Mục Lục
ToggleNgân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) giảm lãi suất huy động 0,5%/năm kể từ ngày 13.4. Cụ thể, lãi suất đối với kỳ hạn có lãi suất huy động cao nhất (kỳ hạn 24 tháng) được điều chỉnh giảm 0,5%/năm xuống mức 6%/năm; các kỳ hạn khác sẽ được tiếp tục rà soát để điều chỉnh phù hợp. Với điều chỉnh này, lãi suất huy động tại tất cả các kỳ hạn của Vietcombank đều không vượt quá mức 6%/năm. Theo Vietcombank, giảm lãi suất huy động sẽ giúp các ngân hàng từng bước tối ưu chi phí vốn đầu vào, gia tăng dư địa cho việc giảm lãi suất cho vay nhằm hỗ trợ cá nhân và doanh nghiệp phát triển sản xuất – kinh doanh.
Ngân hàng TMCP Bản Việt (BVBank) giảm lãi suất huy động với mức giảm từ 0,3% đến 0,5% bắt đầu từ ngày 11.4 tùy theo kỳ hạn. Theo đó, lãi suất huy động kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng giảm 0,3%/năm, còn 6,45 – 6,65%/năm; kỳ hạn từ 15 tháng đến 36 tháng giảm mạnh 0,5%/năm, còn 6,45%/năm.
Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) giảm lãi suất ở nhiều kỳ hạn 6 – 36 tháng với mức giảm từ 0,3 – 0,5%/năm. Cụ thể, lãi suất tiền gửi kỳ hạn 6 – 9 tháng giảm 0,5%/năm, xuống còn 6,1%/năm; kỳ hạn 10 – 24 tháng giảm 0,3%/năm, còn 6,3%/năm. Riêng kỳ hạn 36 tháng được điều chỉnh giảm 0,5%/năm, xuống mức 5,6%/năm kể từ hôm nay.
Động thái giảm lãi suất của các ngân hàng sau cuộc họp với Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chiều 9.4. Theo định hướng của NHNN, các ngân hàng thương mại đồng thuận cao việc giảm mặt bằng lãi suất huy động nhằm tạo dư địa hạ chi phí vốn cho vay cho nền kinh tế, mở rộng khả năng tiếp cận tín dụng cho doanh nghiệp và người dân.
Tin Gốc: https://thanhnien.vn/ngan-hang-dong-loat-giam-lai-suat-tiet-kiem-05-nam-185260410163515804.htm

Theo số liệu thống kê sơ bộ được Cục Hải quan (Bộ Tài chính) công bố hôm nay 21.4, từ đầu năm đến hết ngày 15.4, tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa đạt 297,06 tỉ USD, tăng 24,5% (tương ứng tăng 58,47 tỉ USD) so với cùng kỳ năm 2025.
Trong đó, xuất khẩu đạt 144,58 tỉ USD, tăng 20,3%; nhập khẩu đạt 152,48 tỉ USD, tăng 28,8%.
Từ 1 - 15.4, Việt Nam nhập siêu 4,25 tỉ USD, nâng mức nhập siêu từ đầu năm đến hết ngày 15.4 lên 7,9 tỉ USD.
TS kinh tế Lê Bá Chí Nhân phân tích, nhập siêu 7,9 tỉ USD có thể khiến nhiều người lo ngại. Tuy nhiên, dưới góc nhìn vĩ mô, đây không phải là "bức tranh xấu", mà là tín hiệu phản ánh sự vận động rất mạnh của nền sản xuất trong nước.
"Nguyên nhân cốt lõi khiến Việt Nam nhập siêu nằm ở cấu trúc nhập khẩu. Phần lớn kim ngạch nhập khẩu gia tăng thuộc nhóm tư liệu sản xuất: máy móc, thiết bị, linh kiện điện tử, nguyên phụ liệu dệt may, da giày, hóa chất, sắt thép… Đây đều là đầu vào cho sản xuất và xuất khẩu trong các quý tiếp theo. Nói cách khác, nền kinh tế đang mua nguyên liệu để chuẩn bị cho một chu kỳ xuất khẩu lớn hơn phía sau", ông Nhân nói.
Ngoài ra, dòng vốn FDI tiếp tục mở rộng sản xuất tại Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực điện tử, bán dẫn, thiết bị công nghệ cao. Các doanh nghiệp FDI thường có đặc điểm nhập khẩu rất lớn ở giai đoạn đầu năm để lắp đặt dây chuyền, dự trữ linh kiện. Điều này làm cán cân thương mại nghiêng về nhập khẩu trong ngắn hạn, nhưng lại là tiền đề cho kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh về sau...
Quan trọng hơn, nếu so sánh tương quan, mức nhập siêu 7,9 tỉ USD trên tổng kim ngạch hơn 297 tỉ USD chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ, hoàn toàn trong ngưỡng an toàn của cán cân thanh toán quốc gia.
"Có thể nói, bức tranh xuất nhập khẩu trong 3 tháng rưỡi đầu năm không phản ánh sự suy yếu mà cho thấy nền kinh tế đang bước vào pha tăng tốc sản xuất. Nhập siêu lần này mang tính chuẩn bị cho xuất siêu trong các quý sau, hơn là một dấu hiệu rủi ro vĩ mô", ông Nhân khẳng định.
TS Vũ Thị Kim Oanh, giảng viên cấp cao ngành kinh doanh quốc tế (Đại học RMIT Việt Nam), cũng nhìn nhận việc Việt Nam nhập siêu như trên chưa đáng lo.
Tuy vậy, nếu tình trạng nhập siêu kéo dài sang các quý sau, cũng như có sự thay đổi trong cấu trúc nhập khẩu (nhập khẩu của Việt Nam tăng vào nhóm tiêu dùng không thiết yếu, do chi phí logistics hay do giá nhiên liệu tăng...) thì phải lưu ý.
Theo bà Oanh, thời gian tới, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sẽ phải đối mặt với không ít khó khăn.
Không phải doanh nghiệp xuất khẩu nào cũng đương đầu được với "cú sốc" gia tăng chi phí trong bối cảnh biến động thương mại và xung đột địa chính trị không ngừng, từ đó dẫn tới áp lực "gồng gánh".
Ngoài ra, khó khăn còn tới từ sự thiếu chắc chắn từ các đối tác bên ngoài về nhu cầu nhập khẩu từ Việt Nam khi họ cũng chịu tác động từ sự bất định của tình hình xung đột hiện nay.
"Chi phí nhập khẩu đầu vào tăng, rõ ràng nhất là năng lượng, logistics, nguyên vật liệu, trong khi cơ cấu nhập khẩu của chúng ta phần lớn là tư liệu sản xuất. Hậu quả cho doanh nghiệp là biên độ lợi nhuận thu hẹp", bà Oanh nói.
Vị chuyên gia nhận định, trong 2026, khả năng tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam vẫn tăng, song xuất siêu sẽ khiêm tốn hơn năm 2025.
Còn ông Nhân phân tích, trong 2026, bối cảnh quốc tế thay đổi nhanh và phức tạp hơn nhiều. Dư địa tăng trưởng kim ngạch tuyệt đối vẫn còn khá lớn.
Dòng dịch chuyển đầu tư, đặc biệt trong các ngành điện tử, thiết bị công nghệ cao, năng lượng tái tạo, tiếp tục chọn Việt Nam như một cứ điểm sản xuất quan trọng trong chuỗi cung ứng khu vực. Điều này tạo nền tảng để xuất khẩu tiếp tục tăng, nhất là vào các thị trường lớn như Mỹ và EU.
Tuy nhiên, 2026 không còn là giai đoạn tăng trưởng theo quán tính. Các thị trường nhập khẩu đang áp dụng dày đặc tiêu chuẩn xanh, truy xuất nguồn gốc, trách nhiệm môi trường và lao động. Nếu doanh nghiệp Việt Nam không chuyển đổi kịp, tốc độ tăng xuất khẩu có thể chậm lại, dù năng lực sản xuất vẫn tăng.
"Kỳ tích năm 2026, nếu có, sẽ không chỉ được đo bằng con số tổng kim ngạch, mà bằng chất lượng tăng trưởng thương mại: tỷ lệ nội địa hóa cao hơn, giá trị gia tăng lớn hơn, ít phụ thuộc đầu vào nhập khẩu hơn. Nếu làm được điều này, Việt Nam hoàn toàn có thể vừa duy trì đà tăng kim ngạch, vừa nối dài chuỗi xuất siêu một cách bền vững", ông Nhân nhấn mạnh.
Tin Gốc: Thanh Niên
Kinh Tế
Miền Tây sắp có thêm cao tốc hơn 69.000 tỉ đồng từ TP.HCM đến Sóc Trăng cũ

Chiều 23.4, tại Vĩnh Long, lãnh đạo UBND các tỉnh thành Vĩnh Long, Cần Thơ, Tây Ninh, Đồng Tháp và TP.HCM đã có buổi trao đổi, thống nhất một số nội dung liên quan đến phương án đầu tư tuyến cao tốc CT.33 dài khoảng 150 km, nối từ TP.HCM đến tỉnh Sóc Trăng (cũ).
Tại hội nghị, đơn vị tư vấn đã trình bày nhiều phương án. Dự kiến, tuyến cao tốc CT.33 có điểm đầu tại km 0+000, kết nối tại km16+000 của cao tốc Bến Lức - Long Thành ở xã Hưng Long, TP.HCM. Điểm cuối tại km 154+000, kết nối tại km145+000 của cao tốc CT 34 (Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng) thuộc xã Liên Tú, TP.Cần Thơ.
Trong đó, đoạn qua phường Trà Vinh (từ km 71+000 đến km 108+000) điều chỉnh tuyến sang bên trái, điểm xa nhất khoảng 3,5 km để tránh khu dân cư nhằm giảm kinh phí giải phóng mặt bằng. Tuyến được tổ chức đảm bảo kết nối liên tục, phù hợp với điều kiện thực tế khu vực và khả năng khai thác trong từng giai đoạn.
Hướng tuyến cơ bản bám theo hành lang QL60, QL57C và các trục giao thông hiện hữu, đồng thời tận dụng các vị trí vượt sông lớn như cầu Rạch Miễu 2 và cầu Đại Ngãi. Thông qua QL57C, cầu Rạch Miễu 2 và QL60 và nhánh nối Thân Cửu Nghĩa để kết nối với tuyến cao tốc CT 01. Một số đoạn tuyến được đầu tư mới theo quy mô cao tốc tại các khu vực có nhu cầu vận tải cao, trong khi các đoạn còn lại khai thác chung với quốc lộ hiện hữu nhằm đảm bảo tính liên tục của tuyến.
Theo phương án này, dự án sẽ được phân kỳ đầu tư thành 2 giai đoạn. Giai đoạn 1, chiều dài tuyến chính khoảng 73,2 km (địa bàn Vĩnh Long khoảng 53,2 km; địa bàn TP.Cần Thơ khoảng 20 km) và đầu tư mở rộng 12,8 km quốc lộ, tổng mức đầu tư (chưa bao gồm lãi vay) là 29.271 tỉ đồng. Giai đoạn 2, chiều dài tuyến chính khoảng 77,6 km để hoàn thiện tuyến cao tốc CT.33, tổng mức đầu tư (chưa bao gồm lãi vay) là 39.828 tỉ đồng.
Tại hội nghị, đại diện UBND tỉnh Tây Ninh thống nhất đề xuất hướng, tuyến và phương án đầu tư của tỉnh Vĩnh Long. Đại diện tỉnh Đồng Tháp cũng cơ bản thống nhất, nhưng đề xuất nghiên cứu điều chỉnh tuyến qua địa bàn, đồng thời nghiên cứu tại khu vực ngã ba Đồng Tâm, tránh lưu lượng phương tiện lớn đi qua, gây xung đột và ùn tắc cục bộ...
Đại diện UBND TP.Cần Thơ cơ bản thống nhất phương án nhưng đề nghị nghiên cứu sử dụng hạ tầng hiện có trên địa bàn thành phố như cầu Đại Ngãi và xây cầu cạn đoạn qua Cù lao Dung...
Đại diện các tỉnh thống nhất giao tỉnh Vĩnh Long là cơ quan có thẩm quyền tổ chức thực hiện giai đoạn 1 của dự án. Đồng thời trình cấp có thẩm quyền cho phép đầu tư xây dựng tuyến cao tốc CT.33, tốc độ thiết kế 100 km/giờ. Quy mô cao tốc hoàn thiện 4 làn xe với bề rộng nền đường 24,75 m. Tiến trình đầu tư xây dựng tuyến cao tốc CT.33 thực hiện 2 giai đoạn, giai đoạn 1 hoàn thành trước năm 2030 và giai đoạn 2 đầu tư sau năm 2030.
Theo UBND tỉnh Vĩnh Long, việc sớm đầu tư xây dựng tuyến cao tốc CT.33 sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho liên kết vùng; nâng cao hiệu quả khai thác hệ thống hạ tầng giao thông, giúp cho giao thương hàng hóa và đi lại của người dân được dễ dàng; góp phần giảm chi phí vận tải, nâng cao năng lực cạnh tranh, thu hút đầu tư, thúc đẩy phát triển các khu công nghiệp, khu kinh tế, du lịch; từng bước khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế của khu vực, mở ra không gian phát triển mới, hình thành các hành lang kinh tế, các khu đô thị, khu dịch vụ, logistics dọc tuyến.
Tin Gốc: Thanh Niên

Cụ thể, đối với đá xây dựng nhu cầu khoảng hơn 28 triệu m3 nhưng công suất khai thác chỉ hơn 23 triệu m3, thiếu 4,5 triệu m3.
Trong khi cát xây dựng nhu cầu 15,56 triệu m3 nhưng công suất khai thác chỉ 0,69 triệu m3, thiếu 14,87 triệu m3.
Đối với cát san lấp, nhu cầu khoảng 52,89 triệu m3 nhưng công suất khai thác chỉ 2,30 triệu m3, thiếu đến 25,96 triệu m3.
Đất san lấp nhu cầu khoảng 23,67 triệu m3 nhưng công suất đang khai thác chỉ 12,69 triệu m3, thiếu 11 triệu m3.
Trước tình trạng này, Sở Nông nghiệp và Môi trường TP.HCM đưa ra hàng loạt giải pháp.
Đối với 4,5 triệu m3 đá xây dựng còn thiếu, giải pháp được đề xuất là nâng công suất khai thác tại 11 mỏ có chất lượng đá tốt và chủ đầu tư có đủ năng lực khai thác tại Bà Rịa - Vũng Tàu và Bình Dương (cũ). Dự kiến sau khi nâng công suất được hơn 7 triệu m3, vượt nhu cầu.
Đối với 14,87 triệu m3 cát xây dựng còn thiếu có thể nâng công suất khai thác tại 10 mỏ, đáp ứng được 5,95 triệu m3. Số 8,92 triệu m3 còn lại có thể đẩy nhanh tiến độ từ nạo vét 22 hồ của thành phố.
Đối với 25,96 triệu m3 cát san lấp còn thiếu, Sở đưa ra bốn giải pháp: 2,3 triệu m3 nạo vét tuyến sông Sài Gòn - Đồng Nai, 0,56 triệu m3 từ Sông Thị Tính, 5,1 triệu m3 từ đẩy nhanh tiến độ nạo vét tận thu tại Hồ Sông Ray, 18 triệu m3 từ đẩy nhanh tiến độ nạo vét tận thu tại 22 hồ.
Giải pháp khác được đưa thay thế là xay đá, rửa cát biển.
Đối với 11 triệu m3 đất san lấp, Sở Nông nghiệp và Môi trường đưa ra hai giải pháp là cấp phép khai thác khoáng sản nhóm 4 cho 16 khu đất, thu hồi khoáng sản từ các công trình hầm như metro, công trình hầm...
Như vậy, sau khi thực hiện các giải pháp huy động thêm thì đá xây dựng, cát xây dựng, đất san lấp có thể đáp ứng 100% nhu cầu.
Qua kiểm tra thực tế, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Toàn Thắng đề nghị Thành ủy, UBND TP.HCM có cơ chế đối với việc đề xuất nâng công suất khai thác mỏ.
Đối với các công trình sử dụng vốn ngân sách nhà nước, thành phố có cơ chế về giá và thanh toán nhằm tạo điều kiện để chủ đầu tư được thanh toán khối lượng vật liệu mua trước.
Bên cạnh đó, chấn chỉnh tình trạng nâng giá hóa đơn mua vật liệu. Theo phản ánh của một số chủ mỏ, thực tế vẫn còn phát sinh trường hợp nhà thầu thi công đề nghị nâng giá hóa đơn mua vật liệu. Do đó, đề nghị các chủ đầu tư tăng cường chấn chỉnh, quản lý các nhà thầu thi công, bảo đảm việc mua bán vật liệu xây dựng đúng giá thực tế, đúng quy định pháp luật, tuyệt đối không để xảy ra việc nâng khống giá vật liệu hoặc các hành vi tiêu cực liên quan.
Tương tự, chấn chỉnh tình trạng bỏ giá thấp để trúng thầu nhưng khi triển khai không thực hiện được. Cụ thể, một số công trình sau khi nhà thầu trúng thầu với đơn giá vật liệu thấp không ưu tiên sử dụng vật liệu từ các mỏ xa do phát sinh chi phí vận chuyển. Đồng thời từ chối mua ở các mỏ xa với lý do không đạt tiêu chuẩn kỹ thuật, mặc dù các mỏ này vẫn đáp ứng yêu cầu và đang cung cấp cho nhiều dự án vốn ngân sách khác. Việc này dẫn đến tập trung nhu cầu vào một số mỏ gần gây mất cân đối cung - cầu cục bộ.
Do vậy đề nghị nhà thầu chịu trách nhiệm đối với đơn giá đã chào thầu, tính toán đầy đủ chi phí vật liệu; tránh tình trạng bỏ giá thấp để trúng thầu nhưng khi triển khai không thực hiện được, gây áp lực lên nguồn cung vật liệu xây dựng trên thị trường.
Có cơ chế tháo gỡ đối với phần sản phẩm phụ phát sinh trong quá trình khai thác theo cơ chế đặc thù nhưng không sử dụng được cho công trình vốn ngân sách, công trình trọng điểm. Cho phép chủ mỏ được bán thương mại phần sản phẩm phụ phát sinh trong quá trình khai thác theo cơ chế đặc thù nhưng không sử dụng được cho công trình vốn ngân sách, công trình trọng điểm.
Có cơ chế điều phối nguồn vật liệu, ưu tiên và nâng tỉ lệ cung cấp cho các công trình sử dụng vốn ngân sách của thành phố, kể cả đối với các mỏ được cấp phép khai thác phục vụ mục đích thương mại. Nguồn vật liệu tăng thêm từ việc "mở rộng, xuống sâu, thông moong, thông vách" được ưu tiên 100% cho các công trình vốn ngân sách của thành phố. Trường hợp các công trình không có nhu cầu sử dụng thì chủ mỏ mới được phép bán thương mại.
Đối với các dự án đầu tư tư nhân thuộc công trình trọng điểm của thành phố, cho chủ trương được áp dụng cơ chế đặc thù về vật liệu xây dựng để cấp trực tiếp các mỏ vật liệu cho chủ đầu tư, nhà thầu thi công, được nâng công suất để phục vụ cho các dự án...
Tin Gốc: https://thanhnien.vn/tphcm-thieu-vat-lieu-xay-dung-tram-trong-185260407164333667.htm

