Mục Lục
ToggleChiều 6.4, tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua nghị quyết về việc bầu bà Nguyễn Thị Hồng, Ủy viên Trung ương Đảng, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam làm Phó chủ tịch Quốc hội khóa XVI, nhiệm kỳ 2026 – 2031.
Bà Nguyễn Thị Hồng sinh năm 1968, quê quán Hà Nội. Trình độ thạc sĩ Kinh tế phát triển, Đại học chuyên ngành Quản lý ngoại hối; lý luận chính trị cao cấp.
Từ tháng 1.1991 – 4.1995, bà là chuyên viên Vụ Quản lý ngoại hối, chuyên viên Vụ Chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Từ tháng 4.1995 – 7.2011, bà giữ các chức vụ phó trưởng phòng, trưởng phòng, Phó vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Tháng 7.2011 – 8.2014, Phó vụ trưởng phụ trách Vụ Chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (từ tháng 2.2012 đến tháng 8.2014), Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Tháng 8.2014 – 11.2020, Ủy viên Ban Cán sự Đảng, Phó thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Bí thư Đảng ủy Cơ quan Ngân hàng Trung ương nhiệm kỳ 2020 – 2025 (từ tháng 8.2020).
Tháng 11.2020 – 1.2025, Bí thư Ban Cán sự Đảng, Bí thư Đảng ủy, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Tại Đại hội XIII của Đảng, được bầu vào Trung ương Đảng.
Tháng 1.2025 – 4.2026, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Chính phủ, Bí thư Đảng ủy, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Khoảng 20h07 ngày 6/4, tại đường ngang Km788+515 phường Thanh Khê, hai nhân viên là Trương Thị Diệp Thúy và Nguyễn Thị Mộng Tuyền đóng chắn để đón tàu chạy hướng ga Đà Nẵng - Kim Liên.
Khi các phương tiện đã dừng lại, một phụ nữ cố tình dắt xe vượt rào, đi vào phạm vi đường ngang. Dù được nhắc nhở, người này không chấp hành mà dừng xe trong phạm vi đường ngang và chửi bới, xúc phạm nhân viên gác chắn.
Khoảng 4 phút sau, người phụ nữ quay lại, kéo theo một phụ nữ khác, dùng mũ bảo hiểm tấn công vùng đầu và mặt hai nữ nhân viên gác chắn. Hai phụ nữ còn xô đẩy, kéo nạn nhân ra giữa đường ngang để tiếp tục hành hung và chỉ dừng lại khi có người đi đường can ngăn.
Vụ hành hung khiến chị Thúy và chị Tuyền bị đa chấn thương vùng đầu, mặt, sang chấn tâm lý, phải đi cấp cứu tại Bệnh viện Đà Nẵng. Đơn vị quản lý đã điều động nhân sự thay thế để đảm bảo an toàn chạy tàu.
Trong đêm, đại diện Công ty Cổ phần Đường sắt Quảng Nam - Đà Nẵng đã làm việc với công an phường Thanh Khê, đề nghị khẩn trương điều tra, xử lý nghiêm những người có hành vi hành hung nhân viên gác chắn trong lúc làm nhiệm vụ.
Theo Công ty Cổ phần Đường sắt Quảng Nam - Đà Nẵng, hai phụ nữ hành hung nhân viên gác chắn cư trú ngay phía sau trạm, từng nhiều lần gây mất trật tự, đe dọa nhân viên tại đây.
Sự việc đã được báo cáo lên Tổng công ty Đường sắt Việt Nam, Cục Cảnh sát giao thông, Công an TP Đà Nẵng và Ban An toàn giao thông TP Đà Nẵng.
Ông Khuất Thanh Liêm, Trưởng phòng Kỹ thuật an toàn (Công ty Cổ phần Đường sắt Quảng Nam - Đà Nẵng), cho biết đến sáng 7/4, hai nữ nhân viên bị hành hung vẫn đang phải theo dõi sức khỏe tại bệnh viện.
"Vụ này nghiêm trọng, xâm hại trực tiếp đến lực lượng đảm bảo an toàn giao thông đường sắt và tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến an toàn chạy tàu", ông Khuất Thanh Liêm nói.
Nguyễn Đông
Tin Gốc: https://vnexpress.net/hai-nhan-vien-gac-chan-duong-sat-bi-hanh-hung-5059354.html

Khoảng 20 giờ sau khi Nguyễn Tuấn Anh, 19 tuổi, sinh viên Đại học Đại Nam mất liên lạc, thông tin hỗ trợ tìm kiếm do UBND xã Đạo Trù phát đi nhanh chóng lan truyền trên mạng xã hội và các hội nhóm leo núi. Ngay sau đó, khu vực chân núi nhanh chóng trở thành điểm tập kết của hàng trăm người gồm công an, quân đội, kiểm lâm, dân quân tự vệ, người dân địa phương và các nhóm trail và trekking đến từ Hà Nội và nhiều tỉnh lân cận.
Nhiều người mang theo flycam, đèn chiếu sáng công suất lớn, thậm chí thiết bị camera nhiệt để hỗ trợ rà soát trong điều kiện rừng núi phức tạp, tầm nhìn hạn chế.
Ngay trong đêm, trung tâm chỉ huy được thiết lập tại chân núi. Theo Thượng tá Phan Văn Thực, Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy quân sự xã Đạo Trù, riêng lực lượng quân sự gồm ban chỉ huy khoảng 10 người, dân quân 96 người và lực lượng phối hợp hơn 100 người. Tại đây, 8 tổ tìm kiếm được thành lập, phân chia rõ từng khu vực và nhiệm vụ cụ thể.
Các lực lượng sử dụng bản đồ vệ tinh để xác định vùng nghi vấn, từ đó xây dựng phương án tìm kiếm theo hình thức cuốn chiếu. Mỗi tổ sau khi rà soát xong khu vực được phân công sẽ báo về trung tâm qua bộ đàm để nhận nhiệm vụ tiếp theo, nhằm tránh chồng chéo và đảm bảo bao phủ toàn bộ khu vực nghi vấn.
Trong số những người tham gia tự nguyện, anh Nguyễn Văn Hạnh (32 tuổi, Phú Thọ, cách hiện trường khoảng 30 km) cho biết nhận tin vào chiều tối hôm 20/4, dự định sáng sớm hôm sau lên tìm kiếm, nhưng anh gần như không ngủ được.
"Khoảng 1 giờ sáng tôi dậy luôn, chuẩn bị đồ rồi đi," anh Hạnh kể. Anh làm công nhân, cuối tuần thường leo núi để rèn luyện sức khỏe. Dù từng tham gia hỗ trợ bão lũ ở vùng cao, đây là lần đầu anh tham gia một cuộc tìm kiếm người mất tích trong điều kiện rừng núi kéo dài xuyên đêm.
Khi lên đến khu vực tập kết, anh Hạnh gặp thêm ba người khác từ các nhóm riêng, nhanh chóng lập thành một tổ và nhận bộ đàm để bắt đầu nhiệm vụ.
"Gặp nhau ở trung tâm là ghép nhóm luôn rồi đi," anh nói. Sau đó, các tổ tỏa vào rừng, bám theo suối, lối mòn và các sườn dốc trong điều kiện địa hình trơn trượt, nhiều đoạn phải bám cây để di chuyển.
Anh Hạnh cho biết địa hình ven suối đặc biệt khó đi, nhiều đoạn đá trơn, dốc và bị cây rừng chắn ngang. Có những vị trí đất ướt, chân lún sâu xuống bùn, buộc phải dò từng bước để tránh trượt ngã. "Nhiều lúc phải bám vào cây mới đi được, cứ lần từng bước một," anh kể.
Trong khi đó, anh Nguyễn Đăng Khoa (44 tuổi, Hà Nội), làm kinh doanh và tham gia cộng đồng chạy trail Việt Nam Ultra, cho biết nhận tin qua mạng xã hội và xuất phát lúc khoảng 21h tối 20/4.
Trước khi lên núi, anh chuẩn bị dinh dưỡng như một vận động viên gồm lương khô, thanh năng lượng, muối điện giải và nước, do xác định có thể phải tìm kiếm trong nhiều giờ giữa điều kiện khắc nghiệt.
Khi đến hiện trường, anh cùng các vận động viên chạy địa hình, nhà vô địch các giải trail cũng như ba người đồng bào dân tộc Mông có khả năng lần theo dấu chân được chia vào các tổ tìm kiếm. "Nhóm tôi truy vết từ dấu chân, vết cây gãy, dấu gậy trên đất và cả những dấu vết nhỏ nhất trong rừng," anh nói.
Lực lượng được chia thành nhiều mũi, trong đó một mũi bám đường mòn, một mũi đi theo suối để lần dấu. Theo anh Khoa, chính hướng đi theo suối đã mang lại những dấu hiệu quan trọng khi phát hiện các vết trượt, dấu di chuyển và dấu vết đồ ăn như vỏ bánh.
Từ độ cao 1.300 m xuống là khu vực suối đá, việc di chuyển đặc biệt nguy hiểm với nhiều đoạn sạt lở và hai bên dựng đứng, nhưng các nhóm vẫn duy trì tìm kiếm xuyên đêm nhờ kinh nghiệm chạy ultra trail.
"Tôi từng chạy 100 km, 160 km nên quen với việc đi đêm," anh Khoa nói. Trước khi tìm thấy Tuấn Anh, các nhóm đưa ra nhiều kịch bản khác nhau, từ kiệt sức, mất ý thức đến tình huống xấu hơn, nhưng nguyên tắc chung là không chủ quan và không bỏ sót khu vực nào.
Khoảng hơn 7 giờ sáng, khi các mũi tìm kiếm thu hẹp phạm vi, các nhóm bắt đầu gọi lớn tên nạn nhân giữa rừng. "Lúc đó tôi gần sát khu vực rồi, vừa đi vừa gọi tên," anh kể. Không lâu sau, nam sinh được tìm thấy trong tình trạng kiệt sức nhưng vẫn tỉnh táo.
Theo lời kể của Tuấn Anh sau khi được tìm thấy, cậu đã bị tách đoàn, đi nhầm đường và mất liên lạc do điện thoại hết pin. Trong quá trình di chuyển, nam sinh kể nhiều lần trượt ngã ở khu vực suối đá, có lúc phải bám vào đá để xuống dốc, nhưng vẫn cầm cự qua đêm nhờ áo mưa chuyên dụng và bánh mang theo.
Tìm được nam sinh còn sống nguyên lành, mọi người nhẹ nhõm quên hết mệt mỏi. Hàng trăm con người xa lạ đã cùng chung một mục tiêu, vượt qua gian nan xuyên đêm tìm kiếm đồng bào giữa núi rừng sương lạnh. Thượng tá Phan Văn Thực đánh giá lực lượng công an, quân đội, kiểm lâm đã thực hiện nhiệm vụ đúng chức trách, trong khi điểm đáng chú ý nhất là sự tham gia rất lớn của cộng đồng tự phát khi lúc cao điểm nhất lên tới hàng chục người. Người dân địa phương khi biết tin cũng đã mang thực phẩm đến trung tâm chỉ huy để tiếp tế cho các lực lượng.
"Tôi đánh giá rất cao tinh thần cộng đồng. Rất nhiều bạn trẻ, các nhóm leo núi, trekking từ Hà Nội, Hải Phòng, Ninh Bình, Phú Thọ... đã chủ động liên hệ xin tham gia, đi xuyên đêm để hỗ trợ tìm kiếm", ông nói.
Tin Gốc: Vnexpress
Thời Sự
Dự báo dân số Việt Nam giảm mạnh: Người trẻ nói 'phải lo được cho con mới dám sinh'

Ngay sau khi bài viết Dự báo dân số Việt Nam năm 2200 còn 46 triệu người, 'siêu già' từ năm 2040 đăng trên Báo Thanh Niên (ngày 9.4.2026) - chủ đề này đã nhanh chóng thu hút sự quan tâm của độc giả với hàng trăm lượt tương tác trên fanpage của báo cùng nhiều bình luận dưới bài viết và trên mạng xã hội. Đáng chú ý, câu chuyện dự báo dân số giảm mạnh vẫn tiếp tục là chủ đề chưa hạ nhiệt được đông đảo bạn đọc bàn luận.
Bên cạnh mối quan tâm về dự báo dân số Việt Nam và xu hướng già hóa dân số tại nhiều quốc gia phát triển trong tương lai, không ít bạn đọc đã thẳng thắn chia sẻ về bài toán sinh con, nuôi con giữa bối cảnh chi phí ngày càng cao.
Đáng chú ý, bạn đọc "CK Nguyen" đưa ra một phép tính khá chi tiết về chi phí nuôi dạy con tại đô thị lớn như TP.HCM. Theo bạn đọc này, ngay cả trong kịch bản chi tiêu tiết kiệm, để nuôi 1 con từ nhỏ đến hết đại học, gia đình cũng phải chuẩn bị khoảng 1,2 - 1,8 tỉ đồng; nếu nuôi 2 con, số tiền có thể lên tới 2,4 - 3,6 tỉ đồng.
Trong đó, giai đoạn 6 - 18 tuổi được xem là tốn kém nhất, với tổng chi phí ước tính khoảng 600 triệu - 1,2 tỉ đồng, chưa kể những khoản khác như học thêm, học ngoại ngữ, kỹ năng, thiết bị học tập hay chăm sóc sức khỏe. Riêng 4 năm đại học, học phí và sinh hoạt cũng có thể tiêu tốn thêm khoảng 200 - 500 triệu đồng.
Từ phép tính này, bạn đọc CK Nguyen cho rằng đây mới chỉ là mức chi tối thiểu, qua đó bày tỏ nỗi lo trước áp lực tài chính kéo dài trong hành trình sinh con, nuôi dạy con.
Bạn đọc "Minh Nguyen" chia sẻ rất yêu trẻ nhưng chần chừ trước quyết định sinh con. Theo bạn đọc này, nuôi con không chỉ là lo ăn học, mà còn cần thời gian, công sức để đồng hành, dạy dỗ con nên người. Đồng thời, bạn đọc cho rằng việc sinh con không thể trông chờ vào suy nghĩ “trời sinh voi, trời sinh cỏ”.
“Có những điều không thể giải quyết chỉ bằng tiền. Phải lo được cho con thì tôi mới dám sinh, không chỉ đủ điều kiện kinh tế, mà còn phải có thời gian để chăm sóc, đồng hành và dạy dỗ con”, bạn đọc bày tỏ.
Trong khi đó, bạn đọc "Hung Cuong" nhắc đến thực tế thu nhập còn thấp là rào cản lớn khiến nhiều người không dám sinh con. Theo bạn đọc này, với mức thu nhập khoảng 6 triệu đồng/tháng, việc trang trải cuộc sống cá nhân đã không dễ, nên chuyện lập gia đình, sinh con và bảo đảm điều kiện nuôi dạy con càng trở thành bài toán khó. “Ngay cả nuôi bản thân còn chật vật nên chuyện sinh con càng khó tính toán”, bạn đọc bày tỏ.
Chị Ái Trinh (30 tuổi, ở phường Thủ Đức, TP.HCM) hiện đã có 2 con nhỏ, cho biết từng nghĩ đến chuyện sinh thêm con thứ ba. Thế nhưng, mong muốn ấy phải gác lại trước áp lực áp lực kinh tế và thời gian.
Theo chị Trinh, nỗi lo lớn nhất không chỉ là chuyện sinh thêm một đứa trẻ, mà là làm sao bảo đảm điều kiện nuôi dạy con chu đáo trong bối cảnh chi phí sống ở đô thị ngày càng đắt đỏ.
"Vợ chồng tôi đều đi làm, thu nhập không thấp nhưng chi phí nuôi 2 con đã rất lớn, từ học hành, ăn uống đến các khoản phát sinh. Nếu sinh thêm, tôi không chắc có đủ thời gian chăm sóc con hay không, chưa kể áp lực công việc và nguy cơ ảnh hưởng thu nhập", chị Trinh nói.
Còn bạn đọc Trung Nguyên chia sẻ: khi bàn về chuyện sinh con, điều nên đặt lên trước là làm sao để một đứa trẻ được sinh ra trong hạnh phúc, chứ không phải sinh con như một chỗ dựa để cha mẹ thấy yên lòng hơn về sau. Theo bạn đọc này, đó là hai cách nghĩ hoàn toàn khác nhau...
Giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Thiện Nhân, nguyên Bí thư Thành ủy TP.HCM cho rằng chuyện sinh con ngày nay không còn chỉ là việc riêng của mỗi gia đình, mà gắn trực tiếp với quy mô lao động, quy mô dân số và sự phát triển bền vững của đất nước. Theo ông, người lao động có “vai trò kép”: vừa trực tiếp tạo ra của cải cho xã hội, vừa tạo ra thế hệ lao động tiếp theo cho đất nước.
Ông nhấn mạnh, một trong những điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là thu nhập không theo kịp chi phí nuôi con. Theo phân tích của ông, tại nhiều nước vẫn còn khoảng 35 - 45% người lao động có mức lương dưới ngưỡng đủ sống tối thiểu - tức mức lương thấp nhất để một gia đình có 2 người đi làm có thể nuôi 2 vợ chồng và 2 con, cho con đi học đến 18 tuổi và học được một nghề. Với mức thu nhập đó, họ không đủ điều kiện tài chính để sinh và nuôi 2 con đến tuổi trưởng thành.
Theo ông Nhân, cái gốc của câu chuyện ngại sinh con nằm ở chỗ đã sinh thì phải nuôi được, dạy cho tử tế. Người trẻ sẽ không sinh hoặc chỉ sinh 1 con nếu chưa có đủ những điều kiện cần thiết như thu nhập đủ sống và chỗ ở phù hợp.
Ông nêu rõ: “Họ làm như vậy là đúng quy luật của cuộc sống hiện nay: không nuôi con được tử tế thì đừng sinh con, khác với quan niệm hơn 100 năm trước: trời sinh voi, trời sinh cỏ. Nhưng khi mà một đất nước trên dưới 40% số gia đình hoặc phụ nữ không sinh con hoặc chỉ sinh 1 con, còn hầu hết các gia đình còn lại chỉ sinh 2 con, thì mức sinh bình quân của cả nước không bao giờ đạt mức thay thế 2,1 con. Tỷ lệ tái tạo lao động của đất nước luôn nhỏ hơn 100%”.
Ông cũng phân biệt rõ giữa lương tối thiểu và lương đủ sống tối thiểu. Nếu lương tối thiểu chỉ giúp người lao động tự nuôi bản thân, còn muốn yên tâm sinh con, nuôi con và duy trì một gia đình ổn định, phải có mức lương đủ sống cho cả gia đình.
Bên cạnh đó, từ việc khảo sát hàng loạt công bố, ông Nhân cho rằng mức sinh thấp kéo dài không chỉ do gánh nặng chi phí sống, thiếu dịch vụ chăm trẻ, thời gian làm việc quá dài hay điều kiện lao động chưa thuận lợi cho phụ nữ, mà còn bắt nguồn từ sự suy giảm cả động lực cá nhân lẫn động lực xã hội đối với hôn nhân và sinh con.
Ông chỉ ra xu hướng “3 không” trong một bộ phận thanh niên: không kết hôn, không sinh con, không thấy có trách nhiệm phải kết hôn và sinh con. Từ đó, ông Nhân cho rằng các chính sách khuyến sinh sẽ khó hiệu quả nếu không xử lý đúng các điểm nghẽn cốt lõi.
Theo ông, nhiều Chính phủ đã chi hàng tỉ, chục tỉ USD mỗi năm để khuyến khích kết hôn và sinh con, nhưng mức sinh vẫn tiếp tục giảm. Nguyên nhân là các chương trình hỗ trợ này có tác dụng rất hạn chế, do mức hỗ trợ quá nhỏ so với nhu cầu tài chính để nuôi dạy 2 con đến tuổi trưởng thành.
Ông lý giải, nhiều Chính phủ đã chi rất nhiều chi phí để khuyến khích kết hôn, sinh con nhưng hiệu quả vẫn hạn chế do mức hỗ trợ còn quá nhỏ so với gánh nặng thực tế, trong khi các vấn đề nền tảng chưa được giải quyết. Đó là thu nhập của một bộ phận người dân không đủ nuôi 2 con ăn học đàng hoàng tới 18 tuổi; thiếu trường mầm non công lập với chi phí vừa phải; chi phí nhà quá cao; bất bình đẳng giới tồn tại dai dẳng trong việc nhà và trả lương.
Bên cạnh đó là điều kiện làm việc khắc nghiệt với phụ nữ, khiến cơ hội thăng tiến bị ảnh hưởng tiêu cực khi họ có con; chi phí điều trị vô sinh cao, vượt quá khả năng chi trả của nhiều cặp vợ chồng; môi trường xã hội chưa thân thiện với trẻ em và phụ nữ làm mẹ.
Ngoài ra, nhiều nơi cũng chưa có nội dung giáo dục về trách nhiệm công dân đối với tương lai, sự phát triển của đất nước, cũng như giáo dục về hạnh phúc gia đình và cách xây dựng gia đình hạnh phúc.

