ngay sau kết thúc Chiến tranh thế giới thứ II với mục tiêu tối thượng là bảo vệ an ninh và hòa bình quốc tế. Đó là Liên hợp quốc (LHQ) với Hội đồng Bảo an (HĐBA) – nơi mà trong quá khứ đã tiến hành nhiều chiến dịch gìn giữ hòa bình ở nhiều quốc gia và khu vực trên thế giới.
Cho đến hiện tại HĐBA đã nhóm họp hai lần về tình hình hiện tại ở Trung Đông. Lần đầu tiên vào ngày 11-3-2026 và thông qua một nghị quyết lên án hành vi tấn công các nước trong vùng Vịnh Ba Tư của Iran.
HĐBA nhóm họp lần hai vào ngày 7-4-2026 và thất bại trong việc thông qua một nghị quyết về an ninh eo biển Hormuz. Sự khác biệt lớn về kết quả của hai lần họp ở HĐBA có thể được giải thích dựa trên các yếu tố pháp lý xung quanh việc sử dụng vũ lực trong dự thảo của các nghị quyết.
Hiến chương LHQ nghiêm cấm việc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế của các quốc gia thành viên. Quy định này nằm trong điều 2 khoản 4 – một trong những trụ cột pháp lý của Hiến chương về việc đảm bảo hòa bình thế giới.
Tuy nhiên Hiến chương cũng công nhận ngoại lệ cho quy định này, và chỉ có hai trường hợp các quốc gia được sử dụng vũ lực một cách hợp pháp trong khuôn khổ luật pháp của LHQ.
Ngoại lệ thứ nhất là việc sử dụng vũ lực trong việc tự vệ khi các quốc gia bị tấn công vũ trang bởi các quốc gia khác. Quyền tự vệ đơn phương hoặc tập thể này được ghi nhận tại điều 51 của Hiến chương LHQ.
Thông thường đây là một ngoại lệ chính đáng và chính danh về mặt pháp lý khi các quốc gia bị xâm phạm lãnh thổ bằng vũ trang bởi lực lượng quân sự của các quốc gia khác.
Đây là lý do tại sao các quốc gia vùng Vịnh bao gồm Bahrain, Kuwait, Oman, Qatar, Ả Rập Saudi, Các Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất và Jordan đã đề xuất một dự thảo nghị quyết HĐBA LHQ vào ngày 11-3-2026.
Trong dự thảo nghị quyết này, họ yêu cầu sự công nhận quyền tự vệ khi Iran đã tiến hành các cuộc tấn công vũ lực vào lãnh thổ của họ.
Nghị quyết cũng kêu gọi ngừng bắn, yêu cầu Iran phải tôn trọng luật pháp quốc tế và không làm ảnh hưởng đến an ninh quốc tế.
Có thể thấy rằng ngôn ngữ sử dụng trong dự thảo nghị quyết ngày 11-3 về việc sử dụng vũ lực để tự vệ của các quốc gia Vùng Vịnh là hợp lý về mặt pháp lý lẫn chính trị. Do đó nghị quyết đã được thông qua.
Nga và Trung Quốc không bỏ phiếu phản đối, mặc dù Nga đã phát biểu Mỹ và Israel cũng cần phải bị lên án cho cuộc chiến tranh lần này.
Ngoại lệ thứ hai của việc cấm sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế được ghi nhận trong chương VII của Hiến chương LHQ. Đó là việc Hội đồng Bảo an LHQ cho phép các quốc gia thành viên sử dụng vũ lực với mục đích bảo vệ an ninh và hòa bình thế giới.
Việc sử dụng các từ ngữ như “sử dụng tất cả các biện pháp cần thiết” hay việc áp dụng quyền ủy thác sử dụng vũ lực của HĐBA được cân nhắc hết sức kỹ lưỡng và hạn chế đến mức tối đa bởi các thành viên thường trực của HĐBA.
Trong dự thảo nghị quyết đưa lên HĐBA xem xét về vấn đề liên quan đến an ninh eo biển Hormuz, Bahrain đã kêu gọi quyền sử dụng vũ lực dựa trên chương VII của Hiến chương LHQ.
Việc này dẫn đến những tranh cãi dữ dội tại phiên họp của HĐBA, vì một số quốc gia cho rằng việc này sẽ dẫn đến việc lạm dụng nghị quyết của HĐBA để chính danh hóa việc sử dụng vũ lực trong khu vực vùng Vịnh. Điều này sẽ khiến xung đột leo thang.
Việc liên hệ đến chương VII của Hiến chương trong bản thảo nghị quyết sau đó được gỡ bỏ. Tuy nhiên việc đề cập đến quyền tự vệ (ngoại lệ thứ nhất của quy định cấm sử dụng vũ lực) khi các tàu thương mại bị tấn công ở eo biển Hormuz trong dự thảo lại dẫn đến những tranh cãi khác.
Việc một quốc gia bị tấn công vào lãnh thổ và bị tấn công vào tàu thuyền thương mại là khác nhau về mức độ nghiêm trọng để có thể lập luận rằng hai hành vi tấn công này đều có thể đương nhiên dẫn đến quyền tự vệ của một quốc gia.
Do những mâu thuẫn liên quan đến quyền sử dụng vũ lực ở eo biển Hormuz không thể giải quyết được, dự thảo nghị quyết HĐBA ngày 7-4-2026 đã không được thông qua khi Trung Quốc và Nga đã bỏ phiếu phản đối.
Điều này cho thấy việc sử dụng vũ lực luôn luôn là một vấn đề hết sức nhạy cảm và gây tranh cãi khi HĐBA xem xét một nghị quyết về một xung đột quốc tế.
Khuôn khổ pháp lý xung quanh vấn đề này có thể không chấm dứt được căng thẳng tại khu vực eo biển Hormuz, nhưng ít nhất nó ngăn được sự leo thang của chiến tranh tại đây, tính cho đến thời điểm này.
Theo Đài CNN, trước khi các phi hành gia Artemis II lên tàu Orion, một phần mô sinh học của họ đã được gửi đi trước dưới dạng các "chip nội tạng" (organ chips). Đây là những thiết bị nhỏ bằng chiếc USB, chứa mô tủy xương của bốn thành viên phi hành đoàn.
Thí nghiệm mang tên AVATAR (A Virtual Astronaut Tissue Analog Response), cho phép các nhà khoa học mô phỏng và theo dõi cách tế bào phản ứng với môi trường không gian sâu - nơi có bức xạ cao và tình trạng vi trọng lực kéo dài.
Theo Giám đốc bộ phận khoa học sinh học và vật lý của NASA Lisa Carnell, đây là lần đầu tiên một nghiên cứu như vậy được triển khai: "Chúng tôi chưa từng làm điều này trước đây".
Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là tìm hiểu phản ứng miễn dịch riêng biệt của từng cá nhân, vì khả năng kháng bức xạ của mỗi người là không giống nhau: có người sở hữu cơ chế bảo vệ tự nhiên tốt, trong khi người khác lại nhạy cảm hơn với môi trường khắc nghiệt.
Các dữ liệu được hy vọng sẽ mở đường cho y học cá nhân hóa trong không gian - từ việc chuẩn bị thuốc men phù hợp đến thiết kế bộ kit y tế riêng cho từng phi hành gia trong các sứ mệnh dài ngày, thậm chí là hành trình tới sao Hỏa.
Theo CNN, khác với thời kỳ sứ mệnh Apollo, khi các phi hành gia chỉ lưu lại Mặt trăng vài ngày, các nhiệm vụ tương lai dự kiến kéo dài hàng tuần hoặc hàng tháng.
Do đó, việc gửi "chip nội tạng" đi trước sẽ giúp các nhà khoa học dự đoán chính xác các rủi ro sức khỏe, đảm bảo an toàn tối đa cho sự sinh tồn của con người ngoài Trái đất.
"Israel ủng hộ quyết định của Tổng thống Donald Trump về việc tạm ngừng các cuộc tấn công chống lại Iran trong hai tuần với điều kiện Iran ngay lập tức mở cửa eo biển Hormuz và ngừng tất cả cuộc tấn công vào Mỹ, Israel cũng như các quốc gia trong khu vực", văn phòng Thủ tướng Benjamin Netanyahu ra tuyên bố ngày 8/4, vài tiếng sau thông báo của ông chủ Nhà Trắng.
Israel cho biết nước này ủng hộ nỗ lực của Mỹ nhằm đảm bảo rằng Iran "không còn gây ra mối đe dọa hạt nhân, tên lửa" đối với Mỹ, Israel, các nước láng giềng Arab cũng như thế giới.
"Mỹ đã nói với Israel rằng họ cam kết đạt được những mục tiêu này trong các cuộc đàm phán sắp tới", tuyên bố cho biết thêm.
Tuy nhiên, Israel nói rằng thỏa thuận ngừng bắn hai tuần không bao gồm Lebanon, nơi họ giao tranh với nhóm Hezbollah do Tehran hậu thuẫn.
Tuyên bố này trái ngược với thông báo trước đó của Thủ tướng Pakistan Shehbaz Sharif, người đóng vai trò trung gian hòa giải trong cuộc xung đột. Ông Sharif nói rằng Mỹ và các đồng minh đã đồng ý ngừng bắn "ở khắp mọi nơi, trong đó có cả Lebanon". Hezbollah và chính quyền Lebanon chưa đưa ra phản ứng.
Israel và Hezbollah từng đạt được lệnh ngừng bắn năm 2024, nhưng sau khi Israel hạ sát Lãnh tụ Tối cao Iran Ali Khamenei hôm 28/2, Hezbollah phóng tên lửa về phía Israel để trả thù, còn Israel đáp trả bằng cách đưa quân sâu hơn vào Lebanon.
Cuộc xung đột đã khiến hơn 1.500 người ở Lebanon thiệt mạng và hơn một triệu người tại nước này phải di tản.
Mỹ và Iran đã đồng ý ngừng bắn trong hai tuần, trong đó Tehran sẽ cho phép tàu thuyền đi qua eo biển Hormuz trong thời gian này "với sự điều phối từ lực lượng vũ trang".
Theo Tổng thống Mỹ, lý do ông đưa ra quyết định như vậy là Mỹ đã đạt được mọi mục tiêu quân sự, đồng thời đang tiến rất gần tới thỏa thuận dứt điểm về hòa bình lâu dài với Iran, cũng như hòa bình tại Trung Đông.
Tuy nhiên, Hội đồng An ninh Quốc gia Tối cao Iran cho biết điều này không đồng nghĩa với việc "chiến sự đã chấm dứt", thêm rằng Iran vẫn trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu. Tehran cũng cảnh báo chỉ cần đối phương "mắc sai lầm dù là nhỏ nhất, họ sẽ phải đối mặt với toàn bộ sức mạnh đáp trả của chúng tôi".
Lanre Dokun, bác sĩ tâm thần ở New York, cho biết ông gặp không ít bệnh nhân trẻ xem tiền bạc như một nỗi ám ảnh dai dẳng. Với người lớn tuổi, nỗi ám ảnh này thường gắn với biến cố cụ thể như mất việc hoặc chi phí chữa bệnh tăng cao. Nhưng ở nhóm trẻ hơn, Dokun nhận thấy tiền bạc đã trở thành "yếu tố gây căng thẳng mạn tính" với họ.
Tại Mỹ, Gen Z (cách gọi những người sinh từ khoảng năm 1997 đến 2012) đang dần được xem là thế hệ sớm ý thức về tiền bạc và cũng rất thận trọng trong chi tiêu. Khảo sát của tập đoàn dịch vụ tài chính đa quốc gia Charles Schwab năm 2024 cho thấy độ tuổi trung bình bắt đầu tiết kiệm của Gen Z là 18, sớm hơn nhiều so với thế hệ trước. Gần một nửa những người tham gia khảo sát cho biết họ đã bắt đầu đầu tư trước tuổi 20.
Một nghiên cứu của Viện Công ty Đầu tư (ICI), một hãng tư vấn toàn cầu có trụ sở chính ở Washington và hai văn phòng tại London cùng Brussels, cũng cho thấy các hộ gia đình Gen Z có mức đóng góp tài sản vào tài khoản hưu trí nhiều gấp ba so với thế hệ trước đây, nếu xét ở cùng độ tuổi và điều chỉnh theo lạm phát.
Joelle Remy, một nhà tư vấn tài chính ở Chicago, chứng kiến nhiều người trẻ tính toán rất sớm cho từng bước học tập và nghề nghiệp. Có người tìm cách lấy thêm tín chỉ từ bậc phổ thông để tốt nghiệp đại học sớm hơn, qua đó giảm chi phí cho học tập. Có trường hợp còn đi làm từ năm 16 tuổi và dành dụm cho bậc cao học. Một số khách hàng Gen Z của bà tích lũy được khoản tiền lớn hơn cả thế hệ sinh năm 1981-1996 nếu xét ở cùng độ tuổi.
Điều này có vẻ mâu thuẫn với định kiến lâu nay về Gen Z như một thế hệ "Peter Pan" mãi không chịu lớn: chần chừ dọn ra ở riêng, kết hôn muộn, trì hoãn mua nhà và chậm bước vào những cột mốc trưởng thành truyền thống.
Tuy nhiên, cách thế hệ này tại Mỹ "chậm lớn" có thể là sự chuẩn bị kỹ lưỡng và thận trọng hơn cho tương lai. Nhiều người trẻ tại Mỹ có lẽ đang cảm thấy bất an nhiều hơn thế hệ đi trước vì cảm thấy tương lai nhiều bất trắc.
Gen Z tại Mỹ trưởng thành đúng lúc chi phí cho các mục tiêu cơ bản của đời sống tăng vọt. Giá nhà ở cao, đặc biệt tại các thành phố lớn và chi phí nuôi con tăng liên tục trong nhiều năm. Những điểm tựa mà các thế hệ trước từng quen thuộc như việc làm ổn định hay lương hưu ngày càng hiếm. Với nhiều người trẻ, giấc mơ về một căn nhà, gia đình nhỏ hay cuộc sống đủ đầy ngày càng xa vời.
Michael Tenam, 23 tuổi, làm việc trong ngành công nghệ thông tin tại Brooklyn, là một trường hợp điển hình. Dù có thu nhập khoảng 90.000 USD mỗi năm, anh vẫn sống cùng bố mẹ, vừa trả dần nợ học phí, vừa cân nhắc liệu vài năm nữa có đủ điều kiện thuê chỗ ở riêng hay không.
Việc sở hữu nhà riêng với Tenam "dường như là điều không thể". Hầu hết bạn bè của anh cũng trong hoàn cảnh tương tự, nên chuyện sống cùng gia đình không còn gây xấu hổ như xưa.
Shannon E. Cavanagh, nhà xã hội học tại Đại học Texas ở Austin, cho biết bà từng thấy khá lạ khi một nghiên cứu sinh lại trích cả phần tiền trợ cấp ít ỏi để dành cho những năm tháng xế chiều. Cavanagh cho biết hồi ở cùng độ tuổi như vậy, bà vẫn tin tưởng hệ thống an sinh xã hội sẽ bảo vệ mình, còn cơ hội tìm việc thì luôn rộng mở, không cần nghĩ đến dành dụm cho mai sau.
Sự thận trọng về tài chính của Gen Z không hoàn toàn tiêu cực. Nhà tư vấn tài chính Joelle Remy cho rằng kỷ luật có thể đem lại cảm giác chủ động hơn trong cuộc sống. Tuy nhiên, điều mâu thuẫn là Gen Z giờ đây có kỷ luật tài chính mà chưa chắc cảm thấy tự do.
Họ uống ít rượu hơn, ít quan hệ tình cảm hơn và thường tránh các lựa chọn nhiều rủi ro. Theo chuyên gia Cavanagh, có quá nhiều niềm vui của tuổi trẻ bị "gác lại" trong đời sống người trẻ Mỹ.
Tất nhiên, không phải Gen Z nào cũng có điều kiện tích cóp, nhiều người đơn giản không còn khoản dư nào để cất giữ.
Khảo sát được Northwestern Mutual, công ty tài chính và bảo hiểm ở bang Wisconsin, công bố trong tháng 3 cho thấy gần 1/3 người Mỹ ở độ tuổi 18-29 đang cân nhắc hoặc đã bỏ tiền vào các trò cá cược may rủi. 80% trong nhóm này, tỷ lệ cao nhất trong các thế hệ, cho biết họ làm như vậy vì cảm thấy tình hình tài chính bản thân đang tụt lại quá xa so với mặt bằng chung và "liều thì mới ăn nhiều".
Một bộ phận khác lại có thái độ mà theo Rebecca Palmer, người đứng đầu bộ phận tư vấn tài chính tại Fruitful, công ty chuyên về lập kế hoạch tài chính cho nhóm khách 20-40 tuổi, gọi là "chủ nghĩa hư vô tài chính". Những người này thậm chí đã từ bỏ niềm tin rằng việc kiên trì tiết kiệm sẽ giúp họ đạt được mục tiêu cuộc đời như mua nhà hay có cuộc sống ổn định.
Các chuyên gia cho rằng Gen Z vẫn có thể thay đổi góc nhìn sang hướng lạc quan hơn trong tương lai. Daryl Fairweather, chuyên gia kinh tế của công ty bất động sản Redfin, dự báo cơ hội sở hữu nhà sẽ trở nên dễ dàng hơn với người Mỹ vào năm 2035, khi nhiều người thuộc Gen Z bước vào nửa cuối nhóm tuổi 30 và nguồn cung nhà nhiều hơn.