“Lucescu là một trong những cầu thủ và HLV giàu thành tích nhất lịch sử Romania. Ông là người đầu tiên đưa ĐTQG lọt vào vòng chung kết Euro, năm 1984. Nhiều thế hệ người dân Romania đã lớn lên với hình bóng ông trong tim như một biểu tượng quốc gia. Cầu Chúa phù hộ cho ông!”, thông cáo từ Bệnh viện Đại học Bucharest có đoạn.
Lucescu qua đời ở tuổi 80, chỉ vài ngày sau khi rời ghế HLV trưởng Romania. Trước đó, chỉ trong vài giờ sau khi từ chức, nhà cầm quân này trải qua hai cơn nhồi máu cơ tim liên tiếp. Tính từ tháng 12/2025, ông đã phải nhập viện ba lần.
Được mệnh danh là “Il Luce” (Ánh sáng) để tôn vinh tư duy chiến thuật tài ba, Lucescu có được vị thế tượng đài của bóng đá Romania suốt nhiều thập kỷ, dù sống trong môi trường thể thao đầy rẫy áp lực và biến động. Ở mọi nơi từng đi qua, ông luôn để lại dấu ấn sâu đậm, đặc biệt là trên băng ghế huấn luyện.
Sinh ngày 29/7/1945 tại Bucharest trong những ngày cuối cùng của Thế chiến thứ hai, Lucescu dành phần lớn sự nghiệp quần đùi áo số ở Dinamo Bucharest. Với nhãn quan sắc sảo ở vị trí tiền đạo cánh phải, ông đã thi đấu hơn 250 trận, giành 7 chức VĐQG và hai Cup Quốc gia Romania.
Với ĐTQG, ông đá 70 trận và mang băng thủ quân tại World Cup 1970, đánh dấu sự trở lại của Romania sau 32 năm. Ở giải đấu trên đất Mexico năm đó, Lucescu đã có khoảnh khắc đổi áo để đời với huyền thoại Pele, mà về sau ông khẳng định là chưa bao giờ giặt chiếc áo ấy.
Lucescu bắt đầu cầm quân từ năm 1979 tại Corvinul Hunedoara trong vai trò cầu thủ kiêm HLV. Hai năm sau đó, ông được bổ nhiệm làm HLV tuyển Romania và nhanh chóng giúp đội nhà lần đầu góp mặt tại một kỳ Euro, năm 1984.
Chính giai đoạn này, Lucescu đã trình làng cậu thiếu niên 18 tuổi Gheorghe Hagi, người sau này trở thành cầu thủ vĩ đại nhất lịch sử Romania, khoác áo cả Real Madrid lẫn Barca. Lucescu tại vị đến năm 1986, đặt nền móng vững chắc giúp Romania góp mặt trong ba kỳ World Cup liên tiếp là 1990, 1994 và 1998, cũng như các kỳ Euro 1996 và 2000.
Với Lucescu, huấn luyện không chỉ là sắp xếp đội hình, mà là giúp cầu thủ thấu hiểu căn nguyên của từng đường chuyền, từng quyết định trên sân cỏ. Ông là một trong những nhà cầm quân từ Đông Âu đầu tiên áp dụng các phương pháp huấn luyện hiện đại, chú trọng vào tâm lý học và mối quan hệ mật thiết giữa cầu thủ với ban huấn luyện.
Lucescu thiết lập kỷ luật trong các tập thể dưới quyền không dựa trên sự sợ hãi, mà bằng sự tôn trọng. Đây là triết lý đưa ông trở thành một trong những HLV xuất sắc và được nể trọng nhất lục địa già. “Bất kỳ ai có thái độ tiêu cực đều không có chỗ trong đội của tôi”, ông từng nói trên báo Tây Ban Nha El Pais. “Quan niệm về kỷ luật của tôi là đối thoại. Tôi không phạt tiền cầu thủ, tôi nói chuyện với họ một lần, hai lần rồi ba lần. Tôi muốn có tiếng nói cuối cùng trong việc chuyển nhượng và tôi tìm kiếm những người có cá tính, sự thông minh và tinh thần trách nhiệm. Về khâu chuẩn bị, nhiều người huấn luyện bằng các bài tập, còn tôi huấn luyện bằng các nguyên tắc”.
Sau khi xây dựng một tập thể Dinamo Bucharest thống trị các giải quốc nội giai đoạn 1985-1990, Lucescu sang Italy thử sức tại Pisa, Brescia, Reggiana và cả Inter Milan. Ở đó, ông không chỉ mang về kết quả mà còn để lại một tư duy chơi bóng hiện đại. Chính Lucescu đã đôn Andrea Pirlo lên từ đội trẻ khi anh mới 15 tuổi và cho tiền vệ này ra mắt Brescia ngày 21/05/1995. Sau này, trong cuốn tự truyện Penso quindi gioco (Tôi tư duy, nghĩa là tôi chơi bóng), Pirlo miêu tả Lucescu như một người thầy vĩ đại.
Tại Brescia, Lucescu gắn bó suốt 5 mùa giải, và đến giờ, người hâm mộ nơi đây vẫn tôn sùng ông. Họ yêu quý ông không chỉ vì triết lý bóng đá mà còn bởi tính cách tinh quái, sắc sảo đầy thú vị. “Ông ấy là HLV lý tưởng cho bất kỳ CLB nào muốn kiếm tiền, vì Lucescu là bậc thầy trong việc biến những cậu nhóc tiềm năng thành các ngôi sao thực thụ. Không ai có thể so sánh với ông ấy, bởi Lucescu vừa đào tạo trẻ giỏi, vừa đảm bảo được thành tích, điều vốn dĩ không hề bắt buộc khi làm việc với các cầu thủ trẻ”, cố Chủ tịch Brescia Gino Corioni và cũng là bạn thân của Lucescu, từng kể.
Trong mắt các học trò những năm 1990, ngoài ấn tượng về sự điềm tĩnh và chuẩn mực, Lucescu còn đi trước thời đại trong khâu chuẩn bị cho trận đấu và nghiên cứu đối thủ. “Trước trận tứ kết Champions League với Man Utd năm 1999, ông ấy phát cho mỗi chúng tôi hai cuốn băng video để về nhà nghiên cứu. Vào thời ấy, đó là một điều cực kỳ mới mẻ”, cựu thủ môn Inter Gianluca Pagliuca kể.
Sau Italy, Lucescu sang Thổ Nhĩ Kỳ, tiếp quản di sản của Fatih Terim tại Galatasaray và ngay lập tức đánh bại Real của những Raul Gonzalez và Luis Figo để giành Siêu Cup châu Âu. Năm 2002, ông lập kỳ tích khi đưa Besiktas lên ngôi vô địch, trở thành HLV ngoại đầu tiên vô địch Thổ Nhĩ Kỳ với hai đội bóng kình địch cùng thành phố Istanbul. Người hâm mộ Thổ Nhĩ Kỳ tôn thờ Lucescu bởi sự lịch lãm, điềm tĩnh trước áp lực và trí tuệ.
Năm 2004, Lucescu cập bến Shakhtar Donetsk khi lọt vào mắt xanh của tỷ phú Rinat Akhmetov. “Ông ấy đã cố chiêu mộ tôi ba lần và lần nào tôi cũng từ chối”, Lucescu kể lại trên báo Italy Gazzetta dello Sport. “Đến lần thứ tư, ông ấy cử chuyên cơ riêng tới đón. Khi vừa hạ cánh xuống Donetsk, ông ấy giới thiệu tôi luôn là tân HLV đội bóng. Tôi còn biết làm gì khác đây!”.
Lúc đó, ít ai tin rằng Lucescu có thể biến đội bóng vùng mỏ ở miền đông Ukraine thành thế lực tại trời Âu. Nhưng ông đã làm được điều đó cho Shakhtar bằng chiến lược táo bạo: chiêu mộ các tài năng trẻ Brazil, rèn giũa họ về mặt chiến thuật để tạo nên một tập thể “nhảy Samba trên nhịp điệu Đông Âu”.
Tình cảm của Lucescu dành cho bóng đá lẫn các cầu thủ Brazil đã nảy nở từ dịp Giáng sinh 1967. Bấy giờ, ông vẫn còn là một tiền đạo cánh 22 tuổi. Sau một trận giao hữu tại Congo, khi chuẩn bị bay về Romania, ông nhận được lệnh khẩn khi lên chuyến bay dài sang Brazil để hội quân cùng ĐTQG trong chuyến du đấu Nam Mỹ.
“Tôi đã đi dọc Brazil từ Nam chí Bắc, từ Porto Alegre đến Fortaleza”, Lucescu kể lại năm 2013 về cú sốc văn hóa trong cuộc phỏng vấn trên tạp chí Pháp France Football. “Đó là trải nghiệm không thể tin nổi. Hãy tưởng tượng sự ngưỡng mộ và mê hoặc mà một chàng trai đến từ một quốc gia Đông Âu cảm thấy khi đặt chân đến một thế giới mà trước đó anh ta chỉ biết qua bản đồ”.
“Tôi đã khám phá ra bản chất của con người Brazil, chính là bóng đá, samba, bãi biển và tình dục. Tôi hiểu tại sao bấy nhiêu đó là đủ để họ sống hạnh phúc. Mọi thứ đều xoay quanh những điều ấy. Và tôi cũng không thể quên Brahma Chopp, loại bia tuyệt vời nhất ở đó. Sau này, tôi vẫn thường uống nó cùng Ronaldo de Lima khi dẫn dắt cậu ấy tại Inter cuối những năm 1990”, Lucescu kể tiếp.
Shakhtar thời Lucescu luôn là đối thủ khó nhằn tại Champions League, với lối chơi tấn công biến hóa như tắc kè hoa. Ông linh hoạt áp dụng nhiều sơ đồ chiến thuật, buộc các cầu thủ phải tư duy về nhiều cách chơi khác nhau. Trong 12 năm gắn bó, ông mang về cho Shakhtar 22 danh hiệu, trong đó có 8 chức VĐQG và đỉnh cao chiếc Cup UEFA 2009. Dưới bàn tay nhào nặn của Lucescu, những Fernandinho, Willian hay Douglas Costa đều vươn tầm thế giới.
Ngay cả khi xung đột nổ ra tại Ukraine năm 2014 buộc đội bóng phải di tản, Lucescu vẫn tiếp tục giúp Shakhtar chiến thắng. Sau đó, ông dẫn dắt Zenit và ĐTQG Thổ Nhĩ Kỳ một thời gian ngắn, rồi gây sốc khi ký hợp đồng với Dinamo Kiev – đối trọng lớn nhất của Shakhtar – vào năm 2020 và lập tức đưa họ lên ngôi vô địch Ukraine.
Tình yêu bóng đá của Lucescu lớn đến mức ông không thể chấp nhận thất bại hay bỏ cuộc. Trước thềm chung kết play-off tranh vé vớt World Cup 2026 giữa Thổ Nhĩ Kỳ và Romania, Lucescu còn tâm sự với báo Anh Guardian rằng dẫn dắt ĐTQG là “trách nhiệm thiêng liêng”, và dù sức khỏe bấy giờ không được tốt, ông không thể rời đi như một kẻ hèn nhát.
Truyền thông Romania cho biết, việc không thể đưa Romania trở lại World Cup sau trận thua 0-1 đó khiến Lucescu tức giận tột độ. Đây cũng được cho là tác nhân chính dẫn đến những biến cố sức khỏe cuối cùng.
“Bóng đá Romania không chỉ mất đi một nhà chiến thuật lỗi lạc, mà còn mất đi một người thầy, một người có tầm nhìn xa trông rộng và một biểu tượng quốc gia, người đã đưa màu cờ sắc áo của chúng ta lên những đỉnh cao của thành công thế giới”, LĐBĐ Romania viết trong thông báo về sự ra đi của Lucescu.
Sau rất nhiều cơ hội và cả những sự "kém duyên", cuối cùng tiền đạo Nguyễn Đình Bắc cũng đã ghi được bàn thắng đầu tiên ở V-League 2025 - 2026. Một pha thoải mái dắt bóng và sút vào khung thành trống sau khi động tác giả đã giúp anh làm lỡ đà thủ môn Văn Toản.
Bàn thắng vào phút 30 đó của Đình Bắc đã giúp CLB CAHN vươn lên dẫn 3-0 trong hiệp 1, sau cú đúp của ngoại binh Stefan Mauk ở các phút 6 và 24, trong thế trận chủ động hoàn toàn trước đối thủ đang vật lộn ở khu vực đáy bảng.
Sau khi chứng kiến Đình Bắc ghi bàn, HLV Lê Đức Tuấn đã quyết đoán thực hiện 3 sự thay đổi người, tung Henen, Văn Hòa và Phi Long vào sân để tìm cách làm mới thế trận trong khi HLV Mano Polking tiếp tục chỉ đạo các học trò chơi thứ bóng đá tấn công phóng khoáng của mình.
Thực tế đây là trận đấu các con số không nói chính xác hết mọi thứ, khi đội khách có nhiều hơn số cú dứt điểm, nhưng xét về hiệu quả kém xa CLB CAHN. Phải đến cú sút thứ 10, CLB Đà Nẵng mới có bàn rút ngắn tỷ số 1-3 do công Văn Sơn ở phút 48.
Bàn thắng này đã thắp sáng hy vọng cho Ngọc Hải và những đồng đội, trong khi CLB CAHN sau đó siết lại lối chơi, đẩy nhanh tốc độ trận đấu lên để tìm kiếm thêm bàn thắng để nâng số lần sút tung lưới đối thủ lên thêm nữa.
Phải ghi nhận rằng dù bị dẫn với cách biệt 2 bàn nhưng tinh thần của các CLB Đà Nẵng là khá tốt. Họ không từ bỏ mà vẫn quyết tâm, chắt chiu từng cơ hội lên bóng nhưng cũng vì thế để lộ khoảng trống để CLB CAHN khai thác.
Đình Bắc sau đó hoàn tất cú đúp của mình bằng tình huống phá bẫy việt vị và đánh bại Văn Toản trong thế đối mặt ở phút 70 trước khi Văn Toản ấn định chiến tỷ số chung cuộc 5-1 ở phút 83.
Với kết quả này, CLB CAHN đã kéo dài mạch thắng liên tiếp của mình lên con số 11, tiếp tục một mình một ngựa dẫn đầu V-League 2025 - 2026 với 44 điểm, bỏ xa đội nhì bảng Thể Công Viettel đến 10 điểm, sở hữu hàng công mạnh nhất (40 bàn) và hàng thủ rắn chắc nhất (chỉ 14 lần thủng lưới).
Phong độ và lối chơi đầy thuyết phục của CLB CAHN đang giúp họ thuyết phục tất cả như ứng viên xứng đáng nhất cho chức vô địch V-League mùa này. Việc Đình Bắc đã mở tài khoản bàn thắng bằng cú đúp càng hứa hẹn đội bóng công an sẽ sớm chạm cột mốc 50 bàn thắng.
Điểm duy nhất khiến chiến thắng không thực sự trọn vẹn là việc đội trưởng Quang Hải tỏ ra rất đau đớn khi phải rời sân bằng cáng. Báo Thanh Niên sẽ cập nhật tình trạng chấn thương của anh trong thời gian tới.
Trường ĐH Thủy lợi đang có ưu thế lớn, từ thiên thời, địa lợi đến nhân hòa ở màn so tài với Trường ĐH Quốc gia Malaysia, nhằm định đoạt chiếc cúp giải bóng đá Thanh Niên sinh viên (TNSV) quốc tế lần II - 2026 cúp THACO, diễn ra lúc 15 giờ 20 hôm nay (5.4).
Trước tiên là thiên thời. Ở trận chung kết, Trường ĐH Quốc gia Malaysia sẽ vắng ngòi nổ chủ lực Izrin Bin Ibrahim, tác giả của cả 3 bàn thắng Malaysia ghi được ở giải năm nay.
Izrin là chủ công của Trường ĐH Quốc gia Malaysia, với cổ chân cực dẻo, khả năng bứt tốc, dẫn dắt lối chơi và đặc biệt là sút phạt. Chỉ sau 2 trận, Izrin đã ghi 2 bàn đá phạt, đều mang tính chất mở lối chiến thắng cho đại diện Malaysia. Vắng Izrin, Trường ĐH Quốc gia Malaysia phải trông đợi vào những mũi tấn công khác, mà vốn dĩ chưa được khai thác hết tiềm năng.
Về địa lợi, Trường ĐH Thủy lợi có ưu thế đá ở quê nhà, với sự tiếp sức của đông đảo cổ động viên. Dàn cổ vũ bài bản, chuyên nghiệp với cả trống, kèn và tiếng hô của hàng trăm khán giả, cùng sự động viên từ xa của điểm cầu Hà Nội đã tiếp thêm sức mạnh để Bùi Xuân Trường cùng đồng đội từng bước vượt qua từng "cửa ải".
Tuy nhiên, "nhân hòa" mới là yếu tố cốt lõi. Trường ĐH Thủy lợi đã vô địch TNSV THACO cup 2026 với phong độ hủy diệt (ghi 14 bàn, sạch lưới cả giải). Giữ đôi chân trên mặt đất sau thành công vang dội, đại diện Hà Nội tiếp tục "càn quét" TNSV quốc tế, với 3 trận toàn thắng từ đầu giải.
Trường ĐH Thủy lợi thắng đậm 4-2 trước Trường ĐH Quốc gia Singapore trong ngày ra quân, rồi hạ tiếp Trường ĐH Svay Rieng (Campuchia) 3-0 ở lượt đấu thứ hai dù chỉ tung ra đội hình phụ.
Đến bán kết, dù Trường ĐH Nha Trang của bộ đôi giám đốc kỹ thuật Hoàng Anh Tuấn và HLV Nguyễn Anh Tú đã chơi trận để đời, nhưng Trường ĐH Thủy lợi vẫn bản lĩnh lách khe cửa hẹp với chiến thắng 2-0, được quyết định đầy kịch tính trong 6 phút cuối trận.
Kinh nghiệm, độ quái cùng khả năng đá cố định cực tốt (6 bàn ở giải này đến từ phạt góc, phạt gián tiếp và phạt đền) đã giúp Trường ĐH Thủy lợi từng bước giải mã đối thủ. Đội bóng của trợ lý Trương Minh Đức chủ trương phòng ngự chặt, kiểm soát nhịp chơi, rồi săn tìm các pha đánh biên hoặc bóng cố định để "kết liễu" đối thủ.
Đội nào cũng biết Trường ĐH Thủy lợi sẽ đá như vậy. Song, để hóa giải lại là chuyện khác.
Trận chung kết chiều nay (5.4) hứa hẹn diễn ra chặt chẽ và kịch tính. Vắng Izrin Bin Ibrahim, nhiều khả năng Trường ĐH Quốc gia Malaysia đá toan tính và chậm rãi, nhằm khai thác khoảng trống khi đối thủ dâng cao.
Ở chiều ngược lại, rất có thể Trường ĐH Thủy lợi cũng đá... như vậy.Khác với trận chung kết TNSV THACO cup 2026, khi Trường ĐH Thủy lợi chọn lối đá tấn công áp đặt với Trường ĐH Công nghiệp TP.HCM, màn so tài hôm nay có lẽ là trận đấu hiếm hoi thầy trò trợ lý Trương Minh Đức phải đá rình rập.
Bởi lẽ, Trường ĐH Quốc gia Malaysia là đội bóng toàn diện, với dàn cầu thủ được đào tạo bài bản, có kỹ thuật cá nhân và sức rướn cực hay, nhờ vậy có thể chuyển đổi trạng thái cực kỳ nhạy bén. Tuy nhiên, điểm yếu của đại diện Malaysia là cái đầu "nóng", với những pha tranh chấp quyết liệt thường dẫn đến phản ứng thái quá. 11 thẻ vàng và 1 thẻ đỏ là ví dụ, cho sự thừa nhiệt huyết nhưng còn thiếu tỉnh táo.
Đây là lỗ hổng mà Trường ĐH Quốc gia Malaysia cần khỏa lấp. Vì đã bước vào chung kết, lại gặp đối thủ quái chiêu, dạn dĩ như như Trường ĐH Thủy lợi, mọi sự nóng vội đều dẫn đến cái giá đắt. Chung kết TNSV quốc tế lần II - 2026 cúp THACO sẽ là cuộc đấu tâm lý nhiều hơn là kỹ năng. Đến lúc này, mọi mảng miếng, bài vở của đôi bên đều đã bộc lộ. Khác biệt chỉ nằm ở khả năng kiểm soát cái đầu "lạnh" ở thời điểm nóng nhất.
Trường ĐH Thủy lợi và Trường ĐH Quốc gia Malaysia đều đã thắng bán kết nhờ hay hơn ở khoảnh khắc quyết định. Giờ là lúc hai đội bóng mạnh mẽ và lì lợm nhất giải so kè nhau trong cuộc đấu trí hứa hẹn căng từng giây.
Mùa trước, Trường ĐH VH-TT-DL Thanh Hóa đã thắng Trường ĐH Lào (2-1) để giữ cúp ở lại quê hương. Năm nay, Trường ĐH Thủy lợi đủ sức tiếp bước, khi đang có mọi yếu tố bước lên ngai vàng.
Ngày 5/4, Richardson mở màn mùa giải tại vùng nông thôn Australia bằng cuộc đua 120 m trên cỏ, đối đầu các VĐV nghiệp dư có lợi thế xuất phát gần 10 m. Dù vậy, siêu sao người Mỹ vẫn về nhất với thành tích 13 giây 15 giây, lập kỷ lục giải và nhận 27.800 USD tiền thưởng.
Trên vạch đích, Richardson bắt kịp VĐV 17 tuổi Australia Charlotte Nielsen, người xuất phát trước 9 m, để thắng với khoảng cách 0,04 giây. Đây là lần thứ ba trong lịch sử một nữ VĐV về nhất Stawell Gift từ vị trí cuối cùng, sau Bree Rizzo (2025) và Melissa Breen (2012).
Trước đó, Richardson dễ dàng vượt qua vòng loại với 13 giây 82 và bán kết với 13 giây 52. "Chắc tôi nhận ra mình sẽ thắng khi chạy qua mốc 90 m", VĐV 26 tuổi chia sẻ. "Tình yêu, sự ủng hộ và niềm vui thật sự mà tôi cảm nhận trên đường chạy, mọi người đã làm nên khoảnh khắc này. Cảm ơn tất cả".
Stawell Gift là giải chạy nước rút lâu đời nhất Australia, diễn ra trên sân cỏ Central Park, thị trấn Stawell, cách Melbourne khoảng ba giờ lái xe, trong dịp Lễ Phục sinh. Điểm đặc biệt là hệ thống handicap, cho phép các VĐV nghiệp dư thi đấu cùng các VĐV chuyên nghiệp: người chạy chậm được xuất phát trước, trong khi các VĐV nhanh nhất bắt đầu từ cuối và phải "đuổi theo" các đối thủ.
Richardson là gương mặt nổi bật của điền kinh Mỹ ở nội dung chạy ngắn trong một thập kỷ qua. Cô giành HC vàng tiếp sức 4x100m và HC bạc 100m tại Olympic Paris 2024. Trước đó, Richardson giành HC vàng tiếp sức 4x100m, 100m và HC đồng 200m tại giải VĐTG Budapest 2023.
Richardson là nữ VĐV Olympic và vô địch thế giới đầu tiên tham dự Stawell Gift trong 144 năm lịch sử của giải.
Bạn trai của Richardson, Christian Coleman, cũng lần đầu dự giải và xuất phát cuối cùng. Nhưng anh dừng bước ở bán kết nam. Ở chung kết, VĐV Australia Olufemi Komolafe về nhất với 11 giây 93, còn Jake Ireland về nhì với 12 giây 07.
Coleman, sinh năm 1996, từng được kỳ vọng là người kế nhiệm ngôi vị của huyền thoại Usain Bolt ở cự ly 100m. Đỉnh cao sự nghiệp của anh đến vào năm 2019 khi vô địch thế giới nội dung 100m tại Doha với thời gian 9 giây 76.
Tuy nhiên, sự nghiệp của Coleman bị gián đoạn nghiêm trọng sau án cấm thi đấu 18 tháng vì vi phạm quy định kiểm tra doping, khiến anh lỡ Olympic Tokyo 2020. Kể từ đó, anh chật vật tìm lại phong độ, vẫn tham dự đều đặn các giải lớn nhưng không còn giữ vị thế số một.
Hồng Duy (theo Canadian Running Magazine, The Guardian)