Kết quả này được công bố tại hội thảo Thực trạng vi phạm quy định cấm bán, quảng cáo và khuyến mại thuốc lá điện tử và thuốc lá nung nóng tại các điểm bán lẻ và phơi nhiễm với quảng cáo, khuyến mại thuốc lá mới của người trưởng thành năm 2025, do Trường Đại học Y tế công cộng tổ chức hôm 9/4 tại Hà Nội.
Nghiên cứu cũng cho thấy khoảng 14% sinh viên từng thử thuốc lá điện tử và 3% đang sử dụng. Đối với thuốc lá nung nóng, tỷ lệ này lần lượt là 6% và 0,8%. Không chỉ vậy, hơn 62% sinh viên tin rằng thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng giúp bỏ thuốc lá điếu.
Khảo sát cũng cho thấy nhiều người trẻ tin rằng các sản phẩm này không chứa nicotine hoặc không gây hại cho sức khỏe. Tiến sĩ Trần Thị Phương Thảo, đại diện nhóm nghiên cứu, cho biết 37% sinh viên tin rằng thuốc lá điện tử không chứa nicotine, 15% cho rằng khói chỉ là “hơi nước” vô hại. Cũng theo nghiên cứu, 43% sinh viên khi được hỏi nghĩ rằng hút thuốc lá điện tử giúp bỏ thuốc lá truyền thống và 32% tin hơi thuốc thụ động là an toàn.
“Nhiều người trẻ gắn thuốc lá điện tử với hình ảnh tích cực, cho rằng hút thuốc lá điện tử trông ngầu, cảm thấy tự tin hơn khi sử dụng hoặc cảm thấy bình tĩnh và vui vẻ hơn”, tiến sĩ Thảo nói.
PGS.TS Lê Thị Thanh Hương, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Y tế công cộng, cho biết sau khi các quy định siết chặt kinh doanh và sử dụng thuốc lá điện tử được triển khai, khảo sát 126 điểm bán lẻ thì 64,3% cơ sở đã đóng cửa. Tuy nhiên, thay vì biến mất, hoạt động kinh doanh được chuyển sang các hình thức tinh vi hơn.
Trong số các điểm bán được khảo sát, gần 35% chuyển sang bán hàng trực tuyến. Người bán sử dụng nhiều chiêu thức trá hình để qua mặt kiểm duyệt trên các sàn thương mại điện tử. Sản phẩm được gắn mác “máy cạo râu”, “tinh dầu xịt phòng”, “đầu bàn chải điện”… nhưng thực chất là thuốc lá điện tử.
39% sinh viên cho biết vẫn tiếp xúc với quảng cáo thuốc lá điện tử hoặc thuốc lá nung nóng trong vòng 30 ngày qua. Chủ yếu họ mua qua Facebook (65%), TikTok (gần 49%), Google (48%) và YouTube (35%).
“Kết quả này cho thấy sau khi hoạt động bán hàng trực tiếp bị hạn chế, các doanh nghiệp và người bán đang thích ứng bằng cách đẩy mạnh hiện diện trên Internet, tận dụng mạng xã hội, nền tảng tìm kiếm và các hình thức quảng bá trực tuyến để duy trì khả năng tiếp cận người dùng”, PGS Hương nói.
ThS Bùi Thị Thu Giang, Quản lý chương trình của Tổ chức Chiến dịch vì Trẻ em Không thuốc lá Mỹ, nói nghiên cứu quốc tế cho thấy các tập đoàn thuốc lá thế giới đang sử dụng Facebook, Instagram, TikTok… để quảng bá sản phẩm thuốc lá mới.
Trong giai đoạn 2018-2025, có 3,4 tỷ lượt nội dung quảng cáo 3 sản phẩm điển hình tại hơn 60 quốc gia. Nội dung này đã tiếp cận khoảng 385 triệu tài khoản, chủ yếu trên Instagram. Trong đó, 40% người xem trẻ dưới 25 tuổi, khoảng 150 triệu thanh thiếu niên bao gồm 16 triệu người dưới 18 tuổi.
Nhóm nghiên cứu nhấn mạnh rằng bằng chứng thu được phản ánh thực trạng hiện nay, cho thấy những thách thức mới trong công tác cấm quảng cáo, khuyến mại và tiếp thị thuốc lá trên Internet. Do đó, cần tiếp tục hoàn thiện chính sách, tăng cường giám sát, thực thi pháp luật. Đồng thời cần truyền thông thay đổi nhận thức và hành vi hút thuốc lá để bảo vệ sức khỏe cộng đồng, đặc biệt là thanh thiếu niên và trẻ em.
Trong hội thảo khoa học diễn ra vào trung tuần tháng 3 tại Hà Nội, với chủ đề "Từ bằng chứng lâm sàng tại Việt Nam tới công nghệ đột phá MenACYW-TT: chiến lược bảo vệ tối ưu trước não mô cầu xâm lấn", GS.TS Trần Minh Điển (Chủ tịch Hội Nhi khoa Việt Nam, Giám đốc Bệnh viện Nhi trung ương) cho biết điều đáng sợ nhất là viêm não mô cầu không dừng lại ở tốc độ lây lan nhanh chóng, mà còn là sự "ngụy trang" hoàn hảo của các triệu chứng.
Tất cả như những dấu hiệu cảm cúm thông thường, nhưng chỉ trong vòng vài giờ đến một ngày, bệnh có thể tiến triển cực nhanh thành viêm màng não, nhiễm trùng huyết, thậm chí tử vong.
Ngay cả khi may mắn sống sót nhờ điều trị tích cực, "bóng ma" hậu quả vẫn đeo bám người bệnh suốt đời với những di chứng nặng nề như: tổn thương thần kinh vĩnh viễn, giảm thính lực, hoại tử chi dẫn đến đoạn chi…
Buổi hội thảo có sự tham gia của đông đảo chuyên gia đầu ngành, tổ chức bởi Hội Nhi khoa Việt Nam, với sự tài trợ của Công ty TNHH Sanofi Aventis Việt Nam - Ảnh: DNCC
Cũng tại hội thảo, các chuyên gia đã chỉ ra một thực tế đáng báo động: Việt Nam hiện đang lưu hành đồng thời các nhóm huyết thanh gây bệnh (A, C, Y và W) - trong đó, chủng W và C có độc lực đặc biệt cao, liên quan trực tiếp đến tỉ lệ tử vong.
Trước tình hình dịch bệnh hiện tại, các chuyên gia nhấn mạnh rằng: việc dự phòng bệnh nên đi theo chiến lược ‘BẢO VỆ RỘNG’ - tức là bao phủ đủ các nhóm huyết thanh quan trọng này để tạo hàng rào phòng thủ không kẽ hở.
MenACYW-TT đã được Bộ Y tế Việt Nam chấp thuận mở rộng tiêm cho trẻ từ 6 tuần tuổi đến người lớn không giới hạn độ tuổi.
Bước ngoặt này đã tạo ra sự bảo vệ toàn diện cho cả gia đình - Ảnh: DNCC
Theo PGS.TS.BS Cao Hữu Nghĩa (Trưởng bộ môn khoa học y sinh, Viện Pasteur TP.HCM), vắc xin MenACYW-TT giúp đáp ứng miễn dịch mạnh mẽ và bền vững, đồng thời giảm khả năng lưu trú của vi khuẩn tại vòm họng, từ đó giảm tỉ lệ người lành mang trùng, góp phần cắt đứt chuỗi lây truyền trong cộng đồng.
Chuyên gia cũng nhận định MenACYW-TT có khả năng duy trì hiệu quả miễn dịch từ 5 đến 10 năm.
PGS.TS.BS Cao Hữu Nghĩa cho biết thêm, MenACYW-TT vẫn duy trì tính sinh miễn dịch tốt và hồ sơ an toàn thuận lợi ngay cả khi sử dụng đồng thời với các vắc xin thường quy khác.
Thêm một ưu điểm của vắc xin MenACYW-TT được TS.BS Nguyễn An Nghĩa (Phó khoa nhiễm - thần kinh Bệnh viện Nhi đồng 1, giảng viên Đại học Y dược TP.HCM) nhấn mạnh tại hội thảo ngày 4-3-2026, vắc xin tạo đáp ứng miễn dịch mạnh cho trẻ.
Điều này giúp đơn giản hóa lịch tiêm chủng, phụ huynh tiết kiệm thời gian và chi phí nhưng vẫn đảm bảo con được bảo vệ đầy đủ trước viêm não mô cầu.
Việc chủ động dự phòng viêm não mô cầu bằng vắc xin không chỉ là giải pháp y tế tối ưu mà còn là chiến lược bảo vệ sức khỏe đa thế hệ, thiết lập lá chắn miễn dịch vững chắc, cắt đứt chuỗi lây nhiễm trong cộng đồng, hướng tới tương lai nơi mọi người dân đều khỏe mạnh, bình an và vui sống!
Ngày 5/3, bác sĩ Nguyễn Đức Minh, Khoa Cấp cứu, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương, cho biết bệnh nhân bị sốc nhiễm khuẩn nặng, phải duy trì thuốc vận mạch liều tương đối cao. Mu bàn tay trái có tổn thương phỏng nước hoại tử màu đen kích thước khoảng 5×6 cm, xung quanh sưng nề, viêm tấy và đau nhiều. Chỉ trong vòng 48 giờ, tình trạng viêm tấy từ vùng hoại tử đã lan tỏa nhanh chóng, phù nề toàn bộ bàn tay và lan lên đến cẳng tay.
Các xét nghiệm cho thấy bệnh nhân suy đa cơ quan gồm phổi, gan, thận và tim mạch. Kết quả xét nghiệm vi sinh xác định thủ phạm là vi khuẩn Serratia marcescens. Đây là loại vi khuẩn Gram âm cơ hội, thường tồn tại trong môi trường (nước, đất) và có khả năng gây nhiễm trùng huyết, viêm mô tế bào rất nặng nếu xâm nhập đường máu.
Sau hai ngày điều trị, tình trạng bệnh nhân cải thiện tích cực.
Theo bác sĩ, triệu chứng hoại tử xuất hiện tại vị trí tiêm nhưng không có đủ cơ sở để quy kết trực tiếp do mũi tiêm. Thực tế, vị trí tiêm tạo ra một tổn thương da nhỏ - một "cánh cửa" mở cho vi khuẩn. Trong quá trình sinh hoạt, vùng da này tiếp xúc với nước bẩn, bụi bẩn hoặc thực phẩm sống, vi khuẩn Serratia marcescens có thể xâm nhập và gây bệnh.
Theo bác sĩ, trường hợp tổn thương hoại tử lan rộng như trên, việc điều trị không chỉ dừng lại ở hồi sức và kháng sinh mà cần phối hợp can thiệp ngoại khoa. Người bệnh có thể phải cắt lọc mô hoại tử nhiều lần nhằm kiểm soát nhiễm trùng, ngăn viêm tấy lan tỏa và bảo tồn tối đa chức năng bàn tay.
Bác sĩ khuyến cáo khi thực hiện các thủ thuật như tiêm, truyền, cần đảm bảo vô khuẩn trong quá trình thực hiện và đặc biệt là chăm sóc vị trí tiêm sau khi về nhà. Cần giữ vùng da này sạch, khô, tránh tiếp xúc với nguồn nước không sạch hoặc đất cát cho đến khi vết kim khép miệng hoàn toàn. Nếu vết tiêm sưng, đau, đổi màu da hoặc kèm theo sốt hoặc mệt mỏi, cần đến cơ sở y tế ngay để khám và xử trí kịp thời.
"Từ một tổn thương nhỏ ngoài da, nếu không được kiểm soát tốt, nhiễm trùng có thể lan nhanh vào máu gây nhiễm trùng huyết, sốc nhiễm khuẩn và suy đa cơ quan, đe dọa trực tiếp đến tính mạng", bác sĩ nói.
"Công nghệ này cho phép phân tích vật chất ở mức độ chi tiết cao hơn, hỗ trợ phát hiện sớm tổn thương rất nhỏ, đánh giá đúng tổn thương, đặc biệt trong các bệnh lý tim mạch, thần kinh và ung bướu", PGS.TS Vũ Văn Giáp, Phó Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai, nói hôm 5/4.
Đây là công nghệ CT đếm photon đầu tiên trên thế giới được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ chứng nhận về độ an toàn và hiệu quả trong lâm sàng. Bạch Mai là cơ sở y tế công lập đầu tiên tại Việt Nam và châu Á vận hành hai hệ thống này.
So với CT truyền thống, công nghệ này có khả năng ghi nhận trực tiếp từng photon tia X, giúp loại bỏ nhiễu tín hiệu, từ đó nâng cao rõ rệt độ tương phản và chất lượng hình ảnh, cho phép bác sĩ quan sát các vi cấu trúc và phát hiện tổn thương cực nhỏ. Công nghệ này đặc biệt hữu ích khi chẩn đoán bệnh lý tim mạch phức tạp như hẹp mạch vành, đánh giá các stent kích thước dưới 2,5 mm hay phát hiện ung thư giai đoạn sớm.
Không chỉ cho phép phát hiện tổn thương từ rất nhỏ, hệ thống có khả năng chụp siêu nhanh, độ phân giải vượt trội, đồng thời tối ưu hóa liều tia và giảm lượng thuốc cản quang sử dụng cho người bệnh. PGS Giáp đánh giá đây là lợi thế lớn đối với các bệnh nhân cần chụp nhiều lần như người mắc bệnh mạn tính, ung thư hoặc trẻ em.
Hệ thống chụp CT mới này nằm trong gói trang thiết bị trị giá khoảng 1.000 tỷ đồng, trích từ nguồn ngân sách tăng thu của bệnh viện. Lãnh đạo bệnh viện khẳng định khoản đầu tư này nhằm chuẩn hóa quy trình chuyên môn, giúp người dân tiếp cận kỹ thuật cao ngay tại Việt Nam với chi phí hợp lý thông qua bảo hiểm y tế, thay vì phải ra nước ngoài điều trị.
Bệnh viện Bạch Mai là cơ sở y tế tuyến cuối, trung bình mỗi ngày nơi này tiếp nhận 7.000-10.000 người bệnh khám ngoại trú và khoảng 4.000 bệnh nhân điều trị nội trú, thực hiện gần 10.000 xét nghiệm. Trong đó có nhiều ca bệnh nặng, phức tạp, nguy kịch. Việc được đầu tư đồng bộ hệ thống thiết bị y tế hiện đại, số hóa không chỉ giúp nâng cao năng lực chẩn đoán sớm, điều trị chính xác, giảm biến chứng và tử vong, mà còn góp phần giảm chi phí xã hội, giảm gánh nặng cho người bệnh và gia đình.