Quý đầu năm, Việt Nam xuất khẩu 122,93 tỷ USD hàng hóa, theo Cục Thống kê. Con số này cao hơn 19,1% so với cùng kỳ năm ngoái và mở rộng nhanh hơn mức tăng 10,6% của quý I/2025.
Tuy nhiên, việc duy trì phong độ tăng trưởng này trong ba quý còn lại không dễ, do xung đột tại Trung Đông khiến giá nhiên liệu, vận tải và kéo theo là nguyên vật liệu đầu vào leo thang.
Khảo sát chỉ số nhà quản trị mua hàng (PMI) tháng 3 của S&P Global cho biết một nửa doanh nghiệp được hỏi phản ánh chi phí đầu vào tháng qua tăng nhanh nhất kể từ tháng 4/2022. Họ phản ứng bằng cách nâng giá bán, với tốc độ cao nhất gần 15 năm, khiến đơn đặt hàng xuất khẩu mới quay đầu giảm.
Ông Andrew Harker, Giám đốc Kinh tế tại S&P Global Market Intelligence, chỉ ra diễn biến này phản ánh “những ảnh hưởng ngay lập tức và đáng kể” mà các nhà sản xuất tại Việt Nam phải đối diện.
Đáng chú ý, doanh nghiệp nội địa có dấu hiệu “ngấm đòn” trước. Trong kim ngạch xuất khẩu quý vừa qua, khu vực kinh tế trong nước chỉ góp 24,47 tỷ USD, giảm 16,6%. Trong khi, FDI và dầu thô gánh 80% kế quả, tăng trưởng 33,3%.
Khảo sát kết quả sản xuất kinh doanh quý I của Cục Thống kê cũng chỉ ra khối FDI đang lạc quan nhất, với 71,7% đánh giá tình hình tốt hơn và giữ ổn định. Ở khối doanh nghiệp nhà nước và tư nhân, tỷ lệ này lần lượt là 69,5% và 68,3%.
Ông Phạm Văn Việt, Chủ tịch HĐQT Công ty Việt Thắng Jean, xác nhận giá cả nguyên liệu và chi phí vận chuyển đều tăng. “Đã có dấu hiệu gián đoạn chuỗi cung ứng khi một số nhà cung cấp chỉ xác nhận đơn hàng mà không cam kết ngày giao hoặc giá cả”, ông kể trong sự kiện gần đây.
Ngay cả với những ngành xuất khẩu không phụ thuộc nguyên liệu nước ngoài như trái cây, Chủ tịch Vina T&T Nguyễn Đình Tùng cho biết vẫn không tránh khỏi áp lực. “Chúng tôi cũng phải đối mặt với chi phí xăng dầu, kéo theo cơ sở hạ tầng logistics, vật tư và bao bì từ nhà cung cấp tăng”, ông chỉ ra.
Để hạn chế tác động, duy trì đầu ra, một số doanh nghiệp tìm cách điều chỉnh sản phẩm và hướng đi của đơn hàng. Ông Tùng chỉ ra chiến sự làm tăng cước tàu và kéo dài thời gian vận chuyển đi châu Âu hoặc Mỹ tăng thêm 15 ngày.
Do đó, ông tập trung thêm vào các sản phẩm chế biến sâu để giảm phụ thuộc vào hàng tươi và chuyển đổi từ các thị trường xa sang các thị trường gần để giảm chi phí vận chuyển và tránh vùng xung đột. Hay Việt Thắng Jean trước đây xuất khẩu sang EU và Mỹ chiếm 60%, nhưng đã điều tiết giảm xuống còn khoảng 44%.
Doanh nghiệp vẫn cần thêm hỗ trợ. Khảo sát nhóm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo của Cục Thống kê chỉ ra 48,7% doanh nghiệp kiến nghị ưu tiên kiểm soát và bình ổn giá năng lượng, nhằm giảm áp lực đầu vào.
Cùng với đó, sớm có giải pháp hỗ trợ tín dụng, đặc biệt là doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp nông nghiệp, nhỏ và vừa, đang gặp khó trong xoay xở vốn lưu động. Đồng thời, cơ cấu lại thời hạn trả nợ, tăng khả năng tiếp cận vốn cho các doanh nghiệp bị ảnh hưởng trực tiếp bởi biến động bên ngoài.
Một số giải pháp dài hơi hơn cũng được đặt ra. Là Phó chủ tịch Hội Dệt may – Thêu đan TP HCM, ông Phạm Văn Việt chỉ ra chuỗi cung ứng ngành này chưa tối ưu nên chi phí sản xuất cao hơn các nước khác khoảng 20%. Cùng với đó, công nghệ chưa tiên tiến khiến giá thành cao hơn từ 10-12% so với các nước đối thủ.
Khi giá đầu vào tăng vọt bào mòn thêm biên lợi nhuận mỏng manh, ông cho rằng cần nhanh chóng tăng liên kết chuỗi trong nước để chủ động nguồn nguyên liệu; đồng thời, cần cải thiện và thay đổi công nghệ để giảm giá thành.
Cuộc xung đột cũng làm tăng mối quan tâm đến các phương án vận tải giảm hoặc không phát thải. Ông Nhữ Đình Thiện, Tổng thư ký Hiệp hội Đại lý, Môi giới và Dịch vụ hàng hải Việt Nam khuyến nghị tăng đầu tư cho hoạt động thủy nội địa.
Chuyên gia chỉ ra Việt Nam có hơn 80.000 km sông ngòi, với khoảng 40.000 km có thể khai thác vận tải, nhưng vận tải thủy nội địa đóng góp chưa tới 20% sản lượng. Ông Thiện ví dụ việc vận chuyển một container ra khu vực Cái Mép bằng đường bộ có thể mất 4-5 triệu đồng và tốn nhiều thời gian do kẹt xe. Trong khi, một xà lan có thể chở từ 100 đến 200 container, giúp cắt giảm chi phí đáng kể.
Phương tiện điện cũng được tính đến. “Chúng tôi đang cố gắng chuyển đổi cơ sở hạ tầng logistics từ sử dụng xăng dầu sang dùng điện và lắp thêm các tấm pin mặt trời”, ông Nguyễn Đình Tùng tại Vina T&T, cho biết.
Đã có triển vọng cho hướng đi này. Tại một hội nghị kinh doanh mới đây, ông Kevin Stuart Burrell, Giám đốc Điều hành khu vực Mekong của A.P. Moller – Maersk, cho biết đã đạt được chi phí vận hành đội xe tải điện bằng với xe xăng sau ba tháng thử nghiệm tại Việt Nam, dù chi phí đầu tư ban đầu gấp 2,5 lần xe xăng.
Theo ông Nguyễn Ngọc Hòa, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp TP HCM, việc hỗ trợ doanh nghiệp ứng phó với thách thức của xung đột Trung Đông không chỉ dừng ở các giải pháp ngắn hạn, mà cần hướng đến xây dựng một môi trường kinh doanh thực sự thuận lợi, nơi doanh nghiệp có thể yên tâm đầu tư dài hạn, đổi mới và phát triển bền vững.
“Đồng thời, Việt Nam cần có những cơ chế cụ thể hơn để hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong quá trình chuyển đổi, đặc biệt là về tài chính, công nghệ và nguồn nhân lực”, ông nói tại một diễn đàn kinh tế tháng trước.
Như Tuổi Trẻ Online đã đưa tin, ông Vũ Minh Châu, cựu Tổng giám đốc Công ty TNHH Bảo Tín Minh Châu, cùng con trai bị khởi tố với cáo buộc vi phạm quy định về kế toán trong quá trình kinh doanh.
Theo thông tin của Tuổi Trẻ Online, Bảo Tín Minh Châu ghi nhận xu hướng mở rộng quy mô rõ rệt trong giai đoạn 2019 - 2023 trong bối cảnh giá vàng tăng mạnh, kéo theo nhu cầu đầu tư, tích trữ loại kim loại quý này của thị trường gia tăng.
Báo cáo cho thấy nếu như năm 2019, doanh thu của Bảo Tín Minh Châu ở mức hơn 530 tỉ đồng, thì sang tới 2023 đạt hơn 1.400 tỉ đồng, tương đương gần gấp 2,6 lần.
Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối của doanh nghiệp đã chuyển từ trạng thái âm sang dương. Tuy nhiên quy mô lợi nhuận năm 2023 vẫn ở mức khiêm tốn, chỉ đạt khoảng 4,5 tỉ đồng, dù doanh thu ghi nhận nghìn tỉ.
Xét trên báo cáo, có thể thấy giá vốn hàng bán của Bảo Tín Minh Châu duy trì ở mức rất cao. Như năm 2023, giá vốn đạt khoảng 1.365 tỉ đồng, tương đương hơn 97% doanh thu, qua đó khiến lợi nhuận gộp chỉ đạt khoảng 36 tỉ đồng.
Tuy nhiên theo thông tin từ cơ quan điều tra công bố hôm nay (6-4), trong giai đoạn 2020-2023, doanh thu thực tế của Công ty TNHH Bảo Tín Minh Châu đạt khoảng 13.700 tỉ đồng, chênh lệch so với báo cáo thuế khoảng 9.700 tỉ đồng, gây thiệt hại ngân sách nhà nước khoảng 150 tỉ đồng.
Bảo Tín Minh Châu là một trong những doanh nghiệp có quy mô đáng chú ý trong lĩnh vực kinh doanh và chế tác vàng bạc đá quý tại Việt Nam.
Sau hơn 30 năm hoạt động, doanh nghiệp hiện sở hữu 3 cơ sở kinh doanh tại Hà Nội cùng mạng lưới khoảng 200 đại lý trên toàn quốc.
Từ tên gọi "Bảo Tín", nhiều thương hiệu như Bảo Tín Minh Châu, Bảo Tín Mạnh Hải, Bảo Tín Thanh Vân, Bảo Tín Hoàng Long… đã ra đời.
Các thương hiệu này đều được điều hành bởi con của bà Lương Thị Điểm - doanh nhân tiên phong trong ngành kim hoàn tại Hà Nội.
Ông Vũ Minh Châu (sinh năm 1953) là con cả của bà Điểm. Ông thành lập thương hiệu vàng Bảo Tín Minh Châu vào năm 1989. Đây cũng là doanh nghiệp nổi tiếng, đông khách trong số các công ty "họ" Bảo Tín.
Theo dữ liệu từ hệ thống đăng ký kinh doanh quốc gia, đến tháng 5-1995, Công ty TNHH Bảo Tín Minh Châu chính thức được thành lập trên cơ sở nâng cấp từ một cửa hàng vàng đặt tại đường Trần Nhân Tông, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Đến năm 2018, doanh nghiệp có vốn điều lệ 100 tỉ đồng, trong đó ông Vũ Minh Châu nắm giữ 90,17% vốn, phần còn lại thuộc về ông Vũ Phương Nam là con trai cả của ông Châu.
Ông Vũ Minh Châu đảm nhiệm vai trò Tổng giám đốc kiêm người đại diện pháp luật của doanh nghiệp từ khi thành lập. Tuy nhiên đến tháng 10-2024, vị trí người đại diện pháp luật đã được chuyển sang bà Phạm Lan Anh (sinh năm 1976), hiện là Giám đốc công ty.
Cập nhật mới nhất từ Phòng Đăng ký kinh doanh Hà Nội, Bảo Tín Minh Châu đã tăng vốn điều lệ từ 300 tỉ đồng lên gần 400 tỉ đồng.
Trong đó ông Vũ Minh Châu góp thêm 390 tỉ đồng, tỉ lệ sở hữu 97,5%, trong khi tỉ lệ của ông Vũ Phương Nam góp 9,83 tỉ đồng.
Ngoài ra Bảo Tín Minh Châu đã đăng ký thêm ngành nghề kinh doanh bất động sản, quyền sử dụng đất thuộc chủ sở hữu, chủ sử dụng hoặc đi thuê.
Doanh nghiệp cũng cập nhật và mở rộng một số lĩnh vực hoạt động khác như kiểm tra và phân tích kỹ thuật (dịch vụ thử nghiệm xác định hàm lượng vàng), đại lý môi giới, đấu giá hàng hóa, bán lẻ vàng bạc, đá quý và đồ trang sức, cũng như bán lẻ nước rửa trang sức.
Sau cuộc họp ngày 5/4, Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ và đồng minh (OPEC+) thống nhất tăng hạn ngạch sản xuất thêm 206.000 thùng một ngày trong tháng 5. Mức tăng này tương đương tháng 4.
Tuy nhiên, con số trên được đánh giá khiêm tốn và chỉ có ý nghĩa trên giấy tờ, do các thành viên chủ chốt hiện khó nâng sản lượng. Tại vùng Vịnh, cơ sở hạ tầng đang chịu thiệt hại do các cuộc tấn công bằng tên lửa và thiết bị bay không người lái. Một số quan chức cho biết kể cả khi chiến sự chấm dứt và eo biển Hormuz được mở lại, các nước vẫn mất vài tháng để khôi phục hoạt động và đạt mục tiêu sản lượng.
Cuộc xung đột khiến eo biển Hormuz gần như bị phong tỏa từ cuối tháng 2, chặn tuyến đường xuất khẩu của nhiều nước thành viên OPEC+ như Arab Saudi, UAE, Kuwait và Iraq. Đây là các quốc gia có khả năng nâng sản xuất mạnh nhất trước chiến sự.
Những nước khác trong OPEC+, như Nga, hiện cũng không thể tăng sản lượng, vì các lệnh trừng phạt của phương Tây và thiệt hại với cơ sở hạ tầng trong chiến sự Ukraine.
"Thực tế là số dầu được bổ sung ra thị trường rất ít. Khi eo biển Hormuz vẫn đóng, việc OPEC+ tăng sản xuất ít có ý nghĩa", Jorge Leon - cựu quan chức OPEC, hiện làm việc tại hãng tư vấn năng lượng Rystad Energy nhận định.
Mức tăng trên chỉ tương đương gần 2% lượng dầu bị thiếu hụt do eo biển Hormuz tê liệt. Tuy nhiên, nó cũng cho thấy OPEC+ sẵn sàng nâng sản xuất ngay khi tuyến đường thủy này mở lại, các nguồn tin của Reuters cho biết.
Cuối tuần trước, Iran tuyên bố các tàu của Iraq được đi qua Hormuz. Dữ liệu vận tải ngày 5/4 cho thấy một tàu chở dầu thô của Iraq đã đi qua eo biển này.
JPMorgan tuần trước dự báo giá dầu có thể vượt 150 USD một thùng - cao nhất lịch sử, nếu dòng chảy năng lượng qua Hormuz gián đoạn đến giữa tháng 5.
Iran là một trong 22 thành viên của OPEC+. Tổ chức này giảm sản lượng từ 2022 nhằm ngăn dư cung trên thị trường khiến giá giảm. Từ tháng 4/2025, sản xuất của nhóm dần tăng lên, nhằm giành lại thị phần từ các đối thủ, như Mỹ. Tính đến hiện tại, họ tăng sản xuất thêm 2,9 triệu thùng một ngày.
Cảng quốc tế Chu Lai chính thức đưa vào vận hành hệ thống điện năng lượng mặt trời đầu tiên, từng bước ứng dụng năng lượng sạch trong hoạt động khai thác cảng
Công suất dự kiến đạt 5.100 kWp
Dự án được triển khai theo 3 giai đoạn, với tổng công suất dự kiến đạt 5.100 kWp. Trong đó, giai đoạn 1 được triển khai theo 2 đợt liên tiếp trong năm 2026.
Cụ thể, đợt 1 bắt đầu từ tháng 1-2026 với công suất 700 kWp trên diện tích gần 5.000 m². Tiếp nối, trong tháng 4-2026, cảng triển khai đợt 2 với quy mô mở rộng thêm 800 kWp trên diện tích hơn 7.200 m².
Sau khi hoàn thành cả 2 đợt, tổng công suất giai đoạn 1 đạt 1.500 kWp với khoảng 2.300 tấm pin năng lượng mặt trời, sản lượng điện dự kiến khoảng 2,1 triệu kWh/năm.
Trong các giai đoạn tiếp theo, cảng sẽ tiếp tục đầu tư mở rộng với tổng công suất bổ sung đạt 3.600 kWp (tương đương sản lượng điện khoảng trên 5 triệu kWh/năm), triển khai trên quy mô lớn tại hệ thống kho bãi và hạ tầng hiện hữu.
Khi hoàn thành, tổng công suất điện mặt trời tại Cảng quốc tế Chu Lai đáp ứng toàn bộ nhu cầu cung cấp điện cho hoạt động khai thác, đặc biệt là hệ thống container lạnh và chuỗi logistics nông nghiệp.
Nguồn điện năng lượng mặt trời được sử dụng trong các hoạt động xếp dỡ hàng hóa, lưu kho, bãi tại cảng
Lợi thế lớn để phát triển điện mặt trời
Với tổng diện tích 140 ha, trong đó khu kho bãi chiếm khoảng 20 ha, Cảng quốc tế Chu Lai có lợi thế lớn để phát triển điện mặt trời áp mái. Kết hợp với điều kiện thời tiết khu vực miền Trung có số giờ nắng cao và bức xạ tốt, hệ thống này tạo ra nguồn điện ổn định, giúp duy trì liên tục hoạt động xếp dỡ, lưu trữ hàng hóa, hạn chế rủi ro gián đoạn trong khai thác.
Việc chủ động sử dụng nguồn điện tại chỗ giúp cảng giảm đáng kể chi phí điện năng - một trong những cấu phần chi phí lớn trong khai thác cảng, đặc biệt đối với vận hành container lạnh và hệ thống kho. Qua đó, tạo cơ sở quan trọng để cảng triển khai các chính sách giá linh hoạt và cạnh tranh hơn cho khách hàng.
Cảng quốc tế Chu Lai định hướng duy trì ổn định đơn giá dịch vụ trong dài hạn, hạn chế tối đa tác động từ biến động giá nhiên liệu và giá điện; đồng thời tối ưu chi phí lưu bãi, vận hành container lạnh và dịch vụ logistics liên quan, giúp doanh nghiệp xuất nhập khẩu - đặc biệt trong lĩnh vực nông sản - giảm áp lực chi phí chuỗi cung ứng, gia tăng hiệu quả kinh doanh.
Không chỉ mang lại lợi ích về chi phí, dự án còn góp phần giảm phát thải khí nhà kính, giảm phụ thuộc vào nguồn năng lượng truyền thống và từng bước hiện thực hóa mục tiêu phát triển cảng xanh.
Đây là một trong những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh tổng thể của Cảng quốc tế Chu Lai trong bối cảnh ngành logistics đang chuyển dịch mạnh theo hướng bền vững.
Hệ thống điện năng lượng mặt trời giúp khách hàng tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả chuỗi cung ứng
Trong bối cảnh chi phí năng lượng liên tục gia tăng và yêu cầu giảm phát thải ngày càng cao, việc đầu tư hệ thống điện mặt trời không chỉ là giải pháp kỹ thuật mà còn là chiến lược dài hạn, giúp Cảng quốc tế Chu Lai chủ động nguồn lực, đồng hành cùng khách hàng tối ưu chi phí và phát triển bền vững.