Theo The Kyiv Independent dẫn thông báo của không quân Ukraine ngày 9.4, Nga đã phóng 119 máy bay không người lái (UAV), trong đó gần 70 chiếc là loại Geran-2 (dựa trên mẫu Shahed). Lực lượng phòng không Ukraine tuyên bố bắn hạ 99 UAV tại nhiều khu vực gồm Kharkiv, Zaporizhzhia, Donetsk, Dnipropetrovsk, Kherson, Sumy và Odesa.
Ở chiều ngược lại, Bộ Quốc phòng Nga thông báo các hệ thống phòng không nước này đã đánh chặn và phá hủy 69 UAV của Ukraine trên các vùng lãnh thổ của Nga trong đêm 8.4.
Theo kênh Telegram Astra, UAV Ukraine đã tấn công một trạm bơm dầu tại Krymsk (vùng Krasnodar của Nga) trong đêm 8.4, gây cháy tại trạm biến điện và mất điện cục bộ. Ông Veniamin Kondratiev, Thống đốc vùng Krasnodar xác nhận có 1 người thiệt mạng, song không nêu rõ có liên quan trực tiếp đến cơ sở dầu khí hay không.
Ukraine thường xuyên tấn công vào hạ tầng năng lượng và hậu cần sâu trong lãnh thổ Nga, cho rằng đây là mục tiêu quân sự hợp lệ vì cung cấp nhiên liệu và nguồn tài chính cho hoạt động quân sự của Moscow.
Trong một diễn biến khác, Tổng tư lệnh quân đội Ukraine Oleksandr Syrskyi ngày 9.4 cho biết Nga có kế hoạch tăng quy mô lực lượng hệ thống không người lái thêm khoảng 60%, lên mức 165.500 đơn vị vào cuối năm 2026, theo The Kyiv Independent.
Trong bài đăng trên Facebook, ông Syrskyi dẫn dữ liệu tình báo cho biết Nga hiện sở hữu khoảng 101.000 hệ thống không người lái. “Đối phương không hề đứng yên”, ông viết, đồng thời nhấn mạnh vai trò ngày càng quyết định của UAV trên chiến trường.
Theo ông, cả hai bên đều đẩy mạnh mở rộng lực lượng, phát triển UAV tầm xa và các hệ thống robot mặt đất nhằm giành ưu thế tác chiến. Ông Syrskyi cũng cho biết các đơn vị UAV của Ukraine đang đóng vai trò then chốt trong việc ngăn chặn một chiến dịch tấn công quy mô lớn của Nga, gây ra “tổn thất trên diện rộng và hiệu quả nhất” cho đối phương.
Theo quan chức Ukraine, trong giai đoạn từ tháng 12.2025 đến tháng 3.2026, các đơn vị UAV Ukraine đã gây thương vong cho quân đội Nga nhiều hơn số binh sĩ mà Moscow tuyển mộ trong cùng kỳ. Ông cho biết thiệt hại nhân lực của Nga do UAV Ukraine gây ra đã tăng gần 30%, dù không công bố con số cụ thể.
Phía Nga chưa bình luận về thông tin trên.
Nga ngày 8.4 đã triệu Đại sứ Nhật Bản tại Nga Akira Muto để phản đối một thỏa thuận hợp tác giữa doanh nghiệp Nhật và nhà sản xuất UAV của Ukraine.
Trước đó, cuối tháng 3, Công ty Terra Drone (Nhật Bản) công bố hợp tác với hãng Amazing Drones (Ukraine) – trở thành doanh nghiệp Nhật đầu tiên đầu tư vào lĩnh vực quốc phòng của Kyiv. Nga coi động thái này là “hành động thù địch”.
Trong công hàm gửi Đại sứ Muto, phía Nga cho rằng các cuộc tấn công bằng UAV của Ukraine nhằm vào lãnh thổ Nga khiến khoản đầu tư nói trên mang tính “thù địch công khai”. “Nếu phía Nhật Bản thực sự quan tâm đến việc nối lại đối thoại liên quốc gia, họ phải thể hiện nguyện vọng này không chỉ bằng lời nói mà bằng những hành động cụ thể và các bước đi thiết thực”, theo Bộ Ngoại giao Nga.
Thương vụ UAV nêu trên được xem là bước chuyển đáng chú ý trong chính sách của Nhật Bản, vốn trước đây thận trọng với các khoản đầu tư liên quan quốc phòng tại Ukraine, theo The Kyiv Independent. Trong bối cảnh xung đột bằng UAV gia tăng và môi trường an ninh khu vực xấu đi, Nhật Bản đã đẩy mạnh chi tiêu quốc phòng, với ngân sách năm 2026 đạt mức kỷ lục 9.040 tỉ yên (khoảng 58 tỉ USD), trong đó 100 tỉ yên dành riêng cho các hệ thống chống UAV.
Nhật Bản hiện là một trong những nhà tài trợ lớn cho Ukraine, với tổng viện trợ khoảng 15 tỉ USD và cam kết thêm 3,5 tỉ USD, theo báo cáo của OSW cuối năm 2025. Nhật Bản cũng tham gia các lệnh trừng phạt quốc tế nhằm vào Nga.
Theo trang tin Semafor ngày 9.4 dẫn lời các quan chức Mỹ, chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump dự kiến gia hạn việc nới lỏng một số lệnh trừng phạt đối với dầu mỏ Nga trong tuần này.
Quyết định có thể được đưa ra trong vài ngày tới. Các nguồn tin cho biết Mỹ cũng có thể áp dụng bước đi tương tự với Iran, trong bối cảnh giá nhiên liệu trong nước tăng cao và các nỗ lực ngoại giao liên quan Trung Đông tiếp diễn. Trước đó, Bộ Tài chính Mỹ đã dỡ bỏ một phần lệnh trừng phạt đối với dầu và các sản phẩm dầu mỏ của Nga được vận chuyển trước ngày 12.3.
Liên quan diễn biến ngoại giao, Ngoại trưởng Nga Sergey Lavrov ngày 9.4 cho biết Nga – Mỹ vẫn duy trì các kênh tiếp xúc không chính thức và bí mật về vấn đề Ukraine. Tuy nhiên, ông thừa nhận hiện chưa có triển vọng rõ ràng cho việc nối lại đối thoại giải quyết cuộc xung đột bước sang năm thứ 5, trong bối cảnh các bên trung gian đang tập trung vào các vấn đề khác, theo TASS.
Trong khi đó, phát ngôn viên Dmitry Peskov cũng xác nhận Nga và Ukraine tiếp tục trao đổi thông tin với Mỹ qua các kênh riêng, đồng thời bày tỏ hy vọng các nỗ lực đàm phán có thể được nối lại trong thời gian tới.
Trước đó, Phó tổng thống Mỹ JD Vance ngày 8.4 đã cáo buộc Nga và Ukraine trì hoãn thỏa thuận ngừng bắn vì lợi ích của một phần lãnh thổ nhỏ.
Annie Ramos, 22 tuổi, sinh ra tại Honduras và là vợ của trung sĩ Matthew Blank, bị bắt hôm 2/4 khi cùng chồng tới căn cứ Fort Polk tại bang Louisiana để làm thủ tục đăng ký quyền lợi dành cho người thân của binh sĩ, bao gồm bảo hiểm và tiến tới xin thẻ xanh.
Gia đình cho biết bố mẹ mang theo Ramos vượt biên vào Mỹ khi cô chưa đầy 2 tuổi. Năm 2020, cô từng nộp đơn xin tham gia chương trình Hoãn Trục xuất với Người đến Mỹ từ khi còn nhỏ (DACA), được ban hành năm 2012 dưới thời cựu tổng thống Barack Obama.
Chương trình DACA nhằm bảo vệ những người được thân nhân đưa đến Mỹ từ khi chưa đủ tuổi thành niên và không có giấy tờ hợp pháp, giúp họ tránh bị trục xuất và mở ra con đường để họ có giấy phép lao động. Tuy nhiên, hồ sơ DACA của Ramos bị trì hoãn phê duyệt 6 năm qua vì những tranh cãi pháp lý và chính trị xoay quanh chương trình này.
Hồi tháng 3, Ramos kết hôn với Blank, một công dân Mỹ. Hai vợ chồng đã thuê luật sư và đang hoàn tất hồ sơ hợp pháp hóa tình trạng cư trú cho cô theo diện kết hôn với công dân Mỹ.
Blank đã phục vụ trong quân đội Mỹ 5 năm, từng được triển khai đến Trung Đông và châu Âu. Anh cho biết hai người dự định chuyển đến sống cùng nhau tại căn cứ sau lễ Phục sinh.
Hôm 2/4, Blank đưa vợ tới căn cứ Fort Polk, mang theo giấy khai sinh, hộ chiếu Honduras của Ramos, giấy đăng ký kết hôn và chứng minh thư quân đội của anh để làm thủ tục đăng ký phúc lợi cho cô. Khi nhân viên hành chính tại căn cứ hỏi về tình trạng cư trú của Ramos, gia đình giải thích rằng cô không có visa hay thẻ xanh, nhưng luật sư của họ đã chuẩn bị các giấy tờ cần thiết để đăng ký.
"Chúng tôi sẽ làm rõ điều này", nhân viên hành chính tại căn cứ trả lời, sau đó gọi một số cuộc điện thoại. Sĩ quan chỉ huy tại căn cứ sau đó đến cùng với một thành viên Cơ quan Điều tra Hình sự (CID) của căn cứ. Người này sau đó thông báo sẽ liên hệ với Cơ quan Thực thi Di trú và Hải quan Mỹ (ICE) cùng Bộ An ninh Nội địa về trường hợp của Ramos.
Ramos sau đó bị còng tay và bị quân cảnh đưa đến một tòa nhà khác. Ba đặc vụ ICE đến Fort Polk và bắt cô, nói rằng "họ không còn lựa chọn nào khác", theo lời kể của gia đình Blank.
"Tôi đã cầu xin họ đừng đưa con bé đi, nhưng họ nói rằng cấp trên đã ra lệnh", Jen Ricklin, mẹ của Blank, cho hay.
Ramos bị chuyển tới cơ sở giam giữ của ICE tại Basile, cách căn cứ hơn 100 km. Gia đình Ramos cho biết khi đến thăm vài ngày sau, họ không được phép mang theo bất kỳ giấy tờ, khiến cô không thể ký tên vào hồ sơ xin thẻ xanh đã đến bước hoàn tất.
Bộ An ninh Nội địa Mỹ cho biết Ramos từng bị thẩm phán di trú ra lệnh trục xuất vắng mặt từ năm 2005, khi gia đình cô không xuất hiện tại một phiên điều trần. Cơ quan này cho hay cô không có tình trạng pháp lý hợp lệ và lệnh bắt được thực thi trên cơ sở Ramos "tìm cách xâm nhập một căn cứ quân sự".
Sự việc gây phản ứng từ một số chính trị gia và tổ chức bảo vệ người nhập cư, cho rằng việc ICE bắt giữ vợ của một quân nhân có thể ảnh hưởng tới tinh thần binh sĩ và tác động tiêu cực đến các nỗ lực tuyển quân.
Một số ý kiến cũng cho rằng chính quyền Tổng thống Donald Trump đang từng bước chấm dứt các chính sách nới lỏng về thực thi luật nhập cư đối với gia đình quân nhân, dù trước đây đây là một yếu tố được sử dụng để khuyến khích tuyển quân.
Sau gần một tuần, Ramos được ICE phóng thích, nhưng phải đeo thiết bị giám sát GPS gắn ở cổ chân. DHS cho hay đây là biện pháp đề phòng nguy cơ cô bỏ trốn trong khi chờ triển khai các thủ tục trục xuất tiếp theo. "Cô ấy sẽ được xử lý theo quy trình pháp lý công bằng", DHS lưu ý.
"Tôi chỉ mong được sống một cách đàng hoàng tại đất nước mà tôi coi là quê hương từ khi còn nhỏ", Ramos nói sau khi được thả. Cô cho biết muốn mong muốn hoàn thành việc học và xây dựng cuộc sống cùng chồng tại Mỹ.
Việc Mỹ phóng thành công tàu Orion thuộc sứ mệnh Artemis 2 mới đây đã chấm dứt hơn nửa thế kỷ vắng bóng con người trên quỹ đạo mặt trăng kể từ sứ mạng Apollo 17 năm 1972. Dù công nghệ máy tính hiện nay mạnh gấp hàng vạn lần, nhưng những rào cản về chính trị, sự đứt gãy tri thức và triết lý an toàn khắt khe đã khiến hành trình trở lại này kéo dài kỷ lục.
Rào cản lớn nhất đối với việc quay lại mặt trăng không xuất phát từ công nghệ mà từ sự thiếu nhất quán trong chính sách quốc gia của Mỹ. Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, chương trình Apollo được thúc đẩy bởi ý chí chính trị tuyệt đối với ngân sách đỉnh điểm chiếm tới 4,41% tổng chi tiêu liên bang vào năm 1966. Tuy nhiên, sau khi đạt được mục tiêu đưa người đặt chân lên mặt trăng, sự quan tâm của giới chính trị sụt giảm khiến ngân sách Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Mỹ (NASA) hiện nay chỉ còn chiếm chưa đầy 0,5% chi tiêu chính phủ.
Đáng chú ý trong suốt nửa thế kỷ qua, NASA luôn chịu áp lực trước những thay đổi liên tục giữa các đời tổng thống. Theo đó, dự án của chính quyền này thường bị người kế nhiệm hủy bỏ để thay thế bằng mục tiêu mới, gây lãng phí hàng chục tỉ USD. Điển hình là chương trình Constellation của Tổng thống George W. Bush đã bị người kế nhiệm Barack Obama khai tử vào năm 2010 để chuyển hướng sang các tiểu hành tinh, trước khi mục tiêu mặt trăng được khôi phục lại dưới thời ông Donald Trump và tiếp tục dưới thời ông Joe Biden.
Một nghịch lý trớ trêu là dù người Mỹ vẫn có thể sử dụng lại các tên lửa đã từng đưa người lên mặt trăng thành công năm xưa, nhưng việc chế tạo lại nó trong thế kỷ 21 là điều không hợp thời và tốn kém. Có ước tính cho rằng khoảng 75% các nhà cung cấp linh kiện từ thập niên 1960 đã ngừng hoạt động, khiến hệ sinh thái sản xuất cũ gần như tan rã hoàn toàn. Các vật liệu cũ đã lỗi thời và không còn được sản xuất, trong khi việc thay thế bằng vật liệu hiện đại đòi hỏi quy trình kiểm nghiệm lại từ đầu.
Bên cạnh đó, kỹ nghệ thủ công trong quá trình sản xuất cũng bị mai một theo thời gian. Tên lửa thời Apollo là những kiệt tác được lắp ráp bởi những thợ hàn bậc thầy từ thời Thế chiến 2, những người sở hữu kỹ năng khó có thể mô tả hoàn toàn trong văn bản kỹ thuật. Khi những chuyên gia này nghỉ hưu, các "bí kíp" thực tế đã bị mất đi, buộc các kỹ sư hiện đại phải "nghiên cứu ngược" từ các động cơ trong bảo tàng để tái thiết lập quy trình sản xuất.
Khác với thời đại Apollo là một "cuộc chạy nước rút" đầy mạo hiểm để giành chiến thắng nhất thời, chương trình Artemis hướng tới sự an toàn tuyệt đối. Sau những thảm họa kinh hoàng của các tàu con thoi Challenger và Columbia, NASA không còn chấp nhận những rủi ro cực lớn như trước. Mọi hệ thống hiện nay đều phải trải qua các quy trình kiểm tra gắt gao, ưu tiên tính mạng phi hành gia hơn là áp lực về thời gian hay tốc độ.
Cuối cùng, mục tiêu của Artemis tập trung vào việc xây dựng căn cứ bền vững trên mặt trăng và trạm dừng cho các hành trình tiến tới sao Hỏa sau này. Với mục tiêu đó, bước đầu là tìm cách khai thác băng tại cực Nam của mặt trăng để tạo ra khí oxy và nhiên liệu tên lửa. Đây là một bài toán phức tạp hơn gấp bội so với những chuyến viếng thăm ngắn ngủi trong quá khứ. Bởi thế, sự kiện phóng tàu lên quỹ đạo mặt trăng mới đây có thể xem như một bước dạo đầu cho rất nhiều thử thách mà con người phải vượt qua được trong tương lai để thực hiện được giấc mơ làm chủ trong không gian sâu.
Việc Nhật Bản sắp nới lỏng các quy định xuất khẩu vũ khí đang thu hút sự quan tâm mạnh mẽ từ nhiều nước, trong bối cảnh Tổng thống Mỹ Donald Trump đang lưỡng lự về các cam kết an ninh với các đồng minh, còn xung đột ở Iran và Ukraine đang gây áp lực lên nguồn cung vũ khí của Mỹ.
Đảng Dân chủ Tự do (LDP) của Thủ tướng Nhật Sanae Takaichi vừa thông qua những thay đổi vào tuần này, khi bà nỗ lực vực dậy nền công nghiệp quân sự của đất nước. Reuters ngày 15.4 dẫn lời 3 quan chức chính phủ Nhật cho hay chính phủ sẽ chính thức thông qua các quy định mới ngay trong tháng này.
Nhật chi 60 tỉ USD cho lực lượng phòng vệ trong năm nay. Nhật duy trì một ngành công nghiệp quốc phòng quy mô đáng kể, có khả năng sản xuất các hệ thống tiên tiến như tàu ngầm và máy bay chiến đấu.
Trong số những khách hàng tiềm năng mới có quân đội Ba Lan và Hải quân Philippines, những lực lượng đang trải qua quá trình hiện đại hóa, theo các quan chức Nhật và các nhà ngoại giao nước ngoài tại Tokyo.
Các nhà thầu quốc phòng Toshiba và Mitsubishi Electric đang tuyển dụng nhân viên và tăng năng lực sản xuất để tận dụng nhu cầu, các giám đốc điều hành của họ cho biết, cung cấp những chi tiết chưa từng được công bố trước đây.
Theo 2 quan chức Nhật, một trong những thỏa thuận đầu tiên mà chính phủ của bà Takaichi có khả năng phê duyệt là xuất khẩu tàu hộ tống cũ sang Philippines, trước khi xuất khẩu các hệ thống phòng thủ tên lửa.
Ông Mariusz Boguszewski, phó trưởng phái đoàn Đại sứ quán Ba Lan tại Nhật, cho biết Warsaw và Tokyo có thể giúp lấp đầy những khoảng trống trong kho vũ khí của nhau, hợp tác trong các lĩnh vực như hệ thống chống máy bay không người lái (UAV) và tác chiến điện tử.
Tập đoàn WB của Ba Lan, một trong những nhà thầu quốc phòng tư nhân lớn nhất châu Âu, năm ngoái đã ký một thỏa thuận sơ bộ về UAV với nhà sản xuất máy bay ShinMaywa của Nhật.
Ba nhà ngoại giao châu Âu khác cho biết việc Nhật nới lỏng chính sách xuất khẩu vũ khí tạo cơ hội để giảm bớt sự phụ thuộc nặng nề vào vũ khí của Mỹ, vốn đang chịu áp lực do các cuộc xung đột.
Theo các nhà ngoại giao này, tính khó đoán của ông Trump, chẳng hạn như những lời đe dọa rời khỏi NATO và sáp nhập Greenland, cũng đã thúc đẩy mạnh mẽ việc đa dạng hóa nguồn cung vũ khí.
Văn phòng của bà Takaichi từ chối trả lời các câu hỏi cụ thể liên quan những vấn đề trên, thay vào đó nhắc lại bài phát biểu hôm 20.2, trong đó nhà lãnh đạo nói rằng bà đang xem xét lại các biện pháp kiểm soát để tăng cường sản xuất quốc phòng của Nhật và củng cố năng lực của các đồng minh.
Mỹ từ lâu đã thống trị các chuỗi cung ứng quân sự toàn cầu. Theo một báo cáo hồi tháng 3 của Viện Nghiên cứu Hòa bình quốc tế Stockholm (SIPRI), nước này chiếm 95% lượng nhập khẩu quốc phòng của Nhật, 85% lượng nhập khẩu của Úc và Anh, và 77% lượng nhập khẩu của Ả Rập Xê Út trong giai đoạn 2021-2025.