Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định, được bầu làm Thủ tướng Chính phủ “không chỉ là vinh dự lớn lao mà còn là trách nhiệm nặng nề trước Tổ quốc, trước nhân dân và trước yêu cầu phát triển nhanh, bền vững của đất nước”.
Thủ tướng cũng bày tỏ lòng biết ơn đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, các thế hệ lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Chính phủ tiền nhiệm đã tạo nền tảng vững chắc cho Chính phủ trong giai đoạn tiếp theo.
Theo Thủ tướng Lê Minh Hưng, Đại hội XIV của Đảng đã xác lập rõ tầm nhìn, mục tiêu, động lực và chương trình hành động cho giai đoạn phát triển mới nhiệm kỳ 2026 – 2031. Chương trình hành động này mở ra vận hội mới mang tính lịch sử, đòi hỏi đất nước ta không chỉ tiếp tục phát triển mà phải bứt phá vươn lên, không chỉ hội nhập mà phải nâng tầm vị thế, không chỉ tăng trưởng mà phải phát triển nhanh, bền vững và nâng cao đời sống, hạnh phúc của nhân dân. Chính phủ sẽ tập trung cao nhất vào 5 trọng tâm lớn.
Thứ nhất, xây dựng một Chính phủ hiện đại, kiến tạo và phục vụ nhân dân. Chính phủ sẽ ưu tiên cao nhất cho công tác xây dựng và hoàn thiện đồng bộ thể chế; quyết liệt rà soát, sửa đổi đồng bộ các quy định pháp luật; cắt giảm tối đa thủ tục hành chính, tháo gỡ dứt điểm các điểm nghẽn, nút thắt và khơi thông, giải phóng mọi nguồn lực xã hội. Xây dựng bộ máy tinh gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả.
Trên tinh thần Chính phủ kiến tạo và hành động, mỗi thành viên Chính phủ phải nói đi đôi với làm, điều hành bằng tư duy quản trị hiện đại, chủ động linh hoạt trong mọi tình huống để hoàn thành xuất sắc trọng trách trước Đảng và nhân dân.
Thứ hai, quyết tâm nỗ lực cao nhất điều hành nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao và bền vững. Mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân trên 10%/năm giai đoạn 2026 – 2031 là mệnh lệnh phát triển để hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của đất nước.
Chính phủ xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là khâu đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh, tự chủ chiến lược, tạo động lực tăng trưởng mới.
Đồng thời, đẩy mạnh phát triển hạ tầng đồng bộ, hiện đại, chuyển đổi xanh và chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu. Thúc đẩy kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng nhất, bảo đảm mọi địa phương, doanh nghiệp và người dân đều có cơ hội cống hiến, đóng góp và hưởng thụ từ sự phát triển.
Thứ ba, Chính phủ xác định đầu tư cho con người là đầu tư cho tương lai. Theo đó, Chính phủ thống nhất dành nguồn lực thích đáng để đổi mới căn bản giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và trọng dụng nhân tài. Nâng cao năng lực hệ thống y tế công cộng, chăm sóc sức khỏe nhân dân ngay từ cơ sở, bảo đảm mọi người dân được tiếp cận dịch vụ y tế chất lượng.
Thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, trong đó quan tâm đến người có công và các đối tượng yếu thế, bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau. Xây dựng và phát triển văn hóa thực sự trở thành nền tảng vững chắc, sức mạnh nội sinh của dân tộc, khẳng định bản sắc và vị thế mới của văn hóa Việt Nam xứng tầm một quốc gia phát triển có truyền thống văn hiến lâu đời.
Tăng cường quốc phòng, an ninh, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Thực hiện nhất quán đường lối độc lập, tự chủ, đẩy mạnh ngoại giao kinh tế, ngoại giao công nghệ, khẳng định bản sắc và vị thế mới của Việt Nam trên trường quốc tế.
Thứ tư, vận hành hiệu quả tổ chức bộ máy theo mô hình mới. Từ ngày 1.7.2025, chính quyền địa phương 2 cấp chính thức vận hành. Nhiệm vụ của Chính phủ là đưa bộ máy mới hoạt động hiệu lực, hiệu quả, thực chất, trở thành động năng mới; tiếp tục đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với phân bổ nguồn lực hợp lý.
Nâng cao năng lực cán bộ, đặc biệt là cán bộ xã, phường, thị trấn. Trong đó, xác định năm 2026 là năm nâng cao chất lượng cán bộ cơ sở, chuyển mạnh từ phương thức hành chính quản trị sang hành chính phục vụ, kiến tạo phát triển, phục vụ người dân và doanh nghiệp tốt hơn.
Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định, Chính phủ xác định rõ việc gì địa phương làm nhanh hơn, tốt hơn, hiệu quả hơn, sát thực tiễn hơn thì giao địa phương quyết định. Phát huy tinh thần chủ động, linh hoạt, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của các cấp chính quyền cơ sở nơi gần dân và sát dân nhất; lấy sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp làm thước đo để đánh giá thành công của bộ máy chính quyền các cấp.
Thứ năm, xây dựng một Chính phủ liêm chính, kỷ luật, bản lĩnh và trách nhiệm. “Tôi ý thức sâu sắc rằng lòng tin của nhân dân là nguồn lực lớn nhất của quốc gia. Muốn phát triển nhanh thì bộ máy phải trong sạch, cán bộ phải liêm chính, công vụ phải kỷ cương. Chính phủ cam kết hành động với quyết tâm cao nhất, đặt lợi ích quốc gia, dân tộc và hạnh phúc của nhân dân lên trên hết, trước hết”, Thủ tướng nhấn mạnh.
Cạnh đó, tiếp tục đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính; nâng cao trách nhiệm người đứng đầu và kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Xử lý nghiêm tình trạng né tránh, vô cảm trước khó khăn của người dân, doanh nghiệp và thực hiện hiệu quả cơ chế khuyến khích, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
“Trước nhiệm vụ nặng nề nhưng đầy vẻ vang, Chính phủ nhiệm kỳ 2026 – 2031 ý thức sâu sắc trách nhiệm của mình trước nhân dân, sẽ luôn thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Chính phủ ta là Chính phủ của nhân dân, chỉ có một mục đích là ra sức phụng sự lợi ích của nhân dân”.
Tôi xin hứa sẽ cùng tập thể Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương đoàn kết một lòng, quyết tâm đưa đất nước bước vào giai đoạn phát triển bứt phá, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc”, Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh.
Sáng 8.4, Quốc hội đã biểu quyết thông qua các nghị quyết về phê chuẩn việc bổ nhiệm phó thủ tướng, bộ trưởng và các thành viên Chính phủ nhiệm kỳ 2026 - 2031. Đại tướng Phan Văn Giang là một trong 6 phó thủ tướng Chính phủ của nhiệm kỳ mới vừa được Quốc hội phê chuẩn bổ nhiệm. Đại tướng Phan Văn Giang giữ chức Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
6 phó thủ tướng Chính phủ nhiệm kỳ 2026 - 2031 gồm: ông Phan Văn Giang, ông Phạm Gia Túc, bà Phạm Thị Thanh Trà, ông Hồ Quốc Dũng, ông Nguyễn Văn Thắng và ông Lê Tiến Châu.
Phó thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phan Văn Giang sinh năm 1960, quê Ninh Bình; là tiến sĩ khoa học quân sự. Ông là Ủy viên Bộ Chính trị khóa XIII, XIV; Ủy viên Trung ương Đảng khóa XII, XIII, XIV.
Ông từng là chiến sĩ Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 677, Sư đoàn 346 chiến đấu tại Cao Bằng giai đoạn 1978 - 1979; sau đó là học viên Trường sĩ quan Chỉ huy kỹ thuật Tăng. Sau khi tốt nghiệp, ông mang quân hàm trung úy, Trung đội trưởng Đại đội 3, Tiểu đoàn 1037, Sư đoàn 312, Quân đoàn 1.
Giai đoạn 1984 - 1990, ông trải qua nhiều vị trí công tác tại Tiểu đoàn 1037, Sư đoàn 312, Quân đoàn 1. Ông tiếp tục học lên Học viện Lục quân, mang quân hàm thiếu tá, sau đó được điều động về công tác tại Sư đoàn 312, Quân đoàn 1 giai đoạn 1994 - 2001.
Sau khi học Chỉ huy Tham mưu Binh chủng Hợp thành tại Học viện Lục quân, ông được bổ nhiệm Phó tham mưu trưởng, Phó sư đoàn trưởng - Tham mưu trưởng, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 312, Quân đoàn 1.
Từ tháng 8.2008 - tháng 1.2009, ông là Đảng ủy viên Quân đoàn, đại tá, Phó tư lệnh về Quân sự Quân đoàn 1. Sau đó, ông được bổ nhiệm Phó tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân đoàn 1.
Tháng 6.2010 - tháng 9.2011, ông là Phó bí thư Đảng ủy Quân đoàn, thiếu tướng, Tư lệnh Quân đoàn 1.
Tới tháng 10.2011 - tháng 2.2014, ông là Bí thư Đảng ủy Bộ Tổng tham mưu - Cơ quan Bộ Quốc phòng; trung tướng, Phó tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.
Tháng 3.2014 - tháng 3.2016, ông là Ủy viên Quân ủy Trung ương, trung tướng, Tư lệnh Quân khu 1; học viên Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (tháng 2.2014 - tháng 6.2014); Ủy viên Trung ương Đảng khóa XII (từ tháng 1.2016).
Tháng 4.2016, ông là Ủy viên Trung ương Đảng khóa XII, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, trung tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.
Tháng 5.2016 - tháng 1.2021, ông là Ủy viên Trung ương Đảng khóa XII, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, thượng tướng, Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.
Từ tháng 1.2021 - tháng 3.2021, ông là Ủy viên Bộ Chính trị khóa XIII, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, thượng tướng, Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.
Tháng 4.2021 - tháng 7.2021, ông được bổ nhiệm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Tháng 7 cùng năm, ông được thăng quân hàm đại tướng. Tháng 8.2025, ông được trao tặng Huân chương Quân công hạng nhất.
Tháng 1.2026, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, ông được bầu là Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIV, sau đó được bầu vào Bộ Chính trị khóa XIV.
Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội Phan Chí Hiếu trình bày báo cáo thẩm tra về cơ cấu tổ chức của Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI.
Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội Lê Quang Mạnh trình bày dự thảo Nghị quyết về cơ cấu tổ chức của Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI. Quốc hội đã biểu quyết thông qua Nghị quyết về cơ cấu tổ chức của Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI bằng hệ thống biểu quyết điện tử. Kết quả 488 đại biểu tán thành trên số 488 đại biểu tham gia (bằng 100% đại biểu Quốc hội có mặt và bằng 97,6% tổng số đại biểu).
Theo đó, cơ cấu tổ chức của Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI có 14 bộ, 3 cơ quan ngang bộ, gồm: Bộ Quốc phòng; Bộ Công an; Bộ Ngoại giao; Bộ Nội vụ; Bộ Tư pháp; Bộ Tài chính; Bộ Công thương; Bộ NN-MT; Bộ Xây dựng; Bộ VH-TT-DL; Bộ KH-CN; Bộ GD-ĐT; Bộ Y tế; Bộ Dân tộc và Tôn giáo; Ngân hàng Nhà nước; Thanh tra Chính phủ; Văn phòng Chính phủ.
Như vậy, cơ cấu tổ chức Chính phủ nhiệm kỳ 2026 - 2031 vẫn giữ nguyên so với cơ cấu bộ máy Chính phủ sau sắp xếp của nhiệm kỳ trước.
Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV vừa qua đã thông qua Quy định về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng (Quy định). Đây là sự cụ thể hóa "4 kiên định" về chính trị, tư tưởng, gồm: kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Quy định đã thể chế hóa các quan điểm của Đảng thành những quy tắc mang tính bắt buộc nhằm nâng cao nhận thức, trình độ, bản lĩnh chính trị, năng lực công tác, khả năng ứng phó các biến động của tình hình mới.
Trao đổi với Thanh Niên, trung tướng, GS Trần Vi Dân, Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương, nhìn nhận nếu công tác cán bộ là "then chốt của then chốt", thì công tác chính trị, tư tưởng là mở đường, đi trước vì nó giải quyết vấn đề nhận thức của đảng viên: "Tư tưởng thông suốt hành động mới đúng".
Thưa ông, tại phiên bế mạc Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh việc thực hiện nghiêm túc, nhất quán "4 kiên định" về chính trị, tư tưởng và xem Quy định về công tác chính trị, tư tưởng là sự cụ thể hóa những nguyên tắc này. Ông đánh giá thế nào về tính cấp thiết của quy định này trong giai đoạn hiện nay?
GS Trần Vi Dân: Công tác chính trị, tư tưởng không phải là mới mà đã có từ những lớp học tại Quảng Châu do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc mở ra để truyền bá tư tưởng cách mạng trước khi Đảng ra đời. Trong suốt chiều dài lịch sử cách mạng Việt Nam, công tác này luôn được coi là đi trước mở đường, đi cùng dẫn dắt và động viên khích lệ, đi sau để tổng kết.
Tuy nhiên, tại sao bây giờ lại cần một quy định riêng biệt và mang tính hệ thống như vậy? Có 2 lý do chính. Thứ nhất, trước đây các nội dung này nằm tản mạn ở nhiều văn bản khác nhau như Điều lệ Đảng, các nghị quyết, kết luận. Đây là lần đầu tiên Đảng có một quy định riêng, tích hợp và hệ thống lại một cách rõ ràng, thống nhất, tập trung để làm công cụ xây dựng Đảng vững mạnh.
Thứ hai, chúng ta đang bước vào giai đoạn phát triển mới với những điều kiện mới, nơi mà "thuyền to thì sóng lớn". Các nguy cơ từ năm 1994 như tụt hậu kinh tế, "diễn biến hòa bình", chệch hướng xã hội chủ nghĩa và tham nhũng vẫn hiện hữu, thậm chí diễn biến phức tạp hơn. Trong bối cảnh thế giới đầy biến động, nếu cán bộ không vững vàng về chính trị, tư tưởng thì rất dễ dẫn đến mất cảnh giác, dao động, thậm chí là "tự diễn biến".
Xin ông phân tích sâu hơn về nội dung kiên định đầu tiên: kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh?
Đây là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Chúng ta kiên định không phải là giáo điều, máy móc mà là vận dụng sáng tạo phù hợp với thực tiễn Việt Nam và yêu cầu thời đại. Thực tế đã chứng minh sở dĩ chúng ta thắng được các đế quốc lớn là nhờ sức mạnh của ý chí và tư tưởng. Khi sức mạnh "cứng" (vũ khí, trang thiết bị) của ta còn hạn chế, thì chính chính trị, tư tưởng đã biến những con người bình thường thành anh hùng.
Ngày nay, giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn còn nguyên vẹn. Ngay cả các học giả tư sản phương Tây cũng có những công trình chứng minh tính đúng đắn trong các luận điểm của Mác. Việc kiên định nền tảng này giúp chúng ta không bị lạc lối trong quá trình xây dựng Chủ nghĩa xã hội, một chế độ hướng tới việc giải quyết triệt để các bất công và đem lại hạnh phúc thực sự cho con người, điều mà các chế độ khác chưa làm được.
Nội dung kiên định thứ hai được Tổng Bí thư nhắc tới là kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội. Thưa ông, trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay, mục tiêu này cần được hiểu và bảo vệ như thế nào?
Đây là sự lựa chọn mang tính lịch sử, là mục tiêu và lý tưởng của Đảng ta ngay từ khi mới thai nghén. Độc lập dân tộc là điều kiện cần, còn Chủ nghĩa xã hội là điều kiện đủ để đất nước phát triển bền vững. Cần lưu ý rằng độc lập dân tộc bao gồm độc lập cả về chủ quyền lẫn đường lối. Nếu chúng ta lơi lỏng, không kiên định, chúng ta có thể mất quyền tự chủ bất cứ lúc nào, không chỉ về chủ quyền lãnh thổ mà còn về đường lối chính trị.
Việc kiên định mục tiêu này giúp chúng ta thoát khỏi sự khủng hoảng về đường lối mà các phong trào yêu nước trước đây từng gặp phải. Trong thời đại mới, việc xây dựng Chủ nghĩa xã hội chính là tạo ra nguồn lực và sức mạnh tổng hợp để bảo vệ nền độc lập đó một cách tốt hơn. Hai ngọn cờ này phải luôn song hành, không thể buông lơi bất cứ phía nào.
Một điểm rất mới và quan trọng là kiên định đường lối đổi mới của Đảng. Ông có thể lý giải vì sao nội dung này lại được đặt ngang hàng với các nền tảng tư tưởng cốt lõi?
Điều này cho thấy sự trưởng thành vượt bậc về lý luận của Đảng. Sau gần 40 năm đổi mới, chúng ta đã hoàn thiện hệ thống lý luận về đường lối này, đủ để xác định đó là một cấu thành trong nền tảng tư tưởng của Đảng bên cạnh chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đổi mới là quá trình có tính quy luật để giải phóng sức sản xuất và khơi thông nguồn lực.
Kiên định đổi mới có nghĩa là đổi mới đúng định hướng, đổi mới có nguyên tắc chứ không phải là sự thay đổi vô nguyên tắc. Nhờ kiên định đường lối này, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế đã thay đổi căn bản. Từ chỗ mong muốn thêm bạn bớt thù, phá thế bao vây cấm vận, đến nay chúng ta đã sẵn sàng là đối tác tin cậy và tham gia định hình các cơ chế quốc tế. Sự ghi nhận của thế giới đối với vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, ngay cả từ những quốc gia có thể chế chính trị khác biệt, chính là minh chứng rõ nhất cho sự đúng đắn của đường lối này.
Nội dung kiên định cuối cùng là kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng. Vì sao đây lại là chìa khóa để bảo vệ Đảng từ bên trong, thưa ông?
Các nguyên tắc như tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình là điều kiện bắt buộc để Đảng luôn trong sạch, vững mạnh. Thực tế cho thấy, hầu hết các sai phạm của cán bộ dẫn đến xử lý kỷ luật thời gian qua đều bắt nguồn từ việc vi phạm các nguyên tắc tổ chức này. Kiên định các nguyên tắc này giúp giữ vững kỷ luật, kỷ cương và bảo đảm sự thống nhất về ý chí và hành động trong toàn Đảng.
Bên cạnh đó, quy định mới cũng hướng tới việc để nhân dân giám sát cán bộ, đảng viên. Dân là gốc, dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và dân giám sát. Khi các nguyên tắc được công khai, nhân dân sẽ là thước đo chuẩn xác nhất để đánh giá sự gương mẫu của người đảng viên. Quy định này thực chất là để cấp ủy, đảng viên tốt hơn, gương mẫu hơn để phục vụ nhân dân tốt hơn.