Chiều 9.4, báo cáo kinh tế – xã hội trước Quốc hội, Thủ tướng Lê Minh Hưng cho biết, kinh tế vĩ mô năm 2025 cơ bản ổn định, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm; bội chi, nợ công được kiểm soát tốt. Tốc độ tăng trưởng GDP đạt 8,02%, thuộc nhóm cao của khu vực và thế giới, quy mô nền kinh tế đạt 514 tỉ USD, lên vị trí thứ 32 thế giới.
Trong quý 1/2026, kinh tế vĩ mô cơ bản được ổn định, GDP ước đạt 7,83%; có 4 địa phương tăng trưởng trên 10%; chỉ số giá tiêu dùng CPI bình quân tăng 3,51%. Thu ngân sách nhà nước 3 tháng ước đạt 829.000 tỉ đồng; tăng 11,4%; thu hút vốn FDI tăng mạnh; tổng kim ngạch xuất nhập khẩu ước đạt gần 249,5 tỉ USD, tăng 23%.
Bên cạnh đó, tân Thủ tướng cũng cho biết, kinh tế vĩ mô chịu nhiều tác động bất lợi từ bên ngoài, mục tiêu tăng trưởng “hai con số” là thách thức rất lớn. Hoạt động sản xuất, kinh doanh một số lĩnh vực gặp nhiều khó khăn. Các động lực tăng trưởng truyền thống phát huy hiệu quả dưới mức tiềm năng, sức mua trong nước thấp, xuất khẩu còn phụ thuộc nhiều vào khu vực FDI.
Thị trường bất động sản phục hồi chậm, tiềm ẩn rủi ro. Một số thủ tục hành chính còn rườm rà, dịch vụ công trực tuyến chưa thực sự thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp…
Về nhiệm vụ trọng tâm 3 quý còn lại của năm 2026, Thủ tướng Lê Minh Hưng đánh giá, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục biến động nhanh, phức tạp, khó lường, nhất là việc điều chỉnh chính sách của nhiều quốc gia; xung đột quân sự leo thang; giá xăng dầu tăng cao; kinh tế toàn cầu dự báo tăng trưởng chậm.
Ở trong nước, khó khăn thuận lợi đan xen, nhưng khó khăn, thách thức nhiều hơn. Thủ tướng cho biết, Chính phủ và các bộ, ngành, địa phương sẽ quyết liệt tổ chức thực hiện đồng bộ, hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và Kết luận 18 của Trung ương, quyết tâm cao nhất đạt và vượt các chỉ tiêu, mục tiêu của năm 2026.
Nhắc lại chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: “Chúng ta không chấp nhận tăng trưởng thấp. Phải kiên trì mục tiêu tăng trưởng cao, bền vững thực chất”, Thủ tướng khẳng định, quán triệt sâu sắc 4 nguyên tắc cốt lõi, Chính phủ xác định đây là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, xuyên suốt.
Theo đó, thúc đẩy tăng trưởng gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển. Kiên quyết không để xảy ra mất ổn định vĩ mô, khủng hoảng kinh tế trong mọi tình huống. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính ngân sách nhà nước, có giải pháp dự phòng để chủ động ứng phó với biến động.
Trong tháng 4, hoàn thành rà soát, bổ sung và giao mục tiêu tăng trưởng trên từng lĩnh vực cho các địa phương, tập đoàn, doanh nghiệp nhà nước năm 2026 và giai đoạn 2026 – 2030.
Cạnh đó, tập trung bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia cả trước mắt và lâu dài, nhất là bảo đảm nguồn cung dầu thô, khí đốt. Triệt để tiết kiệm điện, năng lượng, đảm bảo không thiếu điện trong bất cứ tình huống nào. Bảo đảm ổn định và lành mạnh hóa các thị trường trọng yếu, nhất là thị trường bất động sản, trái phiếu doanh nghiệp, tiền tệ…
Đồng thời, huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển. Chính phủ coi đây là giải pháp đặc biệt quan trọng để đạt mục tiêu tăng trưởng “hai con số”. Trong đó, tập trung phấn đấu thu ngân sách nhà nước tăng 10%, tiết kiệm trên 10% và phấn đấu tiết kiệm thêm trên 5% chi thường xuyên.
Phát hành trái phiếu Chính phủ, địa phương, vay ODA; tăng đầu tư từ các tập đoàn, tổng công ty nhà nước; đẩy mạnh thu hút đầu tư tư nhân, khuyến khích doanh nghiệp FDI sử dụng nguồn vốn, doanh thu, lợi nhuận chưa chuyển về nước để tái đầu tư tại Việt Nam.
Thủ tướng cho biết, tại cuộc họp đầu tiên của Thường trực Chính phủ sáng nay, Chính phủ cũng đã bàn nhiều giải pháp, trong đó tập trung tháo gỡ nhanh, dứt điểm vướng mắc cho các dự án tồn đọng kéo dài; xem đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới.
Thủ tướng Lê Minh Hưng cũng thông tin thêm nhiều giải pháp sẽ được Chính phủ tập trung trong thời gian tới như khai thác hiệu quả các động lực tăng trưởng từ đầu tư, tiêu dùng và xuất khẩu. Đẩy mạnh cơ cấu lại các ngành, lĩnh vực; phát triển các thành phần kinh tế, các mô hình kinh tế mới.
Chính phủ cũng đã chỉ đạo hệ thống ngân hàng tiếp tục ổn định mặt bằng lãi suất, cả lãi suất huy động và lãi suất cho vay.
Tạo đột phá phát triển các thành phần kinh tế gắn với triển khai hiệu quả ngay các nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị. Hiện đại hóa, cơ cấu lại hệ thống tổ chức tín dụng theo hướng bền vững gắn với xử lý nợ xấu, tổ chức tín dụng yếu kém, sở hữu chéo.
Cạnh đó, tạo đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đẩy mạnh triển khai quyết liệt đồng bộ, hiệu quả Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị; phát triển hạ tầng số, nhất là hạ tầng dữ liệu; phủ sóng mạng 5G trên toàn quốc…
Tập trung hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, quyết liệt cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; chuyển mạnh từ tư duy “quản lý” sang “kiến tạo phát triển”. Hoàn thành rà soát, phê duyệt điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất trong quý 2/2026; sửa đổi luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn trong năm 2026.
Mục tiêu hoàn thành cắt giảm 50% thời gian giải quyết thủ tục hành chính. Thủ tướng cho hay, tại cuộc họp sáng nay, Thường trực Chính phủ yêu cầu Bộ Tư pháp báo cáo, trong tháng 4 sẽ cắt giảm triệt để các thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh không cần thiết.
Cạnh đó, đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, lãng phí tiêu cực, nâng cao hiệu quả công tác thanh tra. Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ như đẩy mạnh các tuyến đường sắt đô thị Hà Nội, TP.HCM, tuyến đường sắt kết nối với Trung Quốc, một số tuyến trên đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam. Bảo đảm tiến độ xây dựng sân bay Gia Bình, mở rộng sân bay Phú Quốc, Chu Lai, Cà Mau. Phát triển hạ tầng năng lượng mới đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế cao.
Thủ tướng cũng cho biết, Chính phủ sẽ tiếp tục hoàn thiện quy định về tổ chức bộ máy hành chính nhà nước, tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với phân bổ nguồn lực; vận hành thông suốt, hiệu quả chính quyền địa phương 2 cấp; bảo đảm cấp bộ không thực hiện quá 30% tổng số thủ tục hành chính, hoàn thành trong năm nay. Đồng thời, xác định năm 2026 là “năm nâng cao chất lượng cán bộ cơ sở”.
Xử lý cơ bản tình trạng ô nhiễm, không khí, ngập úng tại một số thành phố lớn như Hà Nội, TP.HCM. Phấn đấu hoàn thành trên 100.000 căn nhà ở xã hội trong năm 2026.
Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV vừa qua đã thông qua Quy định về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng (Quy định). Đây là sự cụ thể hóa "4 kiên định" về chính trị, tư tưởng, gồm: kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Quy định đã thể chế hóa các quan điểm của Đảng thành những quy tắc mang tính bắt buộc nhằm nâng cao nhận thức, trình độ, bản lĩnh chính trị, năng lực công tác, khả năng ứng phó các biến động của tình hình mới.
Trao đổi với Thanh Niên, trung tướng, GS Trần Vi Dân, Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương, nhìn nhận nếu công tác cán bộ là "then chốt của then chốt", thì công tác chính trị, tư tưởng là mở đường, đi trước vì nó giải quyết vấn đề nhận thức của đảng viên: "Tư tưởng thông suốt hành động mới đúng".
Thưa ông, tại phiên bế mạc Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh việc thực hiện nghiêm túc, nhất quán "4 kiên định" về chính trị, tư tưởng và xem Quy định về công tác chính trị, tư tưởng là sự cụ thể hóa những nguyên tắc này. Ông đánh giá thế nào về tính cấp thiết của quy định này trong giai đoạn hiện nay?
GS Trần Vi Dân: Công tác chính trị, tư tưởng không phải là mới mà đã có từ những lớp học tại Quảng Châu do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc mở ra để truyền bá tư tưởng cách mạng trước khi Đảng ra đời. Trong suốt chiều dài lịch sử cách mạng Việt Nam, công tác này luôn được coi là đi trước mở đường, đi cùng dẫn dắt và động viên khích lệ, đi sau để tổng kết.
Tuy nhiên, tại sao bây giờ lại cần một quy định riêng biệt và mang tính hệ thống như vậy? Có 2 lý do chính. Thứ nhất, trước đây các nội dung này nằm tản mạn ở nhiều văn bản khác nhau như Điều lệ Đảng, các nghị quyết, kết luận. Đây là lần đầu tiên Đảng có một quy định riêng, tích hợp và hệ thống lại một cách rõ ràng, thống nhất, tập trung để làm công cụ xây dựng Đảng vững mạnh.
Thứ hai, chúng ta đang bước vào giai đoạn phát triển mới với những điều kiện mới, nơi mà "thuyền to thì sóng lớn". Các nguy cơ từ năm 1994 như tụt hậu kinh tế, "diễn biến hòa bình", chệch hướng xã hội chủ nghĩa và tham nhũng vẫn hiện hữu, thậm chí diễn biến phức tạp hơn. Trong bối cảnh thế giới đầy biến động, nếu cán bộ không vững vàng về chính trị, tư tưởng thì rất dễ dẫn đến mất cảnh giác, dao động, thậm chí là "tự diễn biến".
Xin ông phân tích sâu hơn về nội dung kiên định đầu tiên: kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh?
Đây là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Chúng ta kiên định không phải là giáo điều, máy móc mà là vận dụng sáng tạo phù hợp với thực tiễn Việt Nam và yêu cầu thời đại. Thực tế đã chứng minh sở dĩ chúng ta thắng được các đế quốc lớn là nhờ sức mạnh của ý chí và tư tưởng. Khi sức mạnh "cứng" (vũ khí, trang thiết bị) của ta còn hạn chế, thì chính chính trị, tư tưởng đã biến những con người bình thường thành anh hùng.
Ngày nay, giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn còn nguyên vẹn. Ngay cả các học giả tư sản phương Tây cũng có những công trình chứng minh tính đúng đắn trong các luận điểm của Mác. Việc kiên định nền tảng này giúp chúng ta không bị lạc lối trong quá trình xây dựng Chủ nghĩa xã hội, một chế độ hướng tới việc giải quyết triệt để các bất công và đem lại hạnh phúc thực sự cho con người, điều mà các chế độ khác chưa làm được.
Nội dung kiên định thứ hai được Tổng Bí thư nhắc tới là kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội. Thưa ông, trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay, mục tiêu này cần được hiểu và bảo vệ như thế nào?
Đây là sự lựa chọn mang tính lịch sử, là mục tiêu và lý tưởng của Đảng ta ngay từ khi mới thai nghén. Độc lập dân tộc là điều kiện cần, còn Chủ nghĩa xã hội là điều kiện đủ để đất nước phát triển bền vững. Cần lưu ý rằng độc lập dân tộc bao gồm độc lập cả về chủ quyền lẫn đường lối. Nếu chúng ta lơi lỏng, không kiên định, chúng ta có thể mất quyền tự chủ bất cứ lúc nào, không chỉ về chủ quyền lãnh thổ mà còn về đường lối chính trị.
Việc kiên định mục tiêu này giúp chúng ta thoát khỏi sự khủng hoảng về đường lối mà các phong trào yêu nước trước đây từng gặp phải. Trong thời đại mới, việc xây dựng Chủ nghĩa xã hội chính là tạo ra nguồn lực và sức mạnh tổng hợp để bảo vệ nền độc lập đó một cách tốt hơn. Hai ngọn cờ này phải luôn song hành, không thể buông lơi bất cứ phía nào.
Một điểm rất mới và quan trọng là kiên định đường lối đổi mới của Đảng. Ông có thể lý giải vì sao nội dung này lại được đặt ngang hàng với các nền tảng tư tưởng cốt lõi?
Điều này cho thấy sự trưởng thành vượt bậc về lý luận của Đảng. Sau gần 40 năm đổi mới, chúng ta đã hoàn thiện hệ thống lý luận về đường lối này, đủ để xác định đó là một cấu thành trong nền tảng tư tưởng của Đảng bên cạnh chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đổi mới là quá trình có tính quy luật để giải phóng sức sản xuất và khơi thông nguồn lực.
Kiên định đổi mới có nghĩa là đổi mới đúng định hướng, đổi mới có nguyên tắc chứ không phải là sự thay đổi vô nguyên tắc. Nhờ kiên định đường lối này, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế đã thay đổi căn bản. Từ chỗ mong muốn thêm bạn bớt thù, phá thế bao vây cấm vận, đến nay chúng ta đã sẵn sàng là đối tác tin cậy và tham gia định hình các cơ chế quốc tế. Sự ghi nhận của thế giới đối với vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, ngay cả từ những quốc gia có thể chế chính trị khác biệt, chính là minh chứng rõ nhất cho sự đúng đắn của đường lối này.
Nội dung kiên định cuối cùng là kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng. Vì sao đây lại là chìa khóa để bảo vệ Đảng từ bên trong, thưa ông?
Các nguyên tắc như tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình là điều kiện bắt buộc để Đảng luôn trong sạch, vững mạnh. Thực tế cho thấy, hầu hết các sai phạm của cán bộ dẫn đến xử lý kỷ luật thời gian qua đều bắt nguồn từ việc vi phạm các nguyên tắc tổ chức này. Kiên định các nguyên tắc này giúp giữ vững kỷ luật, kỷ cương và bảo đảm sự thống nhất về ý chí và hành động trong toàn Đảng.
Bên cạnh đó, quy định mới cũng hướng tới việc để nhân dân giám sát cán bộ, đảng viên. Dân là gốc, dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và dân giám sát. Khi các nguyên tắc được công khai, nhân dân sẽ là thước đo chuẩn xác nhất để đánh giá sự gương mẫu của người đảng viên. Quy định này thực chất là để cấp ủy, đảng viên tốt hơn, gương mẫu hơn để phục vụ nhân dân tốt hơn.
Chiều 7.4, tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XVI, với 474/474 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành, Quốc hội thông qua nghị quyết bầu ông Nguyễn Huy Tiến làm Viện trưởng Viện KSND tối cao nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Theo quy định, Viện trưởng Viện KSND tối cao do Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm theo đề nghị của Chủ tịch nước.
Nhiệm kỳ của Viện trưởng Viện KSND tối cao theo nhiệm kỳ của Quốc hội. Khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Viện trưởng Viện KSND tối cao tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi Quốc hội khóa mới bầu ra Viện trưởng Viện KSND tối cao.
Viện trưởng Viện KSND tối cao có nhiệm vụ lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ, kế hoạch công tác và xây dựng viện KSND; quyết định các vấn đề về công tác của Viện KSND tối cao; quy định bộ máy làm việc của Viện KSND tối cao và trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn; quyết định bộ máy làm việc của viện KSND cấp dưới; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức vụ lãnh đạo, quản lý thuộc thẩm quyền…
Ông Nguyễn Huy Tiến 58 tuổi, quê Hưng Yên, lý luận chính trị cao cấp, trình độ tiến sĩ luật.
Trước tháng 3.2001, ông Tiến từng có thời gian dài công tác trong ngành kiểm sát tại tỉnh Thái Bình.
Từ tháng 3.2001 - tháng 5.2013, ông giữ các cương vị kiểm sát viên, Phó viện trưởng rồi Viện trưởng Viện Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội, Viện KSND tối cao.
Từ tháng 6.2013 - tháng 5.2015, ông làm Kiểm sát viên Viện KSND tối cao, Bí thư Ban Cán sự Đảng, Viện trưởng Viện KSND tỉnh Quảng Bình.
Từ tháng 6.2015 - tháng 4.2017, ông làm Viện trưởng Viện KSND cấp cao tại Hà Nội. Đến tháng 5.2017, ông làm Vụ trưởng Vụ Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án tham nhũng, chức vụ, Viện KSND tối cao.
Từ tháng 9.2018, ông Tiến làm Phó viện trưởng Viện KSND tối cao, đến tháng 6.2020 làm Phó viện trưởng thường trực Viện KSND tối cao.
Tháng 9.2024, ông làm Viện trưởng Viện KSND tối cao; Thành viên ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương.
Từ tháng 2.2026 đến nay, ông làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Viện trưởng Viện KSND tối cao; Thành viên Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương và Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế, pháp luật.
Theo thông cáo của Bộ Ngoại giao, nhận lời mời của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình và phu nhân, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng phu nhân và đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam sẽ thăm cấp nhà nước đến Trung Quốc từ ngày 14 - 17.4.
Quan hệ Việt - Trung thời gian qua tổng thể duy trì đà phát triển tích cực và đạt nhiều kết quả quan trọng. Năm 2025, trong bối cảnh kỷ niệm 75 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt - Trung, trao đổi chiến lược cấp cao được tăng cường, các chuyến thăm giữa các lãnh đạo chủ chốt với tần suất chưa từng có.
Từ đầu năm 2026 đến nay, hai bên tiếp tục trao đổi, tiếp xúc cấp cao với nhiều hình thức linh hoạt. Lãnh đạo chủ chốt hai nước trao đổi điện mừng nhân dịp kỷ niệm 76 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao.
Hợp tác kinh tế - thương mại, đầu tư và du lịch nhìn chung đạt kết quả tích cực. Năm 2025, Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam; Việt Nam là đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc trong ASEAN và là đối tác thương mại thứ 4 của Trung Quốc trên thế giới theo tiêu chí quốc gia với kim ngạch thương mại Việt - Trung đạt 256,4 tỉ USD, tăng 24,8%; ta xuất khẩu 70,4 tỉ USD, tăng 14,8%; nhập khẩu 186 tỉ USD, tăng 29%.
Trong 2 tháng đầu năm 2026, Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch thương mại Việt - Trung 66,7 tỉ USD, tăng 30,2%; xuất khẩu 17,4 tỉ USD, tăng 32,5%; nhập khẩu 49,3 tỉ USD, tăng 29,4%.
Về đầu tư, năm 2025, Trung Quốc đứng thứ 2 về tổng số vốn đăng ký với 5,96 tỉ USD, tăng 33,4%.
Về du lịch, năm 2025, Việt Nam đón 5,28 triệu lượt khách Trung Quốc, tăng 41,3%, chiếm 25% tổng lượt khách quốc tế đến Việt Nam, đứng đầu về tổng lượt khách quốc tế đến Việt Nam.