Mục Lục
ToggleMột vụ tai nạn đường sắt nghiêm trọng xảy ra vào trưa 5.4 tại Km1592 trên tuyến đường sắt Bắc – Nam, đoạn qua thôn 9, xã Tân Minh, tỉnh Lâm Đồng (huyện Hàm Tân, Bình Thuận cũ). Vị trí tai nạn nằm giữa 2 ga Sông Phan – Sông Dinh, khu vực giáp ranh huyện Tánh Linh cũ.
Theo thông tin ban đầu, ô tô biển số 86A-106.xx do ông P.H (66 tuổi, ở xã Sơn Mỹ) điều khiển, chở theo 3 người thân, lưu thông từ đường ĐT720 vào khu vực rừng của huyện Tánh Linh cũ.
Khi ô tô lưu thông đến vị trí đường ngang tự mở và băng qua đường sắt thì va chạm với tàu hỏa (số hiệu HH10) chở hàng từ Bắc vào Nam. Cú va chạm trúng phần hông sau ô tô khiến 3 người trên xe bị thương.
Tại hiện trường, ô tô bị văng ra khỏi đường sắt, phần đuôi hư hỏng nặng. Tàu hàng dừng lại để xử lý vụ việc, sau khoảng 30 phút thì tiếp tục hành trình.
Trạm Cảnh sát giao thông Hàm Tân, thuộc Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Lâm Đồng, đã có mặt tại hiện trường, phối hợp với ngành đường sắt tổ chức khám nghiệm, điều tra nguyên nhân vụ tai nạn đường sắt.
Thời gian gần đây, lực lượng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Lâm Đồng liên tục cảnh báo tình trạng nhiều phương tiện cố tình băng qua đường sắt, tiềm ẩn nguy cơ tai nạn giao thông, đồng thời xử phạt nhiều trường hợp vi phạm.
Lời kể ám ảnh vụ xe khách mất phanh ở Lâm Đồng khiến 4 người chết

Sáng 7/4, tại khoa cấp cứu Bệnh viện đa khoa Bình Thuận, anh Đỗ Tuấn Kiệt (SN 2003, trú xã Phan Rí Cửa), một trong những người bị thương với chẩn đoán gãy xương đòn, vẫn còn run khi kể lại vụ tai nạn chiều hôm trước.
Chia sẻ với Dân trí, anh Kiệt cho biết, nhóm 16 ngư dân trên xe đều cùng quê xã Chí Công cũ, nay là xã Phan Rí Cửa, làm nghề lặn sò thuê cho một chủ tàu địa phương. Hàng ngày, họ được xe hợp đồng đưa đón từ nhà vào khu vực La Gi để xuống ghe ra biển làm việc, đến đầu giờ chiều cùng ngày quay về.
“Chiều hôm đó, xe đến đón như mọi ngày. Sau khi lên xe, ai cũng mệt nên nằm nghỉ, nhiều người ngủ thiếp đi”, anh Kiệt kể.
Khi xe chạy từ hướng Mũi Né về Phan Rí, đến khu vực ngã ba Bàu Trắng (xã Hòa Thắng), anh Kiệt nhận thấy phương tiện có dấu hiệu bất thường khi không giảm tốc, chạy thẳng thay vì rẽ.
“Tôi thấy lạ nên hỏi thì tài xế bất ngờ la lên xe mất thắng”, anh Kiệt nhớ lại.
Tiếng tri hô khiến nhiều người giật mình tỉnh giấc. Không khí trên xe lập tức trở nên hỗn loạn, hoảng loạn bao trùm. Một số người tìm cách bám víu, số khác cố gắng mở cửa thoát thân.
“Chỉ trong chưa đầy một phút, xe lao rất nhanh xuống dốc. Mọi thứ diễn ra quá nhanh, ai cũng hoảng sợ”, anh Kiệt nói.
Theo lời nạn nhân, cú va chạm mạnh khiến chiếc xe vỡ nát, nhiều người bị văng ra ngoài, một số mắc kẹt bên trong. Các bao sò chất trên xe đổ dồn, đè lên người khiến nhiều nạn nhân bị thương nặng hơn.
Trong lúc hỗn loạn, anh Kiệt hoảng sợ tìm cách nhảy ra ngoài xe. Sau cú tiếp đất, anh bị chấn thương vùng vai, đau dữ dội và nhanh chóng được đưa đi cấp cứu.
“Hiện tình trạng của em đã đỡ hơn, các bác sĩ đang theo dõi thêm”, anh Kiệt cho biết.
Trước đó, tối 6/4, ông Nguyễn Hồng Hải, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng, cùng đại diện các cơ quan, đơn vị đã trực tiếp đến Bệnh viện Đa khoa Bình Thuận thăm hỏi các nạn nhân.
Ông Nguyễn Hồng Hải trao tiền hỗ trợ đến người thân của các nạn nhân với mức 5 triệu đồng/trường hợp tử vong, 2 triệu đồng/người bị thương. Lãnh đạo UBND xã Hòa Thắng cũng trao 3 triệu đồng/trường hợp tử vong; 1 triệu đồng/người bị thương.
Theo thông tin ban đầu từ cơ quan chức năng, tài xế điều khiển phương tiện có giấy phép lái xe hợp lệ, không có nồng độ cồn hay ma túy. Bước đầu, người này khai nhận xe bị hỏng phanh khi đang lưu thông.
Như Dân trí đã đưa tin, vụ tai nạn xảy ra vào khoảng 15h30 ngày 6/4, trên tuyến đường qua thôn Hồng Lâm, xã Hòa Thắng.
Ô tô khách biển số 86H-045.xx do tài xế Trần Thanh Sơn điều khiển, lưu thông hướng Mũi Né - Phan Rí, đến địa điểm trên đột ngột chuyển hướng, lao xuống vực bên đường. Tai nạn làm 4 người tử vong, 10 người phải nhập viện cấp cứu.
4 người tử vong gồm: Đỗ Văn Hải, SN 2004, trú tại thôn Hiệp Đức 2, xã Phan Rí Cửa; Nguyễn Văn Cường, SN 2003, trú tại thôn Hà Thuỷ 1, xã Phan Rí Cửa; Nguyễn Văn Đạt, SN 2013, trú tại thôn Hà Thuỷ 1, xã Phan Rí Cửa; Nguyễn Tấn Khoa, SN 2000, trú tại thôn Hà Thuỷ 3, xã Phan Rí Cửa.
Trong số 10 nạn nhân nhập viện cấp cứu, 4 người bị gãy chân, tay, số còn lại bị thương phần mềm các mức độ khác nhau.
Nguyên nhân vụ tai nạn đang được cơ quan chức năng tiếp tục điều tra.
Bắc Hưng Hải - từ đại thủy nông đến dòng sông chết

Buổi sáng đầu tháng 4, đứng bên con kênh ở phường Hải Dương, TP Hải Phòng, ông Lê Văn Sử buồn bã nhìn dòng nước đen đặc, ruồi nhặng bu vào một số con cá chết lập lờ trên mặt nước. Người đàn ông 85 tuổi không thể ngờ mạch sống của người dân Hải Dương cũng như nhiều tỉnh thành lân cận lại ô nhiễm đến thế.
Mười năm chín hạn
Trước khi công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải được xây dựng, cánh đồng của tỉnh Hải Dương cũ chỗ thì khô hạn kéo dài, chỗ lại ngập úng quanh năm. Nhà ông Sử ở xã Thanh Hồng, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương cũ, vốn đông người, ruộng có nhưng nhiều vụ phải bỏ không vì thiếu nước hoặc vì nước ngập quá lâu không thể cấy lúa. Những mùa giáp hạt trở thành nỗi ám ảnh của ông.
"Cái đói kéo dài hết năm này sang năm khác, nhìn ai cũng gầy gò, ốm yếu, đen đúa", ông Sử nhớ lại những năm 1940-1950.
Vùng Bắc Hưng Hải là đồng bằng rộng hơn 214.000 ha, được bao bọc bởi bốn con sông lớn gồm sông Hồng, Đuống, Luộc và Thái Bình. Lưu vực hệ thống trải dài trên toàn bộ tỉnh Hưng Yên (cũ), phần lớn Hải Dương (cũ), cùng một phần Hà Nội và Bắc Ninh.
Địa hình tương đối thấp, cao trung bình chỉ khoảng 0,5-1 m so với mực nước biển, vốn rất thuận lợi cho canh tác nông nghiệp nếu có nguồn nước ổn định. Tuy nhiên, trong nhiều thập kỷ trước đó, phần lớn ruộng đồng trong vùng vẫn phải phụ thuộc gần như hoàn toàn vào nước mưa.
Những năm hạn hán, đất đồng nứt nẻ, lúa chết khô. Khi mưa lớn hoặc nước sông dâng cao, đồng ruộng lại ngập úng kéo dài khiến mùa màng thất bát. Người dân trong vùng vẫn truyền nhau câu nói "mười năm chín hạn" (10 năm thì hết 9 năm hạn hán) để nói về sự bấp bênh trong sản xuất nông nghiệp.
Nguồn nước sinh hoạt cũng không khá hơn. Ao làng có nước song chua đến mức người lội xuống lâu một chút là rụng cả lông chân. Bệnh ngoài da khá phổ biến. Ông Sử nhớ những lần đi thực tập về quê không dám rửa chân bằng nước ao làng, phải xách nước nuôi cá ở chỗ khác về rửa. Dân gian khi ấy còn truyền nhau câu nói khá nặng nề về vùng đất "sống ngâm da, chết ngâm xương".
Đại thủy nông lớn nhất miền Bắc
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, miền Bắc bước vào giai đoạn khôi phục kinh tế, nhu cầu đảm bảo nước cho sản xuất nông nghiệp trở thành cấp bách. Năm 1956, Chính phủ quyết định xây dựng hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải nhằm đưa nước từ sông Hồng vào tưới tiêu cho vùng đồng bằng rộng lớn.
Theo thiết kế, nước từ sông Hồng qua cống Xuân Quan (Hưng Yên), dẫn theo kênh trục chính rồi tỏa ra mạng lưới kênh nhánh trước khi thoát ra cống An Thổ (Hải Phòng), tạo thành tuyến thủy lợi dài hơn 230 km trên trục chính và hàng nghìn kilomet kênh mương nội đồng. Toàn bộ hệ thống có khoảng 1.900 công trình cống, trạm bơm các loại, đảm bảo khả năng tưới tiêu chủ động cho hơn 130.000 ha đất canh tác trong lưu vực Bắc Hưng Hải.
Trước khi chuẩn bị khởi công, ngày 20/9/1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã về nói chuyện với công nhân và nhân dân trên công trường Bắc Hưng Hải. Bác động viên người dân: "Nay Đảng và Chính phủ quyết định cùng nhân dân xây dựng công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải để đưa nước vào ruộng cho đồng bào. Cán bộ và đồng bào quyết tâm vượt mọi khó khăn, làm cho nhanh, cho tốt. Bây giờ chịu khó phấn đấu mấy tháng, sau này sẽ hưởng hạnh phúc lâu dài hàng trăm năm".
Ngày 1/10/1958, công trình khởi công. Hàng chục nghìn bộ đội, dân công, học sinh, sinh viên và cán bộ từ nhiều địa phương tham gia đào kênh, đắp đập và xây dựng các cống, trạm bơm điều tiết nước. Ở làng gốm Bát Tràng, gần 150 hộ dân tự nguyện dỡ nhà lấy đất đào tuyến kênh trục chính.
Sau khi cống Xuân Quan hoàn thành và đưa nước vào đồng ngày 30/10/1959, việc xây dựng toàn hệ thống được triển khai nhanh chóng. Giai đoạn đầu, 26 trạm bơm cố định và 26 trạm bơm thuyền được xây để cấp nước cho các khu ruộng cao và hỗ trợ tiêu thoát nước. Các tuyến sông tự nhiên như Kim Sơn, Đình Đào, Cửu An, Tứ Kỳ được cải tạo, nạo vét và kết nối với mạng lưới kênh đào mới, tạo thành hệ thống thủy lợi liên hoàn.
Sau 7 tháng thi công, hệ thống hoàn thành, trở thành công trình thủy lợi lớn nhất miền Bắc thời bấy giờ, còn được gọi là "Đại thủy nông Bắc - Hưng - Hải". Ông Sử bảo cuộc sống của gia đình ông và hàng triệu người đã thay đổi vì đại thủy nông này.
Từ mùa vàng bội thu đến dòng nước đổi màu
Năm 1962, sau khi tốt nghiệp đại học, ông Sử được phân công về làm việc tại Công ty Bắc Hưng Hải. Những chuyến đi kiểm tra hệ thống khi đó khiến ông không khỏi ngạc nhiên trước sự thay đổi của dòng nước trong vùng.
"Nước trong đến mức nhìn thấy đáy. Ai cũng có thể tắm giặt ngay trên kênh", ông nhớ lại.
Nguồn nước dồi dào nhanh chóng làm thay đổi sản xuất nông nghiệp. Những cánh đồng trước kia phụ thuộc vào nước mưa bắt đầu có thể gieo cấy hai vụ lúa mỗi năm, năng suất vụ đầu đã đạt 60-62 tạ/ha, tổng sản lượng lúa trong vùng hơn 1,2 triệu tấn. Nhiều địa phương trong lưu vực Bắc Hưng Hải dần trở thành những vùng sản xuất lúa trọng điểm của đồng bằng Bắc Bộ.
Nguồn nước từ hệ thống kênh mương còn tạo điều kiện phát triển nuôi trồng thủy sản. Ở xã Đại Thắng (Hải Phòng), ông Vũ Văn Kế đã gắn bó với nghề nuôi thủy sản trên kênh Bắc Hưng Hải gần nửa thế kỷ. Có thời điểm gia đình ông nuôi tới 4-5 lồng cá trên kênh. Nguồn nước sạch giúp cá sinh trưởng tốt.
Không chỉ cá nuôi lồng, nhiều loại thủy sản tự nhiên cũng phát triển mạnh. Có những vụ, riêng rươi ông Kế thu hoạch được hơn 2 tấn. "Cá mè, cá chép nhiều vô kể. Riêng khu vực cống Xuân Quan có lần kéo lưới lên được hàng chục tấn cá", ông Kế nhớ lại. Nguồn lợi thủy sản dồi dào khiến nhiều gia đình sống ven kênh có thêm sinh kế ngoài trồng lúa.
Tuy nhiên, từ cuối những năm 1990 trở lại đây, dòng kênh từng trong xanh bắt đầu thay đổi. Những đoạn nước đục và có mùi hôi xuất hiện trước tiên ở khu vực gần khu dân cư và làng nghề, sau đó lan dần ra nhiều tuyến kênh trong hệ thống, ông Sử nhớ lại.
"Nguồn nước ô nhiễm trầm trọng từ năm 2000. Mỗi lần thả lưới xuống đánh cá, nếu thu được 5 kg cá thì tôi phải mất tới 3 ngày để gỡ hết túi nylon mắc trên lưới", ông Kế kể.
Quá trình đô thị hóa và phát triển công nghiệp trong lưu vực khiến lượng nước thải đổ vào hệ thống ngày càng lớn. Hiện Bắc Hưng Hải phải tiếp nhận nước thải từ khu dân cư, làng nghề và nhiều khu công nghiệp nằm dọc tuyến kênh.
Theo Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, mỗi ngày tổng lượng nước thải xả vào hệ thống khoảng 538.830 m3, trong đó phần lớn chưa được xử lý triệt để. Khi lượng nước thải vượt quá khả năng tự làm sạch của dòng chảy, chất lượng nước bắt đầu suy giảm.
Báo cáo tháng 2/2026 của Viện Nước, Tưới tiêu và Môi trường cho biết tình trạng ô nhiễm tập trung chủ yếu tại các điểm Xuân Thụy, Bình Lâu và Ngọc Đà. Các chỉ tiêu dinh dưỡng và hữu cơ trong nước tại đây đều vượt xa quy chuẩn môi trường nước mặt.
Đơn cử nồng độ amoni cho phép chỉ khoảng 0,3 mg/l, nhưng tại trạm Xuân Thụy (Hưng Yên) lên 25,6 mg/l, cao gấp hơn 85 lần. Hàm lượng oxy hòa tan chỉ khoảng 2 mg/l, thấp hơn nhiều so với mức tối thiểu 4 mg/l cần thiết để duy trì hệ sinh thái thủy sinh. Tại trạm Bình Lâu (Hải Phòng), nồng độ amoni trung bình khoảng 22 mg/l, cao gấp hơn 70 lần quy chuẩn.
Dọc nhiều tuyến kênh, nước chuyển màu đen, bọt trắng nổi dày và mùi hôi bốc lên nồng nặc. Những lồng cá từng mang lại thu nhập cho gia đình ông Kế buộc cũng phải tháo dỡ. Nước bẩn, cá, rươi nuôi không nổi vì năng suất giảm bảy, tám lần. Cả gia đình con cái ngày trước quây quần làm thủy sản, giờ phải phân tán đi làm công ty, ông Kế kể.
Chứng kiến các dòng kênh trong hệ thống Bắc Hưng Hải đang chết dần, ông Kế, ông Sử không khỏi xót xa. Không dám hy vọng có những mùa cá bội thu như trước, họ chỉ mong dòng kênh trở lại trong xanh.
"Mong ước đó không biết có viển vông quá không?", ông Sử tự hỏi.
Gia Chính - Mộc Miên
Tin Gốc: https://vnexpress.net/bac-hung-hai-tu-dai-thuy-nong-den-dong-song-chet-5050257.html
Cụ bà 92 tuổi đánh chết con rắn sau khi bị cắn vào tay

Ngày 6/4, bác sĩ Nguyễn Đức Vui, Phó Giám đốc Trung tâm Y tế Tiên Điền (trước đây là Trung tâm Y tế huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh), cho biết đơn vị mới đây đã tiếp nhận, cấp cứu cụ bà 92 tuổi bị rắn cắn.
Khoảng 13h ngày 4/4, cụ Phan Thị Tuyết (SN 1934, trú tại xã Tiên Điền) được xe cấp cứu đưa đến trung tâm trong tình trạng tỉnh táo, đau nhẹ vùng cổ tay trái do vết rắn cắn, không có biểu hiện rối loạn tri giác hay thần kinh.
Ngay sau khi tiếp nhận, các bác sĩ Khoa Cấp cứu - Hồi sức tích cực và Chống độc đã xử lý vết thương, truyền dịch giảm đau, theo dõi dấu hiệu nhiễm độc.
Đến nay, sức khỏe bệnh nhân ổn định, đang được tiếp tục theo dõi và điều trị các bệnh lý tuổi già. Theo bác sĩ Vui, con rắn cắn cụ Tuyết không phải rắn hổ mang, chỉ có độc tính nhẹ.
Anh Nguyễn Văn Trung, thành viên Đội cấp cứu Nghi Xuân cho biết khoảng 12h30 ngày 4/4, sau khi nhận tin báo, tổ cấp cứu nhanh chóng đến hiện trường. Tại đây, cụ bà vẫn tỉnh táo, không hoảng loạn và cho biết đã dùng dép đánh chết con rắn sau khi bị cắn.
"Cụ tuổi cao nhưng còn minh mẫn, sức khỏe tốt. Cụ nói với chúng tôi rằng bom đạn còn không sợ, sợ gì con rắn. Chúng tôi rất bất ngờ", anh Trung kể lại.
Thời điểm lực lượng cấp cứu có mặt, người thân đã dùng vải buộc chặt vết thương. Tổ cấp cứu đã gửi hình ảnh con rắn để xin ý kiến chuyên môn từ Trung tâm Y tế Tiên Điền và được hướng dẫn chở cụ đến để xử lý ngay, không cần chuyển tuyến trên.
Bác sĩ Vui khuyến cáo, khi bị rắn cắn, người dân cần giữ bình tĩnh, hạn chế vận động, nhanh chóng đến cơ sở y tế gần nhất để được chữa trị theo phác đồ. Người dân không nên áp dụng các biện pháp dân gian, truyền miệng, đặc biệt trong trường hợp rắn độc vì có thể khiến tình trạng nặng hơn.




