Theo Cơ quan Tiêu chuẩn Thực phẩm Anh (FSA), vi khuẩn gây ngộ độc thực phẩm phát triển nhanh hơn ở nhiệt độ cao. Khi thời tiết nóng, thực phẩm rất dễ rơi vào “vùng nguy hiểm” – khoảng nhiệt độ thuận lợi để vi khuẩn sinh sôi mạnh, làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn nếu không được bảo quản đúng cách.
Tiến sĩ Darin Detwiler, chuyên gia an toàn thực phẩm tại Mỹ, cho biết vi khuẩn có thể nhân đôi chỉ trong khoảng 20 phút nếu thực phẩm để ở nhiệt độ môi trường quá lâu. Điều này lý giải vì sao các món ăn để ngoài trời, đặc biệt trong mùa nắng nóng, dễ trở thành nguồn gây bệnh.
Ngoài ra, theo Trung tâm Kiểm soát Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC) Mỹ, thực phẩm để ngoài nhiệt độ phòng quá lâu sẽ tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển nhanh, đặc biệt khi nhiệt độ vượt quá 32 độ C.
Tiến sĩ Masarat Jilani tại Anh cũng cảnh báo, các món chứa trứng, sữa hoặc hải sản rất dễ hỏng trong thời tiết nóng nếu không được giữ lạnh đúng cách, làm tăng nguy cơ ngộ độc.
Bảo quản không đúng cách: Thực phẩm không được làm lạnh kịp thời.
Ăn uống ngoài trời nhiều hơn: Tiệc, picnic, đồ ăn đường phố.
Vệ sinh kém: Tay, dụng cụ hoặc bề mặt chế biến không sạch.
Thực phẩm dễ hỏng: Thịt, hải sản, sữa, đồ ăn chế biến sẵn.
Theo CDC Mỹ, bất kỳ ai cũng có thể bị ngộ độc thực phẩm, nhưng trẻ nhỏ, người lớn tuổi và người có bệnh nền có nguy cơ cao hơn.
Các chuyên gia khuyến cáo, để giảm nguy cơ ngộ độc thực phẩm trong mùa nắng nóng, cần tuân thủ nguyên tắc an toàn thực phẩm:
Giữ vệ sinh sạch sẽ. Rửa tay trước khi chế biến và ăn uống. Làm sạch dụng cụ, bề mặt bếp thường xuyên để tránh lây nhiễm chéo.
Tách biệt thực phẩm sống và chín. Không để thịt sống tiếp xúc với thực phẩm đã nấu chín để tránh vi khuẩn lây lan.
Nấu chín kỹ. Thực phẩm cần được nấu ở nhiệt độ đủ cao để tiêu diệt vi khuẩn gây hại.
Bảo quản lạnh kịp thời. Theo CDC Mỹ, thực phẩm dễ hỏng không nên để ngoài quá 2 giờ, hoặc chỉ 1 giờ trong điều kiện nhiệt độ cao.
Ưu tiên ăn ngay sau khi nấu. Hạn chế để thức ăn lâu ngoài môi trường nóng, đặc biệt là các món chứa trứng, sữa hoặc hải sản.
Trong thời tiết nắng nóng, sai sót trong bảo quản hay chế biến cũng có thể làm tăng nguy cơ ngộ độc thực phẩm. Vì vậy, duy trì thói quen ăn uống an toàn là yếu tố then chốt để bảo vệ sức khỏe, đặc biệt với nhóm người dễ tổn thương.
Nhiệt độ cao tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển nhanh hơn. Do đó, việc giữ vệ sinh, nấu chín kỹ và bảo quản đúng cách có thể giúp giảm đáng kể nguy cơ ngộ độc thực phẩm trong mùa nắng nóng, theo CDC Mỹ.
Dữ liệu phân tích mới nhất tại khu vực Tây Thái Bình Dương và Đông Nam Á chỉ ra gánh nặng lớn từ virus hợp bào hô hấp (RSV) ở trẻ dưới 5 tuổi. Cụ thể, Việt Nam có tỷ lệ trẻ nhiễm RSV trong số các ca bệnh nhiễm trùng hô hấp chiếm 35,5%, đứng sau Myanmar và New Zealand. Loại mầm bệnh này lưu hành liên tục quanh năm tại nước ta thay vì chỉ bùng phát theo mùa.
Thảo luận tại hội nghị khoa học "Hành trình miễn dịch trọn đời" vừa diễn ra tại Quy Nhơn với sự tham gia của hơn 400 chuyên gia y tế trong nước và quốc tế, GS.TS.BS Nguyễn Viết Tiến, Chủ tịch Hội Phụ sản Việt Nam, cảnh báo RSV là tác nhân hô hấp rất phổ biến ở trẻ nhũ nhi, có thể gây ra các di chứng như hen suyễn và thở khò khè với tỷ lệ nhập viện cao hơn 5-16 lần so với cúm.
Mỗi năm có hàng chục triệu ca mắc RSV trên toàn cầu, với nguy cơ tử vong cao ở trẻ nhỏ, nhất là những bé có hệ miễn dịch chưa hoàn thiện. Bệnh thường khởi phát giống cảm lạnh nhưng có thể nhanh chóng tiến triển thành viêm tiểu phế quản, viêm phổi và suy hô hấp.
Thực tế cho thấy phần lớn các ca nhập viện rơi vào nhóm trẻ từ sơ sinh đến 6 tháng tuổi. Đây đa số là những em bé sinh đủ tháng và hoàn toàn khỏe mạnh trước khi mắc bệnh. Tình trạng này không chỉ đe dọa sức khỏe của trẻ mà còn vắt kiệt tài chính của nhiều gia đình và tạo áp lực lên hệ thống y tế. Vì vậy, giáo sư Tiến nhấn mạnh tầm quan trọng của nhận diện nguy cơ sớm, trao đổi thông tin với nhân viên y tế một cách liên tục, bao gồm cả giai đoạn thai kỳ cho đến sau khi trẻ chào đời.
Bên cạnh trẻ nhỏ, các chuyên gia tại hội nghị cũng cảnh báo về rào cản dự phòng ở chiều ngược lại của vòng đời, tức nhóm người cao tuổi và người có bệnh nền. PGS.TS.BS Lê Khắc Bảo, Phó giám đốc Bệnh viện Đại học Y Dược TP HCM, nhận định quá trình lão hóa khiến hệ miễn dịch suy giảm nhanh. Người từ 65 tuổi rất dễ mắc các bệnh nhiễm trùng hô hấp thể nặng. Đặc biệt, tình trạng đồng nhiễm cả virus và vi khuẩn có thể khiến bệnh tình chuyển biến xấu chớp nhoáng và đẩy nguy cơ tử vong lên mức cao.
Mặc dù rủi ro lớn, tỷ lệ người dân chủ động bảo vệ sức khỏe lại thấp. Khảo sát thực tế năm 2024 tại một cơ sở y tế ở Hà Nội cho thấy chỉ có 11,5% người lớn tiêm phòng phế cầu khuẩn. Thậm chí, theo khảo sát của Bộ Y tế năm 2023, chưa đến 6% người cao tuổi chủ động phòng ngừa cúm hàng năm.
Giáo sư Jana Shaw, Đại học Upstate, Mỹ, lý giải tỷ lệ dự phòng thấp không hẳn do thiếu dịch vụ y tế. Nguyên nhân đến từ tâm lý chần chừ và phân vân của người dân. Nhiều người trì hoãn việc phòng bệnh do chưa nhận thức đủ độ nguy hiểm của các loại virus, lo ngại về tính an toàn hoặc gặp rào cản về chi phí.
Để giải quyết bài toán này, GS.TS.BS Phan Trọng Lân, Viện trưởng Vệ sinh dịch tễ Trung ương, nhấn mạnh ngành y tế cần chuyển dịch sang chiến lược "miễn dịch trọn đời". Khái niệm này đòi hỏi tiếp cận dự phòng theo vòng đời - tức xem xét rủi ro và nhu cầu bảo vệ sức khỏe theo từng giai đoạn phát triển, theo từng lứa tuổi và nhóm nguy cơ - thay vì chỉ nhìn theo từng bệnh riêng lẻ.
Tại hội thảo quốc tế “Siêu âm vú 3D tự động (ABUS)” do Bệnh viện Từ Dũ tổ chức chiều 7-4, BS.CKII Trần Ngọc Hải - Giám đốc Bệnh viện Từ Dũ (TP.HCM) - cho biết ung thư vú hiện nay vẫn là một trong những bệnh lý ác tính hàng đầu ở phụ nữ trên toàn thế giới, với xu hướng ngày càng gia tăng và trẻ hóa.
Theo thống kê của Globocan năm 2022, ung thư vú là bệnh ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ Việt Nam, với hơn 24.500 ca mắc mới và trên 10.000 ca tử vong mỗi năm, chiếm tỉ lệ 28,9% trong các loại ung thư ở nữ giới.
Riêng các ca ung thư vú ghi nhận tại Bệnh viện Từ Dũ, bác sĩ Hải cho hay cũng nằm trong xu hướng chung của thế giới và cả nước.
Theo ông, việc phát hiện ung thư vú ở giai đoạn sớm giúp người bệnh có cơ hội điều trị hiệu quả và sớm quay trở lại cuộc sống bình thường. Ở giai đoạn này, nhiều trường hợp có thể được chỉ định các phương pháp điều trị bảo tồn thay vì phải đoạn nhũ.
Ngược lại, nếu phát hiện muộn khi khối u đã sờ thấy hoặc đã di căn, việc điều trị sẽ trở nên phức tạp hơn và tiên lượng kém hơn.
"Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết trong việc nâng cao hiệu quả tầm soát, chẩn đoán sớm và quản lý bệnh một cách toàn diện", ông nhấn mạnh.
Bác sĩ Hải cho rằng với phương pháp siêu âm truyền thống (2D) thường không đau, thời gian nhanh, nhưng phải phụ thuộc hoàn toàn vào tay nghề và cách đặt đầu dò của bác sĩ, dễ bỏ sót các tổn thương nhỏ hoặc nằm ở vị trí khó.
Còn chụp nhũ ảnh thì rất đau do phải ép mạnh mô vú để chụp X-quang tuyến vú (nhũ ảnh) và phụ thuộc vào kỹ thuật ép cũng như máy X-quang, quy trình phức tạp, bệnh nhân có tâm lý lo sợ…
Trong khi đó siêu âm vú 3D tự động (ABUS) được xem là bước tiến quan trọng trong chẩn đoán hình ảnh tuyến vú, cho phép khảo sát toàn bộ mô vú, tái tạo hình ảnh 3D, giúp phát hiện tổn thương tốt hơn, đặc biệt ở phụ nữ có mô vú dày, góp phần chuẩn hóa quy trình, giảm phụ thuộc người vận hành và hỗ trợ theo dõi tổn thương hiệu quả theo thời gian.
“Không có phương pháp nào thay thế được, mỗi phương pháp đều có giới hạn. Tùy trường hợp, bác sĩ có thể kết hợp linh hoạt phương pháp hay kết hợp nhiều phương pháp để đạt kết quả chẩn đoán chính xác. Với riêng siêu âm vú 3D sẽ tránh sai sót do yếu tố con người”, bác sĩ Hải nhận xét.
Theo BS.CKI Trịnh Thị Thu Thảo - khoa chẩn đoán hình ảnh Bệnh viện Từ Dũ, với siêu âm 2D, bác sĩ phải trực tiếp thực hiện. Trong khi đó siêu âm 3D chỉ cần kỹ thuật viên, còn bác sĩ sẽ đọc và phân tích kết quả sau. Siêu âm 3D phù hợp hơn trong triển khai tầm soát diện rộng trong cộng đồng.
"Ung thư phổi hoàn toàn có thể điều trị hiệu quả nếu được phát hiện ở giai đoạn sớm, với tỷ lệ sống trên 5 năm có thể lên tới 70-90%. Ngược lại, phát hiện muộn khiến việc điều trị kéo dài, tốn kém và chủ yếu chỉ nhằm kiểm soát bệnh", PGS Đỗ Hùng Kiên, Phó giám đốc Bệnh viện K, cho biết tại chương trình truyền hình trực tuyến Sàng lọc sớm ung thư phổi – từ câu chuyện người bệnh đến nhu cầu chính sách quốc gia, hưởng ứng Ngày Sức khỏe toàn dân 7/4.
PGS Kiên cho biết hệ thống y tế hiện chỉ tiếp nhận khoảng 20% bệnh nhân ung thư phổi ở giai đoạn sớm đủ điều kiện phẫu thuật. Số còn lại đã mất cơ hội mổ do bệnh tiến triển nặng, trong đó giai đoạn 4 chiếm 40-50% và giai đoạn ba chiếm 25-30%. Hầu hết người dân chỉ đi khám khi cơ thể xuất hiện các triệu chứng toàn thân như khó thở, đau ngực, ho kéo dài, hoặc tế bào ung thư đã di căn gây đau xương, nhức đầu.
Phó giám đốc Bệnh viện K nhấn mạnh việc phát hiện bệnh ngay từ giai đoạn đầu giúp bác sĩ phẫu thuật triệt căn, mang lại tỷ lệ sống trên 5 năm lên tới 70-90%. Bệnh nhân tiết kiệm chi phí, rút ngắn thời gian nằm viện và nhanh chóng trở lại nhịp sống thường nhật.
Ngược lại, khi khối u bước sang giai đoạn hai, tỷ lệ sống giảm còn 50-60%, giai đoạn ba tụt xuống 10-36% và giai đoạn cuối chỉ vỏn vẹn 10%. Quá trình chữa trị muộn màng đòi hỏi y bác sĩ phối hợp đa mô thức trong thời gian dài, gây áp lực lớn lên toàn hệ thống y tế và chủ yếu phục vụ mục tiêu kiểm soát bệnh thay vì chữa khỏi hoàn toàn. Cùng một khoảng thời gian, bác sĩ có thể cứu chữa lượng bệnh nhân giai đoạn sớm cao gấp 2-3 lần so với nhóm đến muộn.
Lý giải nguyên nhân, TS Lê Thái Hà, Phó Cục trưởng Cục Y tế dự phòng (Bộ Y tế), nhận định người dân chưa hình thành thói quen tầm soát định kỳ. Hiện nay, chúng ta chủ yếu tìm ra bệnh nhân thông qua các đợt khám sức khỏe cơ quan hoặc hoàn toàn tình cờ.
Giới chuyên môn dự báo số ca ung thư phổi tại Việt Nam sẽ tiếp tục tăng do tỷ lệ hút thuốc và mức độ ô nhiễm không khí vẫn duy trì ở mức cao. Từ bài học thành công trong việc tầm soát cộng đồng của Nhật Bản và Malaysia, các chuyên gia đề xuất ngành y tế Việt Nam cần sớm xây dựng chương trình sàng lọc ung thư phổi quy mô quốc gia kèm cơ chế hỗ trợ chi phí nhằm giải quyết tận gốc vấn đề.
Giới y khoa hiện áp dụng phương pháp chụp CT liều thấp để phát hiện mầm mống ung thư phổi ngay cả khi cơ thể chưa lên tiếng. Tuy nhiên rào cản chi phí khiến kỹ thuật này chưa phổ biến rộng rãi. Các bác sĩ khuyến cáo nhóm nguy cơ cao bao gồm người trên 50 tuổi, người hút thuốc lá lâu năm, người sống trong môi trường ô nhiễm hoặc mắc bệnh phổi mạn tính cần chủ động tìm đến cơ sở y tế để tầm soát định kỳ.