Theo Phó giám đốc Sở Xây dựng TP.HCM Lê Ngọc Linh, sau khi sáp nhập 3 địa phương, toàn TP.HCM hiện có 159 điểm ngập nước, trong đó 57 điểm ngập nặng, thời gian ngập kéo dài trên 1 giờ 30 phút, gây ách tắc giao thông, ảnh hưởng đời sống người dân và vệ sinh môi trường.
Trong số này, khu vực TP.HCM cũ có 34 điểm ngập nặng, Bình Dương cũ có 9 điểm và Bà Rịa – Vũng Tàu cũ có 14 điểm, còn lại 112 điểm là ngập mức độ vừa và nhẹ.
Giai đoạn 2026 – 2030, thành phố đặt mục tiêu giải quyết dứt điểm toàn bộ 159 điểm ngập. Trong giai đoạn 2026 – 2027, Sở Xây dựng đề xuất xử lý 7 khu vực ngập cấp bách.
Riêng khu vực TP.HCM có 5 điểm gồm chợ Thủ Đức, đường Quốc Hương, Nguyễn Văn Quá, khu vực trung tâm thành phố và khu vực Nhà Bè – Trần Xuân Soạn.
Trước đó, TP.HCM đã triển khai dự án chống biến đổi khí hậu giai đoạn 1 với phạm vi bao phủ hơn 500km khu vực nội thành, dự kiến cơ bản hoàn thành khối lượng trong năm nay.
Tuy nhiên, hệ thống này chưa khép kín vành đai bảo vệ trước triều cường.
Về nguyên nhân ngập, ông Linh cho biết do tác động của biến đổi khí hậu làm thay đổi tần suất mưa, triều cường dâng cao, tình trạng lún đất trung bình khoảng 2cm mỗi năm, có nơi lún từ 5 – 7cm.
Bên cạnh đó, quy hoạch chưa được cập nhật kịp thời, việc chống ngập còn mang tính cục bộ theo địa bàn, dẫn đến tình trạng “ngập đâu chữa đó, nâng chỗ này thì ngập chỗ kia”.
Ngoài ra, tình trạng lấn chiếm kênh rạch, xả rác gây tắc nghẽn dòng chảy vẫn còn diễn ra, trong đó khu vực quận 8 cũ chiếm số lượng lớn.
Để chống ngập, thành phố xác định cần kết hợp các giải pháp thủy lợi và thoát nước đô thị, như xây dựng hồ điều tiết, điều tiết xả lũ thượng nguồn và hệ thống thoát nước có kiểm soát triều.
Về lộ trình, năm 2026 dự kiến hoàn thành 20 dự án, xử lý 45/159 điểm ngập, trong đó có 16 điểm ngập nặng.
Năm 2027 hoàn thành 54 dự án, giải quyết 56 điểm ngập, gồm 24 điểm ngập nặng. Kết thúc giai đoạn này, thành phố xử lý được 40/57 điểm ngập nặng, cơ bản khắc phục tình trạng ngập tại khu vực trung tâm.
Đến năm 2028, dự kiến hoàn thành 18 dự án, xử lý thêm 12 điểm ngập, trong đó có 2 điểm ngập nặng. Năm 2029 tiếp tục giải quyết 7 điểm, gồm 3 điểm ngập nặng. Năm 2030 hoàn thành 58 dự án còn lại, xử lý dứt điểm 39 điểm ngập cuối cùng.
Khoảng 17h, trời đổ mưa lớn, căn nhà của bà Đoàn Thị Bích (56 tuổi, ngụ đường Lý Thái Tổ, phường 2) bị gió lốc cuốn bay phần mái rộng khoảng 30 m2. Thời điểm xảy ra sự việc, trong nhà có người nhưng may mắn không ai bị thương.
"Gió thổi mạnh, mái tôn rung lên bần bật rồi bị cuốn bay chỉ trong chốc lát", bà Bích kể, cho biết đã hoảng hốt chạy ra ngoài trú tạm.
Theo ghi nhận, lốc xoáy khiến ít nhất 8 căn nhà tại phường 1 và phường 2 bị tốc mái, trong đó 4 căn hư hỏng hoàn toàn, các căn còn lại bị thiệt hại một phần. Một số nhà lưới phục vụ sản xuất của người dân cũng bị sập. Nhiều vật dụng trong nhà bị gió cuốn văng, hư hỏng.
Gió giật mạnh cũng làm hàng loạt cây xanh trên các tuyến Lý Thường Kiệt, Hoàng Văn Thụ và khu vực Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Thể thao phường 1 gãy đổ, chắn ngang đường, gây ùn ứ cục bộ. Một số biển quảng cáo, mái che ven đường cũng bị hất tung.
Chính quyền địa phương cho biết chưa ghi nhận thiệt hại về người, song đang tiếp tục thống kê mức độ thiệt hại về tài sản. Lực lượng quân sự, công an và đoàn viên thanh niên được huy động hỗ trợ người dân di dời tài sản đến nơi an toàn, gia cố, lợp lại mái nhà tạm thời.
Công tác cắt dọn cây xanh gãy đổ được triển khai khẩn trương để sớm thông đường, bảo đảm an toàn giao thông. Đến 19h30 cùng ngày, các lực lượng vẫn tiếp tục hỗ trợ người dân khắc phục hậu quả, ổn định cuộc sống.
Ngày 8-4, Văn phòng UBND tỉnh Đắk Lắk cho biết đã có báo cáo đề xuất điều chỉnh mức hỗ trợ đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động phải đi làm xa nhà sau sắp xếp đơn vị hành chính.
Theo đó, Văn phòng UBND tỉnh Đắk Lắk đã đề nghị Sở Tài chính tổng hợp, tham mưu UBND tỉnh trình HĐND tỉnh ban hành nghị quyết điều chỉnh chính sách theo hướng tăng mức hỗ trợ và kéo dài thời gian áp dụng, nhằm phù hợp hơn với thực tế.
Cụ thể, Văn phòng UBND tỉnh đề xuất nâng mức hỗ trợ tiền thuê nhà lên 4 triệu đồng/người/tháng và hỗ trợ đi lại lên 3 triệu đồng/người/tháng, nhằm tiệm cận chi phí thực tế.
Trước đó, nghị quyết của HĐND tỉnh Đắk Lắk quy định các chính sách hỗ trợ chi phí đi lại, thuê nhà ở và hỗ trợ một lần cho cán bộ đến công tác tại trung tâm hành chính sau sắp xếp. Việc triển khai đã góp phần ổn định bước đầu tổ chức bộ máy, tạo điều kiện để đội ngũ cán bộ yên tâm nhận nhiệm vụ tại địa bàn mới.
Tuy nhiên, theo Văn phòng UBND tỉnh Đắk Lắk, quá trình thực hiện đã bộc lộ nhiều khó khăn. Đáng chú ý, sau khi sắp xếp, nhiều cán bộ khu vực phía Đông (tỉnh Phú Yên trước đây) phải di chuyển quãng đường khoảng 200km để đến trung tâm hành chính tỉnh.
Đây được xem là một trong những trường hợp có khoảng cách đi làm xa nhất cả nước sau hợp nhất.
Trong khi đó, hạ tầng giao thông chưa đồng bộ, thời gian di chuyển kéo dài khiến chi phí đi lại tăng cao, ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe và hiệu quả công việc.
Cùng với đó, nhiều cán bộ phải thuê nhà tại nơi làm việc trong khi gia đình vẫn ở địa phương cũ, dẫn đến phát sinh chi phí "kép" như tiền thuê nhà, sinh hoạt cá nhân và chi phí duy trì gia đình. Mức hỗ trợ hiện hành 3 triệu đồng/tháng tiền thuê nhà và 2 triệu đồng/tháng tiền đi lại được đánh giá không còn phù hợp với mặt bằng giá hiện nay.
Việc công tác xa nhà cũng kéo theo nhiều hệ lụy về đời sống, khi cán bộ khó có điều kiện chăm sóc cha mẹ, việc nuôi dạy con cái bị gián đoạn, gia đình phải sống phân tán nhiều nơi.
Từ thực tế này, Văn phòng UBND tỉnh đề xuất nâng mức hỗ trợ tiền thuê nhà lên 4 triệu đồng/người/tháng và hỗ trợ đi lại lên 3 triệu đồng/người/tháng.
Trước đó, Sở Tài chính tỉnh Đắk Lắk đã có văn bản gửi các sở, ban, ngành và UBND các xã, phường đề nghị đánh giá việc triển khai Nghị quyết 02 năm 2025 sau gần 9 tháng thực hiện. Việc rà soát nhằm phục vụ công tác sơ kết, báo cáo UBND tỉnh trình HĐND tỉnh Đắk Lắk theo quy định.
Theo lộ trình áp dụng quy chuẩn khí thải được Chính phủ quy định, thời điểm bắt đầu thực hiện kiểm định khí thải xe máy, mô tô tham gia giao thông đường bộ như sau:
Từ 1.7.2027 đối với Hà Nội và TP.HCM.
Từ 1.7.2028 đối với các thành phố còn lại.
Từ 1.7.2030 đối với các tỉnh còn lại. Tùy theo tình hình thực tế, các tỉnh này có thể quy định áp dụng thời hạn sớm hơn.
Quyết định của Chính phủ nêu rõ, xe mô tô sản xuất hoặc nhập khẩu trước năm 2008, áp dụng Mức 1 - Giá trị giới hạn tối đa cho phép của khí thải quy định tại Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải xe mô tô, xe gắn máy tham gia giao thông đường bộ.
Xe mô tô sản xuất hoặc nhập khẩu từ năm 2008 đến hết năm 2016, áp dụng Mức 2 - Giá trị giới hạn tối đa cho phép của khí thải quy định tại Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải xe mô tô, xe gắn máy tham gia giao thông đường bộ.
Xe mô tô sản xuất hoặc nhập khẩu từ năm 2017 đến ngày 30.6.2026, áp dụng Mức 3 - Giá trị giới hạn tối đa cho phép của khí thải quy định tại Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải xe mô tô, xe gắn máy tham gia giao thông đường bộ.
Xe mô tô sản xuất hoặc nhập khẩu từ ngày 1.7.2026, áp dụng Mức 4 - Giá trị giới hạn tối đa cho phép của khí thải quy định tại Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải xe mô tô, xe gắn máy tham gia giao thông đường bộ.
Xe gắn máy sản xuất hoặc nhập khẩu trước năm 2016, áp dụng Mức 1 - Giá trị giới hạn tối đa cho phép của khí thải quy định tại Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải xe mô tô, xe gắn máy tham gia giao thông đường bộ.
Xe gắn máy sản xuất hoặc nhập khẩu từ năm 2017 đến ngày 30.6.2027, áp dụng Mức 2 - Giá trị giới hạn tối đa cho phép của khí thải quy định tại Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải xe mô tô, xe gắn máy tham gia giao thông đường bộ.
Xe gắn máy sản xuất hoặc nhập khẩu từ ngày 1.7.2027, áp dụng Mức 4 - Giá trị giới hạn tối đa cho phép của khí thải quy định tại Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải xe mô tô, xe gắn máy tham gia giao thông đường bộ.
Từ 1.1.2028, xe mô tô, xe gắn máy tham gia giao thông tại Hà Nội và TP.HCM phải đáp ứng quy định về khí thải Mức 2 trở lên. Xe mô tô, xe gắn máy tham gia giao thông vào "vùng phát thải thấp" của Hà Nội theo quy định của luật Thủ đô phải đáp ứng quy định về khí thải theo nghị quyết của HĐND TP.Hà Nội.
Theo Thông tư số 92 của Bộ NN-MT, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải xe mô tô, xe gắn máy tham gia giao thông đường bộ bao gồm 4 mức giá trị giới hạn tối đa cho phép đối với từng thông số hydrocacbon (HC), cacbon monoxit (CO) trong khí thải xe mô tô, xe gắn máy tham gia giao thông đường bộ.
Giá trị giới hạn tối đa cho phép của các thông số CO, HC trong khí thải xe mô tô, xe gắn máy lắp động cơ cháy cưỡng bức tham gia giao thông đường bộ được quy định trong bảng sau đây: