Đối với những người hay di chuyển nhiều bằng xe đạp, đây là thói quen rất tốt cho sức khỏe, tạo được động lực tích cực cho tinh thần, đồng thời cũng giúp đường phố giảm ô nhiễm.
Tuy nhiên, TP.HCM cũng được góp ý sẽ cần hành động nhiều hơn nữa để khuyến khích người dân chọn xe đạp làm phương tiên di chuyển, nhất là để đi làm.
Tôi lớn lên cùng việc đạp xe. Ở Hà Lan, đây là một loại phương tiện rất thông dụng. Đạp xe tại đây không chỉ là một sở thích mà còn là một phương thức di chuyển thường ngày.
Tôi đạp xe đi học, đi mua sắm, đi đá bóng, đi gặp bạn bè, gia đình… nói chung là đi khắp nơi bằng xe đạp, miễn là khoảng cách nằm trong phạm vi hợp lý.
Đi xe đạp tốt cho sức khỏe, tiết kiệm chi phí (không cần đổ xăng, phí gửi xe cũng thấp hơn), đồng thời góp phần bảo vệ môi trường (không gây ô nhiễm, không gây tiếng ồn).
Tôi đã ở Việt Nam được 2,5 năm. Thói quen hằng ngày của tôi là đưa con gái đến trường, sau đó tiếp tục đến văn phòng ở phường Sài Gòn (quận 1 cũ) bằng xe đạp. Mỗi chiều khoảng 9km, mất từ 30 – 40 phút, gần tương đương với việc di chuyển bằng xe máy và chắc chắn là nhanh hơn đi ô tô.
Hạ tầng giao thông ở Việt Nam chưa thân thiện lắm với xe đạp, nhưng tôi nghĩ việc đạp xe cũng không khác lắm với di chuyển bằng xe máy. Tôi không cảm thấy không an toàn khi đạp xe tại TP.HCM. Dĩ nhiên, lúc nào bạn cũng phải chú ý quan sát, nhưng điều đó cũng giống như khi đi xe máy.
Bạn sẽ cần đảm bảo đội mũ bảo hiểm tốt và có hệ thống đèn chiếu sáng đầy đủ khi trời tối. Mua xe đạp là một khoản đầu tư tốt về lâu dài, cả về chi phí lẫn sức khỏe (mà sức khỏe thì vô giá), và cũng không cần phải mua loại quá đắt tiền.
Tôi thấy hệ thống giao thông công cộng tại TP.HCM cũng đang ngày càng tốt hơn, với metro, xe buýt… Bạn cũng có thể kết hợp đi xe đạp đến trạm xe buýt hoặc ga metro. Tôi hy vọng điều này sẽ sớm trở thành một thói quen phổ biến hơn với người Việt.
Tôi thường đạp xe thể thao vào sáng sớm, và thấy có rất nhiều người khác cũng đạp xe, tạo nên cảm giác cộng đồng. Chỉ là vấn đề thời gian trước khi xe đạp trở thành phương tiện di chuyển phổ biến hơn tại TP.HCM. Càng nhiều người xung quanh đạp xe thì càng khuyến khích người khác làm theo.
Tôi cho rằng khó khăn khi đạp xe ở TP.HCM là không khí còn bụi bặm và nhiệt độ cao. Đạp xe đi làm cũng khiến tôi đến văn phòng trong tình trạng khá đổ mồ hôi. Chúng tôi đang nỗ lực để đặt một phòng tắm tại văn phòng nhằm giải quyết vấn đề này.
Hằng ngày, tôi dành ra khoảng 30 phút để đạp xe tầm 10km từ nơi ở đến chỗ làm. Nghe thì hơi xa, nhưng việc đạp xe ở Hà Lan thuận tiện ở chỗ có làn đường riêng. Lúc còn ở nhà tại Đà Lạt, tôi đã quen với việc đạp xe leo dốc, nên việc đạp xe ở nước bạn có phần dễ dàng hơn.
Nhiều người cũng hỏi sao không chọn đi tàu hay metro cho khỏe, nhưng đối với sinh viên du học, tiết kiệm cũng là một trong những động lực để đạp xe. Chi phí cho việc di chuyển bằng phương tiện công cộng tại Hà Lan cũng khá cao.
Nhìn từ Hà Lan, tôi hiểu tại sao thói quen đạp xe hằng ngày tại Việt Nam vẫn chưa được phổ biến. Theo tôi, hai điểm hạn chế nhất là do trời nắng, nóng và độ an toàn khi lưu thông trên đường chung với các phương tiện khác của xe đạp.
Tuy nhiên, nếu chưa thể đi xe đạp hằng ngày hay đi đường dài, hãy cứ nên thử đi những quãng đường ngắn trước, như đi cà phê, đi chợ gần nhà vào cuối tuần để tận hưởng được cảm giác thong dong với loại phương tiện này.
Đạp xe không chỉ là di chuyển, mà là cách chúng ta chọn để sống chậm lại và lắng nghe nhịp đập của phố thị. Đừng đợi đến khi mọi thứ hoàn hảo mới bắt đầu.
Chính những vòng xe của chúng ta ngày hôm nay sẽ là tín hiệu để đường phố Việt Nam trong tương lai trở nên xanh hơn và thân thiện hơn.
Không đạp xe đi làm, nhưng tôi đạp xe 4 ngày/tuần để rèn luyện sức khỏe. Đi cùng nhóm, tôi đạp xe từ 5 giờ sáng với quãng đường 50 – 60km, sau đó là thong thả ăn sáng, uống cà phê. Riêng ngày Chủ nhật, tôi đạp xe từ 100km trở lên.
Ban đầu, việc đạp xe đối với tôi đơn giản chỉ là một sở thích tốt cho sức khỏe, nhưng giờ đã trở thành thói quen. Tôi thấy tập luyện đều đặn, trong đó có đi xe đạp, giúp đầu óc minh mẫn hơn, tăng sức bền cho tim, phổi và cơ bắp, cải thiện tâm trạng, tinh thần sảng khoái và tích cực hơn.
Hiện nay ở TP.HCM chỉ mới có 1 tuyến đường dành cho xe đạp ở đường Mai Chí Thọ, nhưng phần nào cũng giúp giảm những tai nạn không đáng có. Vì không có làn đường riêng, nên xe đạp phải ưu tiên cho xe cơ giới và xe máy.
Nếu có hạ tầng giao thông thuận tiện hơn, đây sẽ là động lực để người dân TP.HCM đạp xe nhiều hơn, qua đó rèn luyện sức khỏe.
Tại TP.HCM cũng có nhiều phong trào đạp xe, nhiều giải đạp xe cho đủ mọi lứa tuổi. Theo tôi điều này rất tích cực khi có thể quy tụ được những người có cùng đam mê, khiến cho việc rèn luyện sức khỏe trở nên chủ động và vui vẻ hơn.
Bộ Công Thương vừa hoàn thành dự thảo Thông tư sửa đổi một số điều tại Thông tư 50 quy định lộ trình áp dụng tỷ lệ phối trộn nhiên liệu sinh học với nhiên liệu truyền thống tại Việt Nam.
Theo đó, cơ quan này đề xuất từ ngày 30/4, xăng không chì (xăng khoáng như RON 95) phải phối trộn, pha chế thành xăng E10 để sử dụng cho xe máy, ô tô chạy bằng xăng trên toàn quốc. Trước đó, Thông tư 50 quy định xăng khoáng phải phối trộn, pha chế thành xăng E10 từ ngày 1/6.
Liên quan đến giá bán xăng E10 và mức độ sẵn sàng chuyển đổi của các cửa hàng bán lẻ xăng dầu, trả lời phóng viên báo Dân trí tại họp báo thường kỳ quý I của Bộ Công Thương chiều 9/4, Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân cho biết trong quy định tại Nghị định 83 và Nghị định 80 về kinh doanh xăng dầu đã có quy định về việc tính toán giá xăng nhiên liệu sinh học.
"Thời gian tới, Bộ Công Thương sẽ nghiên cứu và tiến hành điều hành giá xăng sinh học theo các quy định hiện hành, cụ thể là các nghị định về xăng dầu", Thứ trưởng Bộ Công Thương chia sẻ.
Ông Đào Duy Anh - Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công cho biết ngày 19/3 vừa qua, Chính phủ đã ban hành Chỉ thị 09 về việc tăng cường thực hiện tiết kiệm năng lượng, thúc đẩy chuyển dịch năng lượng và phát triển xe điện.
"Thủ tướng giao Bộ Công Thương xem xét việc chuyển đổi từ xăng khoáng sang xăng sinh học E10 ngay trong tháng 4. Thực hiện chỉ đạo này, Bộ đã làm việc với các thương nhân đầu mối, yêu cầu báo cáo mức độ sẵn sàng trong việc chuyển đổi sang xăng sinh học", ông Đào Duy Anh nói.
Đến ngày 26/3, Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân đã chủ trì cuộc họp với các bộ, ngành liên quan cùng đại diện doanh nghiệp đầu mối, Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam và Hiệp hội Xăng dầu Việt Nam về nội dung này.
Ông Đào Duy Anh thông tin, qua các diễn biến cũng như những buổi làm việc có thể nhận diện ba yếu tố chính quyết định tính khả thi của việc đưa xăng E10 vào phân phối ngay trong tháng 4.
"Yếu tố đầu tiên là nguồn cung nhiên liệu sinh học. Yếu tố thứ hai là điều kiện pháp lý và hạ tầng. Yếu tố thứ ba là mức độ sẵn sàng của hệ thống phân phối, tức các doanh nghiệp bán lẻ xăng dầu", ông nói.
Riêng với yếu tố thứ 3, theo đại diện Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công, hiện các cửa hàng xăng dầu thuộc doanh nghiệp đầu mối lớn như Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) và Tổng công ty Dầu Việt Nam - CTCP (PV Oil) đã có sự chuẩn bị từ sớm.
"Bởi các doanh nghiệp có khoảng một năm rưỡi để chuẩn bị, tức từ cuối năm 2024 đến nay", ông Đào Duy Anh nói.
Tuy nhiên, ông đánh giá thực tế triển khai vẫn còn những điểm thách thức. Vẫn còn một số doanh nghiệp và cửa hàng xăng dầu quy mô nhỏ gặp khó khăn trong việc chuẩn bị hạ tầng kỹ thuật, như rửa bồn bể, thiết bị phục vụ việc chuyển đổi sang xăng sinh học E10.
“Tại các buổi làm việc, chúng tôi đã khuyến nghị các đơn vị phải đẩy nhanh tiến độ chuẩn bị cơ sở hạ tầng nhằm bảo đảm sẵn sàng cho việc chuyển đổi từ xăng khoáng sang xăng E10”, ông Đào Duy Anh thông tin.
Đồng thời, ông cho biết ngày 1/4, Bộ Công Thương đã trình Thủ tướng báo cáo về điều kiện và khả năng triển khai phân phối xăng E10 trong tháng 4. Trên cơ sở đó, Bộ đề xuất một số giải pháp, nếu được thực hiện đồng bộ, có thể triển khai bán xăng E10 ngay trong tháng này.
Dòng chảy dầu khí qua eo biển Hormuz tắc nghẽn do xung đột Trung Đông khiến giá nhiên liệu tăng vọt. Nguồn cung sản phẩm hóa dầu, vốn là đầu vào của nhiều mặt hàng như giày dép, quần áo và túi nhựa, cũng chịu nhiều ảnh hưởng.
Tác động rõ rệt nhất ở châu Á, nơi chiếm hơn một nửa sản lượng sản xuất của thế giới và phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu dầu mỏ cùng các sản phẩm liên quan.
Tại Hàn Quốc, người dân tích trữ túi đựng rác và chính phủ khuyến khích giảm thiểu vật dụng dùng một lần. Đài Loan phải thiết lập đường dây nóng cho các nhà sản xuất nhựa, trong khi nông dân dự kiến tăng giá lúa gạo vì không thể mua được túi hút chân không.
Ở Nhật Bản, khủng hoảng dầu mỏ làm dấy lên lo ngại thiếu ống nhựa y tế để bệnh nhân chạy thận nhân tạo. Các nhà sản xuất tại Malaysia cảnh báo thiếu hụt một sản phẩm phụ của dầu mỏ, đe dọa nguồn cung găng tay y tế toàn cầu.
"Mọi thứ chịu ảnh hưởng rất nhanh chóng: bia, mì, khoai tây chiên, đồ chơi, mỹ phẩm", Dan Martin, Đồng Giám đốc bộ phận tình báo kinh doanh tại công ty tư vấn Dezan Shira & Associates, cho biết.
Nguyên nhân là nắp nhựa, thùng chứa, túi và các loại hộp đựng ngày càng khó mua. Các dẫn xuất dầu mỏ còn được dùng để sản xuất keo dán giày dép và đồ nội thất, dầu bôi trơn máy móc công nghiệp, dung môi cho sơn và quy trình làm sạch.
"Gián đoạn dầu mỏ lan truyền rất nhanh sang sản phẩm hóa dầu và hàng tiêu dùng", ông Dan Martin nói.
Khi các nhà sản xuất phải trả nhiều tiền hơn cho năng lượng và nguyên liệu thô, họ bắt đầu đẩy chi phí lên người tiêu dùng. Biến động này tạo áp lực lên lạm phát và kìm hãm kinh tế.
Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), nếu không có xung đột, tăng trưởng toàn cầu năm nay có thể đạt 3,3%. Tuy nhiên, tổ chức này sẽ công bố điều chỉnh dự báo vào tuần sau. "Dù chiến tranh có thể định hình kinh tế toàn cầu theo nhiều cách khác nhau, nhưng tất cả đều dẫn tới giá cao hơn và tăng trưởng chậm lại", bà Kristalina Georgieva, Giám đốc điều hành IMF, nhận định.
Dư địa ứng phó với tình trạng thiếu hụt sản phẩm từ dầu mỏ không còn nhiều. Các quốc gia bắt đầu xả kho dự trữ dầu khẩn cấp, nhưng chỉ giúp bổ sung vào nguồn cung nhiên liệu. Trong khi phần lớn thiếu hụt trong ngành sản xuất là naphtha - một sản phẩm phụ của dầu mỏ, đầu vào quan trọng cho vật liệu tổng hợp.
Các nhà sản xuất có rất ít nguồn dự trữ và không có chất thay thế naphtha. Một số công ty hóa dầu tại châu Á - nơi mua một nửa nguồn naphtha từ Trung Đông - đã cắt giảm sản lượng hoặc tuyên bố tình huống "bất khả kháng" trong những tuần gần đây.
Hàn Quốc tận dụng việc Mỹ tạm đình chỉ trừng phạt dầu và sản phẩm dầu mỏ của Nga để nhập lô naphtha đầu tiên từ Moskva, kể từ khi xung đột Ukraine nổ ra. Seoul cũng áp lệnh cấm xuất khẩu naphtha nhằm bảo vệ nguồn cung nội địa.
Ông Martin cho biết tình trạng khan hiếm sản phẩm từ dầu mỏ đang làm tăng chi phí đầu vào, nhất là tại các doanh nghiệp sản xuất hàng có tiêu chuẩn nghiêm ngặt như chất bán dẫn, linh kiện ôtô và bao bì y tế hoặc thực phẩm. "Doanh nghiệp gần như không có nhiều cách xoay xở, ngoài cắt giảm sản xuất và tiết kiệm năng lượng", ông nói.
Khi các nhà sản xuất chạy đua để đảm bảo nguồn nguyên liệu, chi phí nhựa và các sản phẩm liên quan tăng mạnh. Theo nền tảng phân tích thị trường hàng hóa ICIS, giá nhựa nguyên sinh tại châu Á đã tăng tới 59%, lên mức cao kỷ lục kể từ cuối tháng 2, thời điểm Mỹ và Israel bắt đầu không kích Iran.
Một trong những nhà bán buôn bao bì nhựa lớn nhất Thái Lan đã tăng giá 10% túi nilon trong suốt, loại sử dụng phổ biến để đựng thức ăn mang đi. Truyền thông Ấn Độ đưa tin nước đóng chai đắt hơn do giá nắp nhựa tăng 4 lần kể từ xung đột Trung Đông. Nongshim - nhà sản xuất mì ăn liền lớn nhất Hàn Quốc, cho biết công ty cung cấp bao bì nhựa cho họ hiện chỉ còn khoảng một tháng nguồn cung.
Theo bà Shariene Goh, chuyên gia phân tích hóa dầu cấp cao tại ICIS, các mặt hàng tiêu dùng phụ thuộc nhiều vào bao bì nhựa, như mỹ phẩm, có thể dễ rơi vào tình trạng thiếu hụt hơn những sản phẩm chỉ sử dụng nhựa một phần. "Các doanh nghiệp có thể tận dụng lượng tồn kho hiện có, nhưng sẽ cạn dần theo thời gian. Tôi cho rằng họ có thể thiếu hụt khá sớm", bà nói.
Theo Morgan Stanley, ngoài sản xuất 17% naphtha và 30% nhựa nguyên sinh toàn cầu, Trung Đông còn cung cấp 45% lưu huỳnh (dùng sản xuất phân bón), 33% helium (chất sử dụng trong bán dẫn, y tế và hàng không vũ trụ) và 22% urê và amoniac.
Một số nhà sản xuất hàng tiêu dùng trì hoãn mua nguyên liệu với hy vọng giá sẽ giảm nếu xung đột Trung Đông được giải quyết. Số khác tìm cách hạ chi phí bằng cách giảm lượng nhựa sử dụng.
Tại Indonesia, nơi giá nhựa tăng gấp đôi trong một tháng qua, các công ty đã giảm độ dày bao bì. Có doanh nghiệp còn cân nhắc dùng vật liệu khác như giấy, thủy tinh, nhôm hoặc nhựa tái chế. Nhưng theo Liên đoàn Bao bì Indonesia, mỗi lựa chọn đều có thách thức riêng về độ bền, tuân thủ quy định an toàn, cũng như thời gian cần thiết để điều chỉnh dây chuyền sản xuất và tìm nguồn cung mới, vốn có thể mất từ 6 tháng đến 1 năm.
Stephen Moore, nhà sáng lập MLT Analytics, cho biết việc chuyển sang các vật liệu thay thế cũng đắt đỏ. Theo ông, nguồn cung nhựa tái chế và nhựa sinh học còn hạn chế, chưa kể vật liệu sinh học đắt gấp 5-7 lần loại nguồn gốc từ dầu mỏ.
"Nếu mọi thứ ở eo biển Hormuz trở lại bình thường ngay ngày mai, tôi nghĩ cũng phải mất ít nhất vài tháng để ngành nhựa ở châu Á có thể quay lại trạng thái gần như bình thường", ông nói.
Theo công ty phân tích thị trường Kpler, xuất khẩu dầu của Mỹ trong tháng 4 có thể đạt 5,2 triệu thùng/ngày, tăng gần một phần ba so với mức 3,9 triệu thùng/ngày của tháng 3.
Đáng chú ý, nhu cầu từ châu Á dự kiến tăng vọt 82%, lên khoảng 2,5 triệu thùng/ngày, biến khu vực này trở thành động lực chính thúc đẩy làn sóng xuất khẩu.
Theo báo Financial Times ngày 10-4, diễn biến này phản ánh sự dịch chuyển nhanh chóng của dòng chảy năng lượng toàn cầu, trong bối cảnh nguồn cung từ Trung Đông - đặc biệt qua eo biển Hormuz - bị gián đoạn nghiêm trọng.
Khu vực châu Á, vốn phụ thuộc lớn vào tuyến vận tải này, buộc phải tìm đến các nguồn cung thay thế ổn định hơn, trong đó Mỹ nổi lên như lựa chọn hàng đầu.
Dữ liệu từ Kpler cho thấy hoạt động vận chuyển cũng đang gia tăng đáng kể. Hiện có tới 68 tàu chở dầu trống đang trên đường tới Mỹ để nhận hàng, cao gấp gần ba lần so với mức 24 tàu trong tuần trước. Con số này cũng vượt xa mức trung bình 27 tàu của năm ngoái, cho thấy nhu cầu vận chuyển dầu Mỹ đang tăng đột biến.
"Cả một đội tàu chở dầu đang đổ về Mỹ", ông Matt Smith, chuyên gia phân tích tại Kpler nhận định, nhấn mạnh quy mô chưa từng có của làn sóng vận chuyển hiện tại.
Sự bùng nổ xuất khẩu cũng củng cố vai trò ngày càng quan trọng của Mỹ như một "nhà cung cấp điều tiết" trên thị trường dầu mỏ toàn cầu. Trong bối cảnh các nguồn cung truyền thống gặp gián đoạn, khả năng đẩy nhanh xuất khẩu giúp Mỹ linh hoạt lấp đầy khoảng trống, đặc biệt tại các thị trường tiêu thụ lớn ở châu Á.
Ngoài ra việc Mỹ gia tăng nhập khẩu dầu thô từ Venezuela trong thời gian gần đây cũng gián tiếp hỗ trợ hoạt động xuất khẩu.
Khi các nhà máy lọc dầu sử dụng nguồn dầu nặng nhập khẩu, lượng dầu nhẹ trong nước - đặc biệt là dầu chuẩn WTI - có xu hướng được chuyển hướng ra thị trường nước ngoài nhiều hơn.
Theo các chuyên gia, xu hướng này có thể tiếp diễn trong ngắn hạn, khi nhu cầu từ châu Á vẫn ở mức cao và nguồn cung từ Trung Đông chưa ổn định hoàn toàn. Trong bối cảnh đó, Mỹ nhiều khả năng tiếp tục duy trì vai trò trung tâm trong việc tái cân bằng thị trường dầu mỏ toàn cầu.
Tuy nhiên mức độ bền vững của đà tăng này sẽ phụ thuộc vào diễn biến địa chính trị trong thời gian tới, cũng như khả năng duy trì sản lượng và hạ tầng xuất khẩu của Mỹ.