Các giải pháp đồng bộ đã được Sở Xây dựng nêu trong Đề án Tăng cường vận tải hành khách công cộng (VTHKCC) kết hợp kiểm soát sử dụng phương tiện cơ giới cá nhân tham gia giao thông trên địa bàn TP.HCM.
Sở Xây dựng phân chia 27 giải pháp trong đề án thành từng nhóm, triển khai trong giai đoạn 2021 – 2030.
Theo đó, trong nhóm tăng cường VTHKCC, cơ quan quản lý đưa 17 giải pháp phát triển hệ thống, tăng cường tiếp cận, nâng cao tính cạnh tranh của VTHKCC; nâng cao chất lượng đoàn phương tiện và công tác quản lý điều hành, khai thác hệ thống VTHKCC.
Song hành với đó là nhóm giải pháp kiểm soát sử dụng phương tiện cơ giới cá nhân tham gia giao thông, gồm 3 giải pháp kinh tế, hành chính về thu phí ô tô lưu thông vào khu vực trung tâm thành phố, phân vùng kiểm soát khí thải kết hợp với thu phí ô nhiễm môi trường và kiểm soát hoạt động của xe mô tô và xe gắn máy 2 – 3 bánh.
Các nhóm giải pháp hỗ trợ gồm 7 giải pháp về quản lý quy hoạch đô thị, phát triển nguồn vốn hỗ trợ giao thông công cộng, ứng dụng công nghệ thông tin, quản lý nhu cầu giao thông và trật tự an toàn giao thông, tuyên truyền.
Cụ thể trong thời gian tới, Sở Xây dựng sẽ triển khai chính sách miễn vé xe buýt ngay sau khi HĐND TP thống qua chủ trương. Đồng thời, rà soát, điều chỉnh mạng lưới tuyến và triển khai tái cấu trúc mạng lưới xe buýt cho khu vực TP.HCM mới.
Sở dự kiến mở mới các tuyến buýt xanh, buýt nhỏ đi sâu vào khu dân cư để kết nối với các khu vực tập trung đông người; tích hợp mạng lưới xe buýt với hệ thống buýt sông, xe đạp công cộng, mạng lưới đường sắt đô thị… tiến tới đảm bảo khoảng cách đi bộ tiếp cận trong khoảng 300 – 500m. Các tuyến xe buýt khu vực Bà Rịa – Vũng Tàu và Bình Dương (cũ) và tuyến buýt kết nối sân bay Long Thành cũng sẽ được mở rộng cùng các tuyến buýt hoạt động đêm…
Cùng với đó, triển khai các chính sách hỗ trợ giá vé giao thông công cộng trong một số thời điểm, khi di chuyển trong vùng phát thải thấp (LEZ) như chính sách miễn, giảm phí gửi xe cá nhân khi chuyển sang sử dụng giao thông công cộng; miễn, giảm giá vé khi sử dụng liên thông phương tiện xe buýt, đường sắt đô thị, buýt đường thủy; tổ chức các chương trình trúng thường, tích điểm cho hành khách sử dụng giao thông công cộng…
Thành phố cũng sẽ nghiên cứu tổ chức các làn đường ưu tiên cho xe buýt tại các khu vực giao lộ, trục giao thông đủ điều kiện hạ tầng như đường Nguyễn Hữu Cảnh, Nguyễn Tất Thành…; tổ chức giao thông ưu tiên cho xe buýt được lưu thông hỗn hợp trong làn sát vỉa hè…
Bên cạnh nỗ lực cải thiện toàn bộ mạng lưới xe buýt thân thiện với người dân, Sở Xây dựng cũng đã lên kế hoạch chuyển đổi xanh và triển khai thực hiện chương trình chuyển đổi các phương tiện giao thông sang sử dụng điện, năng lượng xanh. Đơn cử, thành phố sẽ triển khai vùng phát thải thấp (LEZ) tại khu vực trung tâm thành phố, khu vực Cần Giờ, đặc khu Côn Đảo (hạn chế lưu hành xe sử dụng nhiên liệu hóa thạch đối với các phương tiện giao thông không đạt chuẩn khí thải đi vào).
Cùng với đó, nghiên cứu đề xuất triển khai các biện pháp quản lý, điều tiết việc sử dụng phương tiện cơ giới cả nhân, hạn chế lưu thông một số loại phương tiện trên một số tuyến đường trong khoảng thời gian nhất định bảo đảm phù hợp với năng lực đáp ứng của hạ tầng giao thông và hệ thống giao thông công cộng.
Thành phố cũng sẽ xây dựng các bãi giữ xe (ô tô, xe máy) lắp ghép tại các ga đầu mối (bến xe Miền Đông, bến xe Văn Thánh, bến xe buýt Sài Gòn, bến xe Chợ Lớn, khu vực nhà ga metro)… và khu vực của ngõ thành phố; các nhà giữ xe thông mình trong phạm vi đất công (đất giao thông, công viên) để người dân gửi xe chuyển sang sử dụng giao thông công cộng.
Các giải pháp hỗ trợ đi kèm gồm bổ sung, xây dựng các tiện ích cho người đi bộ như sửa chữa cải tạo vỉa hè, cầu – hầm đi bộ, dân cây xanh, lắp đặt mái che kết nối từ các trạm dừng xe buýt metro vào các tòa nhà văn phòng, trung tâm thương mại… tạo không gian thông thoáng khi đi bộ trên các hè phố để người dân tiếp cận thuận lợi khi sử dụng phương tiện vận tải công cộng.
Các trạm xe đạp công cộng/xe đạp điện công cộng cũng sẽ được mở rộng tại các nhà ga metro, điểm dừng xe buýt, bến xe, khu vực công sở, trường học, khu vực trung tâm thành phố; xây dựng làn đường dành riêng cho xe đạp (dọc kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè, kênh Tàu Hũ – Bến Nghé, đường Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Võ Nguyên Giáp…; triển khai các tuyến phố đi bộ khu vực trung tâm thành phố (Đồng Khởi, Lê Lợi, bến Bạch Đằng…) để hạn chế xe cơ giới.
Bộ Tài chính vừa công bố dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 68/2026/NĐ-CP quy định về chính sách thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh (hộ kinh doanh) và Nghị định 320/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành luật Thuế thu nhập doanh nghiệp.
Theo đó, Bộ Tài chính đề xuất tăng mức doanh thu năm không phải nộp thuế thu nhập cá nhân của hộ kinh doanh lên 1 tỉ đồng/năm. Đồng thời, nâng mức doanh thu không chịu thuế giá trị gia tăng của hộ kinh doanh lên 1 tỉ đồng/năm.
Mức này cũng thống nhất với quy định hộ kinh doanh có mức doanh thu hằng năm từ 1 tỉ đồng trở lên sử dụng hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền kết nối chuyển dữ liệu điện tử với cơ quan thuế.
Trước đó, ngưỡng doanh thu miễn thuế của hộ kinh doanh vừa được nâng lên 500 triệu đồng/năm từ ngày 1.1.2026.
Để đồng bộ với ngưỡng doanh thu không phải nộp thuế của hộ kinh doanh, Bộ Tài chính còn đề xuất xác định ngưỡng doanh thu được miễn thuế của doanh nghiệp nhỏ là 1 tỉ đồng/năm.
Tổng doanh thu làm căn cứ xác định doanh nghiệp thuộc đối tượng được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp là tổng doanh thu từ hoạt động bán hàng, cung cấp dịch vụ (không bao gồm các khoản giảm trừ doanh thu), doanh thu từ hoạt động tài chính và thu nhập khác trên phụ lục kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh kèm theo tờ khai quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp của kỳ tính thuế năm trước liền kề.
Trường hợp doanh nghiệp có thời gian hoạt động của kỳ tính thuế năm trước liền kề dưới 12 tháng thì tổng doanh thu kỳ tính thuế năm trước liền kề được xác định bằng tổng doanh thu thực tế trong kỳ tính thuế đó chia cho số tháng doanh nghiệp thực tế hoạt động sản xuất, kinh doanh trong kỳ tính thuế x 12 tháng.
Trường hợp doanh nghiệp mới thành lập, doanh nghiệp chuyển đổi loại hình doanh nghiệp, chuyển đổi hình thức sở hữu, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách trong tháng bất kỳ của kỳ tính thuế năm trước liền kề thì thời gian hoạt động được tính đủ tháng.
Trường hợp doanh nghiệp mới thành lập trong kỳ tính thuế và dự kiến tổng doanh thu trong kỳ tính thuế không quá 1 tỉ đồng thì doanh nghiệp tạm xác định không phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp.
Kết thúc kỳ tính thuế, trường hợp tổng doanh thu thực tế trong kỳ tính thuế vượt mức 1 tỉ đồng thì doanh nghiệp thực hiện kê khai, quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định.
Trường hợp tổng doanh thu thực tế không đáp ứng điều kiện để được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp như dự kiến thì doanh nghiệp nộp bổ sung số tiền thuế còn thiếu và tiền chậm nộp theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
Theo tính toán của cơ quan thuế, hiện nay, số hộ kinh doanh có doanh thu năm dưới 1 tỉ đồng là khoảng hơn 2,55 triệu hộ.
Với đề xuất như trên, dự kiến, số giảm thu ngân sách nhà nước là khoảng 16.650 tỉ đồng so với năm 2025 (thu theo chế độ thuế khoán và mức ngưỡng doanh thu không phải nộp thuế là 100 triệu đồng/năm); giảm khoảng 4.850 tỉ đồng so với chính sách hiện hành đã điều chỉnh ngưỡng doanh thu miễn thuế lên 500 triệu đồng/năm.
Với dự kiến miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có tổng doanh thu không quá 1 tỉ đồng/năm, số thuế thu nhập doanh nghiệp được miễn là khoảng 2.164 tỉ đồng và số lượng doanh nghiệp được miễn khoảng 235.800 doanh nghiệp.
Dự kiến, nghị định có hiệu lực từ ngày 1.1.2026.
Để tránh vướng mắc trong thực hiện, dự thảo nghị định quy định nội dung chuyển tiếp như sau: trường hợp hộ kinh doanh tự xác định có mức doanh thu năm từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ từ 1 tỉ đồng trở xuống mà đã kê khai nộp thuế thu nhập cá nhân, thuế giá trị gia tăng theo quy định tại Nghị định 68/2026/NĐ-CP thì được xử lý tiền thuế đã nộp theo quy định tại điều 12 Nghị định 68/2026/NĐ-CP.
Trường hợp doanh nghiệp đã tạm nộp thuế thu nhập doanh nghiệp quý 1/2026 mà doanh nghiệp dự kiến tổng doanh thu trong kỳ tính thuế từ 1 tỉ đồng trở xuống thì không phải tạm nộp thuế thu nhập các quý tiếp theo.
Kết thúc năm 2026, nếu tổng doanh thu từ 1 tỉ đồng trở xuống thì doanh nghiệp được bù trừ số thuế thu nhập doanh nghiệp tạm nộp vào năm tiếp theo (nếu có) hoặc được hoàn trả theo quy định của pháp luật về quản lý thuế đối với số thuế nộp thừa...
Trao đổi với PV Thanh Niên, một lãnh đạo Công ty TNHH Nhiệt điện Vũng Áng II (VAPCO) xác nhận tổ máy số 2 (công suất hơn 600 MW) đã hoàn tất các quy trình thử nghiệm kỹ thuật khắt khe, đảm bảo vận hành ổn định trước khi chính thức hòa lưới điện thương mại.
Như vậy, sau gần 5 năm thi công (khởi công từ 2021), cả 2 tổ máy với tổng công suất hơn 1.300 MW đã hoàn thiện, sẵn sàng cung ứng nguồn điện cho hệ thống điện quốc gia.
Đáng chú ý, đây là dự án sử dụng công nghệ lò hơi "trên siêu tới hạn" (USC), công nghệ hiện đại bậc nhất đối với các nhà máy nhiệt điện than tại Việt Nam hiện nay. Ưu điểm vượt trội của công nghệ này là tối ưu hóa hiệu suất, giảm thiểu tiêu hao nhiên liệu, từ đó cắt giảm đáng kể phát thải ra môi trường.
Ông Hoàng Trọng Bính, Phó tổng giám đốc VAPCO, cho hay sau thành công của tổ máy số 1 (vận hành từ tháng 7.2025), tổ máy số 2 tiếp tục đạt các thông số kỹ thuật và công suất tin cậy theo đúng hợp đồng mua bán điện.
Dự án Nhiệt điện Vũng Áng II được thực hiện theo hình thức BOT, là công trình năng lượng cấp quốc gia trọng điểm tại Khu kinh tế Vũng Áng (P.Vũng Áng, tỉnh Hà Tĩnh). Khi đi vào vận hành toàn bộ, dự án không chỉ góp phần đảm bảo an ninh năng lượng mà còn tạo việc làm cho hàng trăm lao động trình độ cao, thúc đẩy các dịch vụ vệ tinh và đóng góp lớn cho ngân sách tỉnh Hà Tĩnh.
Đối với 4,5 triệu m3 đá xây dựng còn thiếu, giải pháp được đề xuất là nâng công suất khai thác tại 11 mỏ có chất lượng đá tốt và chủ đầu tư có đủ năng lực khai thác tại Bà Rịa - Vũng Tàu và Bình Dương (cũ). Dự kiến sau khi nâng công suất được hơn 7 triệu m3, vượt nhu cầu.
Đối với 14,87 triệu m3 cát xây dựng còn thiếu có thể nâng công suất khai thác tại 10 mỏ, đáp ứng được 5,95 triệu m3. Số 8,92 triệu m3 còn lại có thể đẩy nhanh tiến độ từ nạo vét 22 hồ của thành phố.
Đối với 25,96 triệu m3 cát san lấp còn thiếu, Sở đưa ra bốn giải pháp: 2,3 triệu m3 nạo vét tuyến sông Sài Gòn - Đồng Nai, 0,56 triệu m3 từ Sông Thị Tính, 5,1 triệu m3 từ đẩy nhanh tiến độ nạo vét tận thu tại Hồ Sông Ray, 18 triệu m3 từ đẩy nhanh tiến độ nạo vét tận thu tại 22 hồ.
Giải pháp khác được đưa thay thế là xay đá, rửa cát biển.
Đối với 11 triệu m3 đất san lấp, Sở Nông nghiệp và Môi trường đưa ra hai giải pháp là cấp phép khai thác khoáng sản nhóm 4 cho 16 khu đất, thu hồi khoáng sản từ các công trình hầm như metro, công trình hầm...
Như vậy, sau khi thực hiện các giải pháp huy động thêm thì đá xây dựng, cát xây dựng, đất san lấp có thể đáp ứng 100% nhu cầu.
Qua kiểm tra thực tế, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Toàn Thắng đề nghị Thành ủy, UBND TP.HCM có cơ chế đối với việc đề xuất nâng công suất khai thác mỏ.
Đối với các công trình sử dụng vốn ngân sách nhà nước, thành phố có cơ chế về giá và thanh toán nhằm tạo điều kiện để chủ đầu tư được thanh toán khối lượng vật liệu mua trước.
Bên cạnh đó, chấn chỉnh tình trạng nâng giá hóa đơn mua vật liệu. Theo phản ánh của một số chủ mỏ, thực tế vẫn còn phát sinh trường hợp nhà thầu thi công đề nghị nâng giá hóa đơn mua vật liệu. Do đó, đề nghị các chủ đầu tư tăng cường chấn chỉnh, quản lý các nhà thầu thi công, bảo đảm việc mua bán vật liệu xây dựng đúng giá thực tế, đúng quy định pháp luật, tuyệt đối không để xảy ra việc nâng khống giá vật liệu hoặc các hành vi tiêu cực liên quan.
Tương tự, chấn chỉnh tình trạng bỏ giá thấp để trúng thầu nhưng khi triển khai không thực hiện được. Cụ thể, một số công trình sau khi nhà thầu trúng thầu với đơn giá vật liệu thấp không ưu tiên sử dụng vật liệu từ các mỏ xa do phát sinh chi phí vận chuyển. Đồng thời từ chối mua ở các mỏ xa với lý do không đạt tiêu chuẩn kỹ thuật, mặc dù các mỏ này vẫn đáp ứng yêu cầu và đang cung cấp cho nhiều dự án vốn ngân sách khác. Việc này dẫn đến tập trung nhu cầu vào một số mỏ gần gây mất cân đối cung - cầu cục bộ.
Do vậy đề nghị nhà thầu chịu trách nhiệm đối với đơn giá đã chào thầu, tính toán đầy đủ chi phí vật liệu; tránh tình trạng bỏ giá thấp để trúng thầu nhưng khi triển khai không thực hiện được, gây áp lực lên nguồn cung vật liệu xây dựng trên thị trường.
Có cơ chế tháo gỡ đối với phần sản phẩm phụ phát sinh trong quá trình khai thác theo cơ chế đặc thù nhưng không sử dụng được cho công trình vốn ngân sách, công trình trọng điểm. Cho phép chủ mỏ được bán thương mại phần sản phẩm phụ phát sinh trong quá trình khai thác theo cơ chế đặc thù nhưng không sử dụng được cho công trình vốn ngân sách, công trình trọng điểm.
Có cơ chế điều phối nguồn vật liệu, ưu tiên và nâng tỉ lệ cung cấp cho các công trình sử dụng vốn ngân sách của thành phố, kể cả đối với các mỏ được cấp phép khai thác phục vụ mục đích thương mại. Nguồn vật liệu tăng thêm từ việc "mở rộng, xuống sâu, thông moong, thông vách" được ưu tiên 100% cho các công trình vốn ngân sách của thành phố. Trường hợp các công trình không có nhu cầu sử dụng thì chủ mỏ mới được phép bán thương mại.
Đối với các dự án đầu tư tư nhân thuộc công trình trọng điểm của thành phố, cho chủ trương được áp dụng cơ chế đặc thù về vật liệu xây dựng để cấp trực tiếp các mỏ vật liệu cho chủ đầu tư, nhà thầu thi công, được nâng công suất để phục vụ cho các dự án...