Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm vừa thay mặt Ban Chấp hành Trung ương ký ban hành Nghị quyết số 05 Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV về đổi mới, nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng.
Trung ương quán triệt công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng phải được tiến hành chủ động, kịp thời, toàn diện, đồng bộ, dân chủ, khách quan, công tâm, thận trọng, chặt chẽ, chính xác, nghiêm minh theo đúng nguyên tắc, quy trình, thủ tục, thẩm quyền, phương pháp công tác đảng.
Đặc biệt, kiểm tra, giám sát phải góp phần kiến tạo, thúc đẩy phát triển, phát hiện và bảo vệ những nhân tố mới tích cực, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
Nhiều nhiệm vụ, giải pháp được Trung ương đề ra nhằm nâng cao hiệu quả của công tác này, mà trước hết là tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, đảng viên đối với công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng.
Đi kèm với đó là nâng cao chất lượng nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn; hoàn thiện hệ thống quy định của Đảng về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng.
Trung ương cũng yêu cầu đổi mới tư duy, phương pháp công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, gắn kiểm tra, giám sát với các phương thức kiểm soát quyền lực bảo đảm giữ vững kỷ luật, kỷ cương của Đảng.
Trung ương lưu ý chú trọng công tác tự kiểm tra, tự giám sát của tổ chức đảng, đảng viên; chủ động và phát huy vai trò của chi bộ; trách nhiệm của đảng viên trong giám sát tổ chức đảng trên tinh thần “toàn Đảng thực hiện công tác kiểm tra, giám sát”.
Cùng với đó, theo yêu cầu của Trung ương, phải kịp thời phát hiện, uốn nắn, chấn chỉnh, khắc phục, ngăn ngừa vi phạm, không để vi phạm, khuyết điểm nghiêm trọng hơn, phức tạp hơn.
Ủy ban kiểm tra các cấp tiếp tục thực hiện toàn diện, hiệu quả các nhiệm vụ theo quy định của Điều lệ Đảng và nhiệm vụ cấp ủy giao, trọng tâm là kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm. Trong đó, Trung ương yêu cầu tập trung kiểm tra các vấn đề cấp bách theo yêu cầu nhiệm vụ và thực tiễn đặt ra; các lĩnh vực trọng yếu, nhạy cảm, phức tạp, dễ phát sinh tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; các nhiệm vụ, thẩm quyền mới như kiểm soát tài sản, thu nhập và thu hồi tài sản do tham nhũng, lãng phí, tiêu cực…
Trung ương cũng yêu cầu đổi mới phương pháp, cách thức tiến hành công tác kiểm tra, giám sát, chuyển trọng tâm sang công tác phòng ngừa, cảnh báo vi phạm để phát hiện các nguy cơ có thể dẫn đến sai phạm; kịp thời phát hiện, ngăn chặn khuyết điểm, vi phạm ngay từ khi mới manh nha
Song song với đó, theo Trung ương, cần xây dựng cơ chế bảo vệ, khuyến khích cán bộ, đảng viên dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì sự phát triển của đất nước. Trung ương cũng yêu cầu kiên quyết xử lý vi phạm, kỷ luật các trường hợp gây trì trệ, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm trong thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Mặt khác, Trung ương định hướng kiện toàn tổ chức bộ máy; nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của ủy ban kiểm tra các cấp; xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra bản lĩnh, liêm chính.
Trong đó, Trung ương yêu cầu kiện toàn tổ chức bộ máy của cơ quan ủy ban kiểm tra; xây dựng mô hình tổ chức bộ máy cơ quan ủy ban kiểm tra từ Trung ương đến xã, phường, đặc khu và tương đương bảo đảm đồng bộ, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
Trung ương gợi mở việc chú trọng đào tạo cán bộ kiểm tra có chuyên môn sâu trong một số lĩnh vực trọng yếu, có nhiều nguy cơ xảy ra tham nhũng, lãng phí, tiêu cực như: Công tác cán bộ, quản lý đất đai, tài nguyên, môi trường, tài chính, ngân hàng, xây dựng cơ bản, mua sắm tài sản công…
Nghị quyết về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong giai đoạn mới được Trung ương ban hành ngày 1/4 đánh giá công tác này đã đạt nhiều kết quả toàn diện, có bước tiến mạnh và đột phá lớn.
Tuy nhiên, Trung ương nhận định vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức, tình trạng tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trên một số lĩnh vực diễn biến nghiêm trọng, tinh vi hơn.
Thời gian tới, Trung ương yêu cầu thực hiện đồng bộ các giải pháp để "không thể, không dám, không muốn, không cần" tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; đồng thời đặt lợi ích quốc gia, dân tộc, nhân dân lên trên hết, gắn phòng, chống với thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Nghị quyết nêu rõ cần "vừa kiên quyết, kiên trì đấu tranh, vừa kiến tạo phát triển, khuyến khích, bảo vệ người đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung; bảo đảm hài hòa giữa lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân".
Khi xử lý các hành vi vi phạm, các cơ quan phải quán triệt quan điểm "không có vùng cấm, không có ngoại lệ", đồng thời xem xét bối cảnh, hiệu quả chính trị, kinh tế; ưu tiên thu hồi tối đa tài sản và khuyến khích chủ động khắc phục hậu quả.
Một nhiệm vụ trọng tâm được Trung ương nhấn mạnh là kiên trì xây dựng văn hóa liêm chính, coi đây là giá trị cốt lõi, chuẩn mực ứng xử và đạo đức của cán bộ, đảng viên, doanh nghiệp và toàn xã hội. Việt Nam hướng tới xây dựng quốc gia liêm chính, xã hội liêm chính với ba trụ cột gồm thể chế liêm chính, nền công vụ liêm chính và đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức liêm chính. Cán bộ lãnh đạo không được để vợ hoặc chồng, con và người thân lợi dụng ảnh hưởng để trục lợi.
Trung ương yêu cầu sớm sửa đổi Luật Phòng, chống tham nhũng và Luật Đất đai theo hướng tăng công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn; đồng thời nghiên cứu xây dựng Luật về đăng ký tài sản.
Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự cũng cần được sửa đổi để thể chế hóa quan điểm mới của Đảng về miễn, giảm, loại trừ trách nhiệm hình sự trong xử lý vi phạm tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Trung ương lưu ý xác định tiêu chí, điều kiện chặt chẽ để loại trừ trách nhiệm hình sự đối với trường hợp rủi ro, thiệt hại do ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số vì lợi ích chung; đồng thời thể chế hóa chủ trương giảm trách nhiệm hình sự, hình phạt với người không có động cơ vụ lợi, tự giác nộp lại tài sản, khắc phục hậu quả và hợp tác hiệu quả trong điều tra.
Các cơ quan cũng được yêu cầu nghiên cứu mở rộng áp dụng hình phạt tiền, giảm hình phạt tù đối với tội phạm kinh tế, chức vụ. Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu "xóa bỏ triệt để cơ chế xin - cho, không để lợi ích nhóm cài cắm, thao túng trong cơ chế, chính sách, pháp luật".
Tài sản, thu nhập của cán bộ sẽ được kiểm soát chặt chẽ; cán bộ yếu kém về năng lực, thiếu trách nhiệm, uy tín thấp, có biểu hiện tham nhũng, lãng phí, tiêu cực sẽ bị thay thế hoặc cho từ chức. Chính sách tiền lương, thu nhập của cán bộ, công chức sẽ được bảo đảm để ổn định đời sống, yên tâm công tác.
Cùng với việc xây dựng lộ trình minh bạch tài sản trong toàn xã hội, Trung ương yêu cầu đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt. Đồng thời, Trung ương nghiêm cấm việc lợi dụng công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực để cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Chính phủ vừa ban hành Quyết định số 13/2026 quy định lộ trình áp dụng Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải xe môtô, xe gắn máy tham gia giao thông đường bộ.
Thời điểm bắt đầu kiểm định khí thải xe môtô, xe gắn máy tham gia giao thông là từ ngày 1/7/2027 đối với Hà Nội và TP HCM; từ 1/7/2028 đối với các thành phố trực thuộc trung ương còn lại gồm Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Cần Thơ.
Từ 1/7/2030, việc kiểm định được áp dụng với 28 tỉnh. Tùy theo tình hình thực tế, các tỉnh này có thể áp dụng sớm hơn.
Quyết định nêu rõ xe môtô (dung tích xi lanh từ 50 cm3 trở lên) sản xuất hoặc nhập khẩu trước năm 2008 áp dụng mức 1 - giá trị giới hạn tối đa cho phép của khí thải theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải xe môtô, xe gắn máy tham gia giao thông đường bộ.
Xe môtô sản xuất hoặc nhập khẩu từ năm 2008 đến hết năm 2016, áp dụng mức 2; xe môtô sản xuất hoặc nhập khẩu từ năm 2017 đến ngày 30/6/2026 áp dụng mức 3; xe môtô sản xuất hoặc nhập khẩu từ ngày 1/7/2026, áp dụng mức 4.
Xe gắn máy (dung tích xi lanh dưới 50 cm3) sản xuất hoặc nhập khẩu trước năm 2016 áp dụng mức 1; xe gắn máy sản xuất hoặc nhập khẩu từ năm 2017 đến ngày 30/6/2027 áp dụng mức 2; xe gắn máy sản xuất hoặc nhập khẩu từ ngày 1/7/2027 áp dụng mức 4.
Từ 1/1/2028, xe môtô, xe gắn máy tham gia giao thông tại Hà Nội và TP HCM phải đáp ứng quy định về khí thải mức 2 trở lên.
Xe môtô, xe gắn máy tham gia giao thông vào vùng phát thải thấp của TP Hà Nội theo quy định của Luật Thủ đô phải đáp ứng quy định về khí thải theo Nghị quyết của HĐND thành phố.
Cả nước hiện có hơn 74,3 triệu xe máy. Để kiểm định khí thải với số xe này, Cục Đăng kiểm Việt Nam cho biết cần hơn 5.000 cơ sở thực hiện, tức cần hơn 5.000 bộ thiết bị đo khí thải, hơn 5.000 đăng kiểm viên cho công tác này. Phần lớn cơ sở kiểm định sẽ được đầu tư, tận dụng từ các đơn vị bảo dưỡng xe máy của doanh nghiệp thuộc Hiệp hội Các nhà sản xuất xe máy Việt Nam.
Theo Thông tư 92/2025 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải xe môtô, xe gắn máy tham gia giao thông đường bộ bao gồm 4 mức giá trị cho phép đối với từng thông số hydrocacbon (HC), cacbon monoxit (CO) trong khí thải xe môtô, xe gắn máy tham gia giao thông đường bộ.
Giá trị giới hạn tối đa cho phép của các thông số CO, HC trong khí thải xe môtô, xe gắn máy lắp động cơ cháy cưỡng bức tham gia giao thông đường bộ được quy định trong bảng sau:
Sáng 9.4, các đại biểu Quốc hội đã thảo luận tại tổ về 4 dự án luật, trong đó có luật Hộ tịch (sửa đổi). Đại biểu Nguyễn Thị Thu Dung (đoàn Hà Nội) cho rằng đang có một khoảng trống pháp luật đối với vấn đề con cái của người chuyển giới và đồng tính.
"Điều 15 của dự thảo luật chỉ có một nội dung về trẻ em được khai sinh là đối tượng trẻ em sinh ra ở nước ngoài chưa được đăng ký khai sinh hoặc có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là người nước ngoài", bà Dung phân tích và chỉ ra ở đây sẽ có một khoảng trống pháp luật vì hiện trên thế giới có khoảng 40 nước đã công nhận hôn nhân đồng tính và khoảng 30 nước vừa công nhận hôn nhân đồng giới, vừa cho phép người chuyển giới thay đổi giới tính hợp pháp mà không yêu cầu phẫu thuật thực tế.
Với quy định này, theo bà Dung, những người đã được công nhận hôn nhân đồng giới ở nước ngoài về Việt Nam sinh con và đi khai sinh sẽ gặp khoảng trống pháp luật. Bà đề nghị ban soạn thảo nghiên cứu kỹ hơn để đảm bảo quyền của trẻ em và quyền của công dân.
"Theo số liệu tôi được biết, ở Việt Nam, cộng đồng LGBT chiếm khoảng 2% dân số. Vấn đề hôn nhân đồng giới cũng như khai sinh cho con cái của người kết hôn đồng giới sẽ là vấn đề cần nghiên cứu", bà Dung nêu ý kiến.
Cùng quan điểm, đại biểu Trần Thị Nhị Hà (đoàn Hà Nội) cho rằng dự thảo luật Hộ tịch (sửa đổi) chưa có quy định mang tính nguyên tắc để giải quyết khi luật pháp Việt Nam và luật pháp nước ngoài có khác biệt về cùng một sự kiện hộ tịch, ví dụ như hôn nhân đồng giới.
Hôn nhân đồng giới được công nhận ở một số nước sở tại nhưng chưa được công nhận theo pháp luật Việt Nam. Khi công dân yêu cầu ghi vào sổ hộ tịch Việt Nam, theo bà Hà, chúng ta cần phải có quan điểm, quy định rõ ràng.
Nhấn mạnh luật Hộ tịch là "đạo luật của đời người", đại biểu Trần Thị Nhị Hà tán thành việc phân quyền triệt để cho cấp xã thực hiện tất cả các sự kiện hộ tịch. Bà kiến nghị luật cần có chế độ đãi ngộ phù hợp và chính sách bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ hộ tịch cấp xã.
Đại biểu Nguyễn Ngọc Việt (đoàn Hà Nội) lưu ý ban soạn thảo cần có giải pháp hỗ trợ cho các vùng sâu, vùng xa, nơi hạ tầng công nghệ và trình độ dân trí chưa đồng đều để người dân không bị hạn chế quyền lợi khi chuyển sang hồ sơ điện tử. Ông Việt ủng hộ sáng kiến thực hiện các đội đăng ký hộ tịch lưu động để tiếp cận nhân dân chủ động nhất.
Liên quan tới thủ tục đăng ký hộ tịch, đại biểu Nguyễn Thanh Phong (đoàn Vĩnh Long) đề nghị bổ sung thêm quy định "xác định lại dân tộc", vì trong thực tế, việc "xác định lại dân tộc" được thay đổi theo việc xác định theo cha, theo mẹ hoặc trong trường hợp con nuôi xác định được cha mẹ ruột thì lúc đó xác định lại dân tộc theo cha, mẹ ruột.
Ông Phong cũng đề xuất ban soạn thảo bổ sung nguyên tắc trong khai thác dữ liệu, chia sẻ dữ liệu về hộ tịch, đó là nguyên tắc "ưu tiên cho những dân tộc ít người, dân tộc yếu thế". Đồng thời, đề xuất cần có thêm điều cấm ký hộ tịch cho người thân của mình để tránh xảy ra sai phạm.