Trên cơ sở nguyên trạng toàn bộ diện tích tự nhiên và quy mô dân số của xã Dầu Giây, đề án thành lập phường Dầu Giây đã được HĐND tỉnh Đồng Nai thông qua tại kỳ họp thứ 1, HĐND khóa XI, nhiệm kỳ 2026 – 2031 ngày 28.3 vừa qua.
Dầu Giây được xác định là không gian đô thị mở rộng, đóng vai trò hỗ trợ, kết nối và giảm tải cho các đô thị động lực của tỉnh Đồng Nai.
Xã Dầu Giây hiện có các tuyến giao thông huyết mạch đi qua như quốc lộ 1A, quốc lộ 20, các tuyến cao tốc TP.HCM – Long Thành – Dầu Giây, Dầu Giây – Phan Thiết, Dầu Giây – Tân Phú. Hệ thống giao thông nội vùng như ĐT769, ĐT780B cùng các tuyến đường kết nối với sân bay Long Thành cũng đang tiếp tục được đầu tư, mở rộng.
Với lợi thế mà không phải địa phương nào cũng có được, Dầu Giây đang hội tụ các điều kiện để trở thành điểm trung chuyển hàng hóa giữa TP.HCM, Đồng Nai, Lâm Đồng và kéo dài ra đến các tỉnh duyên hải miền Trung… Đây là nền tảng quan trọng để địa phương phát triển mạnh về ngành logistics.
Ông Nguyễn Lê Trường Sơn, Phó chủ tịch UBND xã Dầu Giây cho hay: “Sau khi chính thức lên phường, địa phương sẽ tập trung đầu tư hoàn thiện hạ tầng giao thông kết nối liên vùng và nội khu, ưu tiên hạ tầng logistics, kho bãi, bãi đỗ xe và trung tâm trung chuyển. Đồng thời, phát triển hạ tầng số, phục vụ quản lý và kinh doanh và khai thác hiệu quả vị trí cửa ngõ giao thông để thu hút doanh nghiệp. Hình thành các khu dịch vụ, thương mại gắn với các trục giao thông chính”.
Song song với logistics, lĩnh vực thương mại – dịch vụ cũng đang phát triển mạnh nhờ lợi thế giao thông liên kết. Hiện trên địa bàn xã có chợ đầu mối nông sản, thực phẩm, 6 chợ truyền thống, cùng hơn 2.000 hộ kinh doanh hoạt động.
Những yếu tố này không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng tại chỗ mà còn góp phần hình thành hệ sinh thái dịch vụ gắn với lưu thông hàng hóa, tạo nền tảng cho phát triển các dịch vụ logistics, phân phối và thương mại quy mô lớn.
Bên cạnh logistics và thương mại, công nghiệp cũng là trụ cột quan trọng trong cơ cấu kinh tế của Dầu Giây. Theo thống kê, giá trị sản xuất công nghiệp – xây dựng hiện nay chiếm đến 83% tổng giá trị sản phẩm trên địa bàn.
Khu công nghiệp Dầu Giây với diện tích hơn 330 ha hiện nay đã đạt tỷ lệ lấp đầy trên 92%, thu hút 29 doanh nghiệp. Trong khi đó, giai đoạn 2 với diện tích 145 ha đang được Ban quản lý các khu công nghiệp, khu kinh tế tỉnh lập quy hoạch chi tiết xây dựng để mời gọi nhà đầu tư.
Không chỉ dừng lại ở công nghiệp thuần túy, định hướng phát triển của địa phương là gắn công nghiệp với dịch vụ logistics và chuỗi cung ứng. Điều này cho phép nâng cao giá trị gia tăng, đồng thời tạo ra hệ sinh thái kinh tế liên hoàn và việc làm cho người dân địa phương.
Ông Nguyễn Lê Trường Sơn cho biết, địa phương sẽ xây dựng môi trường đầu tư minh bạch, thuận lợi để thu hút doanh nghiệp vào các lĩnh vực tiềm năng, có chọn lọc, ưu tiên các ngành dịch vụ, logistics, công nghiệp sạch.
“Quá trình đô thị hóa nhanh có thể gây áp lực lớn lên hạ tầng giao thông, môi trường và các dịch vụ công nếu không được chuẩn bị đồng bộ; nguy cơ phát triển tự phát về đất đai, xây dựng có thể làm phá vỡ quy hoạch… đòi hỏi địa phương phải có giải pháp quản lý phù hợp, chủ động và lâu dài”, ông Sơn nhận định.
Từ những “bài toán” đặt ra, xã Dầu Giây cũng đã đưa ra các giải pháp cụ thể như rà soát, hoàn thiện quy hoạch đô thị; quản lý chặt chẽ đất đai; đầu tư hạ tầng đi trước một bước, đặc biệt là giao thông và môi trường; đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi số và cải cách hành chính…
Bên cạnh đó, địa phương cũng sẽ tận dụng Trường đại học Công nghệ Miền Đông, Trung tâm giáo dục nghề nghiệp – giáo dục thường xuyên đứng chân trên địa bàn để nâng cao chất lượng lao động. Đặc biệt là nguồn nhân lực các ngành dịch vụ, logistics và công nghiệp, qua đó đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới, tạo việc làm và nâng cao thu nhập và góp phần chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp.
Theo thống kê, năm 2025, thu nhập bình quân đầu người của xã đạt 92,4 triệu đồng/người/năm. Cao hơn mức bình quân của tỉnh Đồng Nai (86 triệu đồng/người/năm).
Dầu Giây đang từng bước định hình vai trò là trung tâm dịch vụ, logistics và công nghiệp của tỉnh Đồng Nai. Việc thành lập phường không chỉ là dấu mốc hành chính, mà còn là cơ hội để địa phương phát huy tối đa lợi thế, tạo ra động lực tăng trưởng mới và bền vững trong tương lai.
Ngày 21/4, tại TPHCM, Cục Đăng ký Giao dịch bảo đảm và Bồi thường Nhà nước tổ chức tọa đàm Tổng kết thực tiễn thi hành Nghị định số 99/2022/NĐ-CP ngày 30/11/2022 của Chính phủ về đăng ký biện pháp bảo đảm.
Báo cáo dẫn đề tại tọa đàm, bà Nguyễn Thị Thu Hằng, Phó Cục trưởng Cục Đăng ký giao dịch bảo đảm và Bồi thường Nhà nước, Bộ Tư pháp, cho biết, sau 3 năm thực hiện, việc thi hành Nghị định số 99 đã đạt được những kết quả quan trọng, vị thế của đăng ký biện pháp bảo đảm ngày càng được khẳng định, nhận thức của cơ quan quản lý Nhà nước, tổ chức, cá nhân về ý nghĩa và tầm quan trọng của việc đăng ký biện pháp bảo đảm ngày càng được nâng cao. Qua đó, Nghị định đã góp phần tăng cường khả năng và cơ hội tiếp cận tín dụng cho người dân và doanh nghiệp, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển.
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, bà Hằng cũng nêu ra một số tồn tại, hạn chế. Theo bà Hằng, tại một số địa phương, Sở Tư pháp, Sở Nông nghiệp và Môi trường còn gặp khó khăn và chưa phát huy hết vai trò trong triển khai thực hiện nhiệm vụ giúp UBND cấp tỉnh thực hiện công tác quản lý Nhà nước về đăng ký biện pháp bảo đảm.
Trong công tác đăng ký vẫn còn sự chưa thống nhất trong áp dụng quy định của Nghị định về một số vấn đề cụ thể dẫn đến một số trường hợp, Văn phòng đăng ký từ chối đăng ký chưa đúng căn cứ theo quy định của Nghị định. Trong một số trường hợp, việc tiếp nhận, giải quyết hồ sơ đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất của cơ quan đăng ký vẫn tồn tại một số sai sót nghiệp vụ.
Bên cạnh đó, đối với đăng ký biện pháp bảo đảm bằng động sản, do tính chất đa dạng, việc xác định đúng loại tài sản và mô tả tài sản bảo đảm, đặc biệt đối với các tài sản có tính chất đặc thù như hàng hóa luân chuyển, công trình tạm, quyền tài sản của người yêu cầu đăng ký trong một số trường hợp chưa thực sự chính xác, chưa phù hợp với quy định dẫn đến số lượng hồ sơ bị từ chối vẫn ở mức đáng kể.
Ngoài ra, Nghị định chưa kịp thời điều chỉnh các vấn đề pháp lý mới trong bối cảnh đẩy mạnh thực hiện chuyển đổi số, về đơn giản hóa thủ tục hành chính, đẩy mạnh cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình; quy định một thời hạn giải quyết hồ sơ đăng ký tại Nghị định áp dụng chung cho các cơ quan đăng ký bằng các loại tài sản là chưa thực sự phù hợp; Nghị định thiếu quy định điều chỉnh các vấn đề phát sinh theo yêu cầu phát triển của mô hình kinh tế mới, kinh doanh dựa trên công nghệ và nền tảng số, đặc biệt là công nghệ tài chính, trí tuệ nhân tạo, tài sản ảo, tiền ảo, tài sản mã hóa, tiền mã hóa, thương mại điện tử.
Tại tọa đàm, nhiều đại biểu tham dự đã có những tham luận, phản ánh về những bất cập liên quan trực tiếp đến từng lĩnh vực mình phụ trách. Trong đó, TS Nguyễn Duy Tịnh, Giám đốc Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại TPHCM, đánh giá bên cạnh những mặt đạt được, Nghị định cũng bộc lộ các hạn chế mang tính cầu trúc của hệ thống pháp luật hiện hành.
Theo ông Tịnh, mô hình đăng ký phân tán theo ngành, lĩnh vực làm suy giảm hiệu quả công khai, minh bạch thông tin; cơ chế thu phí thủ công chưa thích ứng với điều kiện vận hành trong môi trường số. Đồng thời, ông đánh giá sự thiếu hụt quy định pháp lý đối với các loại tài sản mới, đặc biệt là tài sản số, đang trở thành rào cản đối với việc mở rộng và phát triển thị trường giao dịch đảm bảo.
Ghi nhận ý kiến của các đại biểu tham dự, ông Lê Vệ Quốc, Cục trưởng Cục Đăng ký giao dịch bảo đảm và Bồi thường Nhà nước, Bộ Tư pháp, khẳng định tất cả phát biểu về khó khăn, vướng mắc của các đại biểu sẽ được Ban tổ chức tổng hợp. Sau đó, lĩnh vực nào thuộc Cục Đăng ký giao dịch bảo đảm và Bồi thường Nhà nước thì đơn vị sẽ giải quyết triệt để; còn liên quan đến các cơ quan chức năng khác, đơn vị sẽ trao đổi để giải quyết sớm nhất.
“Những gì thực tiễn đang diễn ra về khó khăn, vướng mắc mà các đại biểu đã phát biểu hôm nay, tôi sẽ cam kết tìm mọi cách đưa vào trong lần sửa đổi Nghị định 99, để giải quyết tất cả kiến nghị, đảm bảo lĩnh vực đăng ký biện pháp bảo đảm sẽ được thực hiện nhanh chóng”, ông Quốc nhấn mạnh.
Bộ Tư pháp đang thẩm định hồ sơ dự thảo Nghị định điều chỉnh lương cơ sở và chế độ tiền thưởng với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang do Bộ Nội vụ xây dựng. Cơ quan soạn thảo đề xuất mức tăng lương cơ sở từ 2,34 lên 2,53 triệu đồng từ ngày 1/7. Lý do mức hiện hành chỉ bằng 56% lương tối thiểu vùng bình quân khu vực doanh nghiệp, hệ thống bảng lương cũng thấp khiến đời sống công chức, viên chức và lực lượng vũ trang còn nhiều khó khăn.
Các nhóm thụ hưởng gồm cán bộ, công chức từ Trung ương đến cấp xã; viên chức đơn vị sự nghiệp công lập; lao động hợp đồng trong cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập; người làm việc trong các hội được ngân sách hỗ trợ; lực lượng vũ trang và người làm việc trong tổ chức cơ yếu; cùng người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố.
Góp ý cho dự thảo, hàng loạt địa phương như Lai Châu, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Quảng Ngãi, Đăk Lăk, Tây Ninh, Vĩnh Long, Cần Thơ, Cà Mau đề xuất cơ quan soạn thảo trình Chính phủ tăng cao hơn mức 2,53 triệu đồng nhằm đảm bảo đời sống công chức, bù đắp trượt giá, giữ chân người tài, đồng thời tiếp tục nghiên cứu cải cách chính sách tiền lương phù hợp vị trí việc làm.
Đại diện Lai Châu cho biết lương cơ sở dự kiến 2,53 triệu đồng mỗi tháng "chỉ bằng khoảng 56,6% mức lương tối thiểu vùng trong khu vực doanh nghiệp năm 2026", chưa đảm bảo đời sống của cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang. Sau sắp xếp bộ máy, khối lượng công việc tại cấp xã phường tăng, yêu cầu nhiệm vụ ngày càng cao. Trong khi thu nhập của cán bộ công chức viên chức còn thấp, giá cả hàng hóa tăng cao, tiền lương chưa đáp ứng nhu cầu chi tiêu thiết yếu của gia đình họ dẫn đến lực lượng này chưa yên tâm công tác, đồng thời không thu hút được người có năng lực, trình độ cao vào khu vực công.
Đại diện Đăk Lăk cũng nhận định mức tăng 8% chưa thực sự tương xứng với tốc độ trượt giá và biến động thị trường, khó đảm bảo mức sống cơ bản cho cán bộ, công chức trong điều kiện chi phí sinh hoạt không ngừng "leo thang". "Đề nghị Bộ Nội vụ xem xét trình Chính phủ điều chỉnh lương cơ sở cao hơn mức 8% hoặc có lộ trình tăng lương phù hợp nhằm tạo động lực và giúp đội ngũ yên tâm công tác", tỉnh này kiến nghị.
Ngoài đề xuất tăng cao hơn mức trên, TP Cần Thơ đề nghị cơ quan soạn thảo khi điều chỉnh mức lương cơ sở cần bám sát tinh thần cải cách tiền lương nhằm từng bước nâng cao đời sống đội ngũ cán bộ công chức; thu hút và giữ chân nhân lực chất lượng cao trong khu vực công bởi còn khoảng cách đáng kể so với ngoài nhà nước.
Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng cho rằng mức điều chỉnh như trên thì tiền lương thấp nhất của cán bộ công chức, viên chức vẫn thấp hơn mức lương tối thiểu vùng bình quân khu vực doanh nghiệp nên chưa đảm bảo tương quan với thị trường lao động. Cơ quan này đề nghị Bộ Nội vụ làm rõ khoảng cách tiền lương giữa khu vực công và khối doanh nghiệp, mức độ đáp ứng nhu cầu sống tối thiểu của cán bộ, công chức, viên chức sau điều chỉnh để có mức tăng phù hợp hơn. Tăng lương cơ sở là cần thiết và phù hợp song cần bổ sung quy định mang tính chuyển tiếp gắn với lộ trình cải cách tiền lương trả theo vị trí việc làm.
Trong khu vực công, lương cơ sở là căn cứ tính lương trong bảng lương, phụ cấp và các chế độ khác theo công thức lương = lương cơ sở x hệ số lương. Đây cũng là cơ sở để tính hoạt động phí, sinh hoạt phí và các khoản trích theo quy định.
Ví dụ, một công chức A3 nhóm 2 bậc 1, hưởng hệ số lương 5,75 thì tiền lương của người này trước khi điều chỉnh của người này là 13,455 triệu đồng; sau điều chỉnh sẽ tăng lên 14,547 triệu đồng. Tiền lương trên chưa bao gồm phụ cấp.
Tại khu vực doanh nghiệp, lương tối thiểu vùng hiện hành vùng 1 là 5,31 triệu đồng với vùng I; 4,73 triệu đồng vùng II; 4,14 triệu đồng vùng III và 3,7 triệu đồng vùng IV. Đây là mức sàn để doanh nghiệp và người lao động thỏa thuận trả lương trong điều kiện làm việc tối thiểu.
Dù cao hơn lương cơ sở khu vực công, song đây là mức thấp nhất để người lao động và chủ sử dụng lao động thỏa thuận, đảm bảo không được trả thấp hơn mức trên. Thu nhập của lao động khu vực này gồm tiền lương tháng, phụ cấp và một số khoản bổ sung theo hiệu suất công việc. Cục Thống kê công bố thu nhập bình quân của lao động làm công hưởng lương trong quý I/2026 là 10 triệu đồng.
Tổ chức Lao động quốc tế ILO tại Việt Nam phân tích giai đoạn 2015-2022, lương tối thiểu danh nghĩa của lao động khu vực doanh nghiệp tăng từ 119 USD lên 168 USD mỗi tháng nhưng giá trị thực tăng chậm do lạm phát. Giai đoạn 2015-2019, lương danh nghĩa tăng 42,7% nhưng thực tế chỉ tăng 20,1%; từ 2020-2022, lương danh nghĩa tăng hơn 6%, song thực tế chỉ tăng 0,7%.
Sáng 21-4, nêu ý kiến thảo luận, đại biểu Nguyễn Đặng Ân (Lạng Sơn) cho hay sau sắp xếp, cấp xã hiện đi vào hoạt động dần ổn định và hiệu quả. Việc phục vụ người dân, doanh nghiệp thuận lợi hơn.
Song, theo đại biểu Nguyễn Đặng Ân, việc bố trí nhân lực, cơ cấu tổ chức cũng bộc lộ một số bất cập cần điều chỉnh kịp thời để bộ máy hoạt động hiệu quả hơn.
Ông nêu cấp xã hiện nay có 2 phòng là Phòng Kinh tế và Phòng Văn hóa - Xã hội không chuyên sâu, một phòng chịu sự hướng dẫn chuyên môn của 5 - 6 sở dẫn đến quá tải.
Vì vậy, việc tổ chức các phòng theo Nghị định 370 của Chính phủ rất cần sớm có văn bản hướng dẫn, định hướng để đảm bảo thống nhất, đồng bộ.
Ông chỉ rõ cán bộ, công chức cấp xã một số nơi còn thiếu về số lượng và rất thiếu công chức có chuyên môn sâu như xây dựng, giao thông, công nghệ thông tin.
Trong khi chức năng, nhiệm vụ, khối lượng công việc rất lớn và thực hiện trực tiếp với người dân, doanh nghiệp nhiều hơn so với cấp xã trước sắp xếp. Từ đó, ông đề nghị cần đào tạo, đào tạo lại để đáp ứng yêu cầu.
Đồng thời biên chế các đơn vị như y tế, giáo dục ở địa phương đang thiếu, chịu áp lực chỉ tiêu giảm biên chế nên rất cần rà soát tổng thể để giao biên chế phù hợp...
Ông nêu thêm theo công văn 12 của Ban Chỉ đạo Chính phủ hướng dẫn một số nội dung với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, các tỉnh đã phê duyệt danh sách người hoạt động không chuyên trách nghỉ theo Nghị định 154 tại thời điểm 1-7-2025.
Riêng Lạng Sơn hiện còn trên 330 trường hợp đang được bố trí hỗ trợ công việc tại các phòng, cơ quan, đơn vị cấp xã. Ông cho rằng việc này rất cần hướng dẫn cụ thể, xem đến 31-5-2026 sẽ bố trí thế nào.
Với thôn, tổ dân phố, sau khi sắp xếp lại, ông nêu rõ nhiều thôn được chuyển thành tổ dân phố sau khi sáp nhập giữa các xã với phường để thành lập phường khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.
Do đó, quy mô dân số các tổ dân phố này thấp, nếu áp dụng tiêu chuẩn từ 200 hộ hoặc cao hơn nữa, với các tỉnh miền núi sẽ không phù hợp vì diện tích các khối thuộc phường rất rộng.
Ông dẫn chứng ở Lạng Sơn, có những khối phố rộng 6,44km2 nhưng chỉ có 75 hộ dân. Nếu tiếp tục sáp nhập, diện tích một khối phố có thể lên đến hơn 10km2.
Trong khi hạ tầng giao thông, hạ tầng công nghệ thông tin chưa đáp ứng tốt thì bí thư, trưởng khối rất khó có thể bao quát được công việc.
Từ đó, ông đề nghị xem xét bổ sung tiêu chuẩn tổ dân phố hình thành do thực hiện sáp nhập giữa xã và phường phải chuyển từ thôn thành tổ dân phố để phù hợp thực tiễn.
Ông kiến nghị Chính phủ sớm ban hành nghị định quy định về hoạt động của thôn, tổ dân phố, chế độ chính sách với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố.
Việc này để địa phương kịp thời tham mưu các nội dung về sắp xếp thôn, tổ dân phố, ban hành các quy định chế độ, chính sách với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố.
"Việc tiếp tục tinh gọn thôn, tổ dân phố theo chỉ đạo của Thủ tướng rất cần các địa phương tiến hành ngay, và các chính sách kèm theo cần ban hành đồng bộ, kịp thời", ông Ân nói thêm.
Trước đó, thảo luận chiều 20-4, đại biểu Hà Sỹ Huân (Thái Nguyên) nêu hiện một trưởng phòng kinh tế - hạ tầng hoặc trưởng phòng đô thị, hạ tầng đô thị hoặc trưởng phòng văn hóa - xã hội phải tham mưu nhiều việc, nhiệm vụ của 6 hoặc 7 sở, ngành, lĩnh vực.
Điều này làm gia tăng áp lực khá lớn về trách nhiệm pháp lý đòi hỏi công chức, lãnh đạo phải đáp ứng năng lực chuyên môn nghiệp vụ toàn diện phù hợp yêu cầu nhiệm vụ.
Tuy nhiên mức phụ cấp chức vụ của cán bộ, công chức cấp xã còn thấp, chưa xứng đáng với tính chất công việc đang đảm nhiệm và có khoảng cách khá xa so với mức phụ cấp của công chức quản lý cấp tỉnh.
Ông dẫn chứng trưởng phòng cấp xã, phường được hưởng phụ cấp là 0,25, cấp phó phòng là 0,15. Với cấp tỉnh, trưởng phòng hưởng phụ cấp 0,5, phó phòng 0,3 lần mức lương cơ sở.
Vì vậy đề nghị Chính phủ có đánh giá tổng thể chế độ chính sách tiền lương, phụ cấp với cán bộ, công chức cấp xã và sớm có giải pháp đồng bộ để họ yên tâm công tác...