Tôi là một giáo viên Hóa học. Đứng trên giảng đường đại học, tôi không khỏi chạnh lòng khi chứng kiến những sinh viên từng nổi bật về Hóa ở cấp ba (kể cả với một số em đi thi Học sinh giỏi Hóa) bỗng dưng xa lạ với chính môn học mà các em từng yêu thích một thời. Thật khó tin khi các nguyên lý cơ bản của Hóa cơ sở và Hóa nhiệt động – nền tảng kiến thức vững chắc – lại có thể “bốc hơi” một cách nhanh chóng như chưa từng tồn tại.
Ở Việt Nam, có một bộ môn vừa đặc biệt, vừa “khó nhằn”, vừa “độc nhất vô nhị” mà nhiều nước hiếm thấy, các thế hệ học sinh thường gọi vui là “Toán Văn Hóa học”. Đây là bộ môn mà học sinh không chỉ học Hóa, mà còn phải “đánh vật” giải những bài tập tính toán “khủng”, thậm chí là “siêu khủng” như: biến đổi liên quan đến hệ phương trình bậc 4, bậc 5, hệ nhiều ẩn, có những bài chiếm tới 1/3 trang giấy A4. Các bài tập này dài, phức tạp và yêu cầu logic cao đến mức học sinh dễ bị cuốn vào việc tính toán mà quên đi kiến thức cơ bản.
Điều bất ngờ là, ngay cả những học sinh từng nổi bật về Hóa học ở phổ thông, khi bước lên giảng đường đại học, lại bỡ ngỡ với những nguyên lý tưởng chừng đơn giản của Hóa học cơ sở và Hóa học nhiệt động. Nhiều em có thể giải các bài toán dài, nhưng lại quên đi những nguyên tắc nền tảng mà môn học dựa trên đó. Thực trạng này đặt ra một câu hỏi lớn: liệu áp lực về tính toán có đang vô tình làm phai nhạt nền tảng kiến thức cơ bản của học sinh?
Hệ lụy của việc “Toán hóa” quá mức môn Hóa học không còn là điều dự báo mà đã trở thành hiện thực. Trong vai trò giảng dạy Hóa học cơ sở ở bậc đại học, tôi không khỏi bàng hoàng khi nhận thấy sinh viên thường sai nhiều nhất ở những kiến thức tưởng chừng hết sức cơ bản: vẽ công thức cấu tạo, dự đoán hình học phân tử hay ước lượng góc liên kết. Thậm chí, nhiều em còn sai “hết sức vô lý” như vẽ oxygen hóa trị I, carbon hóa trị V, silicon hóa trị III, hay những lỗi vi phạm quy tắc bát tử (mặc dù không thuộc trường hợp ngoại lệ)…
Ngay cả trong học phần Hóa nhiệt động, nơi tính toán chiếm ưu thế, sinh viên có thể dùng máy tính để ra đáp số pH trong vài giây, nhưng khi được tôi yêu cầu chứng minh công thức đơn giản như: pH = 1/2 (pKₐ – logCₐ) (công thức tính pH của acid yếu), thì các em lại hoàn toàn bế tắc. Khi “chiếc gậy” là các dạng toán làm sẵn bị tước bỏ, tư duy Hóa học của các em lộ rõ những lỗ hổng thênh thang.
>> ‘Đáng lo khi học sinh né Lý, Hóa, Sinh thi tốt nghiệp THPT’
Một ví dụ điển hình của một bài tập dạng “Toán Văn Hóa học” là: “Hỗn hợp P gồm ba ester mạch hở trong đó có hai ester đơn chức X, Y (MX < MY < 110, nX > nY) và một ester đa chức Z. Cho 5,07 gam P vào 32,00 gam dung dịch NaOH 10% rồi cô cạn dung dịch sau khi các phản ứng kết thúc thấy thu được 5,96 gam phần rắn Q và phần hơi T (gồm hơi nước và hỗn hợp hai alcohol no có cùng số nguyên tử carbon trong phân tử). Thêm bột CaO và NaOH dư vào Q rồi nung hỗn hợp trong bình chân không thấy thu được hỗn hợp hai hydrocarbon, hỗn hợp này làm mất màu vừa đủ 0,02 mol Br₂ trong dung dịch. Đốt cháy hết phần hơi T thu được 2,016 lít khí CO₂ và 31,23 gam H₂O. Các phản ứng xảy ra hoàn toàn, các thể tích khí đo ở điều kiện tiêu chuẩn. Tính phần trăm khối lượng của Z trong P?”.
Để giải được bài tập trên, học sinh phải:
– Theo dõi nhiều dữ kiện phức tạp và tính toán nối tiếp;
– Áp dụng phản ứng xà phòng hóa, phản ứng với Br₂, định luật bảo toàn khối lượng;
– Tính toán số mol, khối lượng, liên hệ các phản ứng để tìm thành phần Z.
Mặc dù bài toán dài và nhiều bước, bản chất hóa học của các phản ứng này không phức tạp. Tuy nhiên, chính số liệu rườm rà và bước tính toán nối tiếp khiến học sinh dễ quên đi các kiến thức nền tảng: cơ chế phản ứng, bản chất phân cực của liên kết C=O trong ester, ảnh hưởng của cấu trúc phân tử đến nhiệt độ sôi của alcohol.
Mặt khác, nếu giáo viên yêu cầu các em: biểu diễn sự phân cực của liên kết C=O trong nhóm chức ester; hoặc hỏi “tại sao hai alcohol no cùng số nguyên tử carbon lại có nhiệt độ sôi khác nhau?”, thì nhiều em sẽ lúng túng, dù vẫn giải được bài toán tính phần trăm khối lượng Z một cách cơ học. Đây là minh chứng rõ ràng rằng việc tập trung quá nhiều vào kỹ năng tính toán dài dòng khiến tư duy hóa học cơ bản bị bỏ quên, dẫn đến nghịch lý: học sinh có thể giải được bài toán trong phút chốc, nhưng lại không hiểu bản chất của chính các chất mình đang thao tác.
Sở dĩ phương pháp dạy và học này trở nên “độc hại” là bởi nó vi phạm nghiêm trọng thuyết Tải nhận thức (thuyết “tam tải”, Cognitive Load Theory):
Thứ nhất, tải nội tại (phát sinh từ bản chất phức tạp của môn học) bị đẩy quá cao: độ khó của Hóa học lẽ ra nằm ở cấu tạo chất và các quá trình biến đổi, nhưng nay lại bị đánh tráo bằng sự lắt léo của toán học (phương trình bậc cao, hệ nhiều ẩn). Não bộ bị buộc phải ưu tiên xử lý thuật toán thay vì thấu hiểu quy luật vật chất.
Thứ hai, tải ngoại lai (đến từ cách trình bày hoặc phương pháp dạy học) quá tải: những đề bài dài “như một bài văn” và ma trận số liệu vụn vặt chính là “rác nhận thức”. Chúng chiếm dụng hết bộ nhớ ngắn hạn, khiến học sinh kiệt sức vì những phép tính số học thuần túy trước khi kịp chạm đến tư duy Hóa học.
Thứ ba, tải liên quan (phát sinh khi học sinh kết nối kiến thức mới với kiến thức cũ) bị triệt tiêu: đây là phần quan trọng nhất để hình thành kiến thức bền vững. Khi hai loại tải trên quá lớn, não bộ không còn không gian để kết nối và ghi nhớ bản chất.
Hệ quả là chúng ta đang đào tạo nên những “thợ giải toán” có phản xạ cực tốt với các con số, nhưng lại rỗng tuếch về tư duy Hóa học. Đó có lẽ là lý do mà sinh viên của tôi có thể giải hệ phương trình 4 hay 5 ẩn rất nhanh, nhưng lại “đứng hình” khi yêu cầu vẽ một công thức cấu tạo hay chứng minh một công thức pH căn bản – những kiến thức lẽ ra phải nằm trong bộ nhớ dài hạn.
Thực tế, học sinh sợ Hóa không phải vì ghét môn học này, mà vì các em bị kiệt sức trước những ma trận số liệu đa chiều. Khi Hóa học vượt ra khỏi không gian ba chiều quen thuộc, nó không còn là câu chuyện về sự kỳ diệu của vật chất, mà trở thành một cuộc chạy đua giải toán khô khan, nơi ống nghiệm và bản chất Hóa học chỉ còn là những cái tên xa lạ.
Hóa học là khoa học về cấu tạo chất và các quá trình biến đổi, từ phản ứng cơ bản trong phòng thí nghiệm đến những ứng dụng thực tiễn sâu rộng trong đời sống. Khi môn học bị “Toán hóa” quá mức, học sinh dễ bị cuốn vào các bài toán dài, phức tạp, và quên đi bản chất thực sự của hóa học: hiểu cấu tạo phân tử, dự đoán tính chất, và giải thích các hiện tượng hóa học.
Trong thực tiễn, những kiến thức cơ bản này vô cùng quan trọng: hiểu tính chất acid – base giúp kiểm soát pH trong xử lý nước; nắm cấu tạo và phản ứng hữu cơ là nền tảng để sản xuất thuốc, polymer, hoặc vật liệu mới; dự đoán tương tác hóa học giúp thiết kế thực phẩm, mỹ phẩm hay chất tẩy rửa an toàn. Khi học sinh chỉ biết “giải bài toán” mà không hiểu cơ chế, các em sẽ khó áp dụng hóa học vào các tình huống thực tế, từ phòng thí nghiệm đến đời sống hằng ngày.
Để khắc phục, chúng ta cần tái cân bằng cách dạy Hóa học đúng bản chất: giảm tải các bài toán rườm rà, nhấn mạnh cơ chế, nguyên lý và tư duy phân tích, kết hợp lý thuyết với thực hành và ứng dụng thực tiễn. Khi học sinh nắm vững nền tảng, các em không chỉ giải được bài toán, mà còn có khả năng vận dụng hóa học một cách sáng tạo, từ việc kiểm soát pH, thiết kế phản ứng hóa học, đến phát triển vật liệu và dược phẩm. Như vậy, Hóa học không còn là những con số trên giấy, mà là công cụ để hiểu và tác động lên thế giới xung quanh, đúng với bản chất khoa học của nó.
Nhiều ý kiến cho rằng, nếu không có những bài tập nặng tính toán, chúng ta sẽ không thể phân loại được học sinh khá, giỏi. Tôi không đồng tình. Vấn đề nằm ở chỗ chúng ta đang nhầm lẫn giữa năng lực giải Toán và tư duy Hóa học, và từ đó chọn cách dễ nhất: dùng độ phức tạp của Toán học để làm thước đo cho môn Hóa.
Thực chất, một học sinh giỏi Hóa không phải là người giải nhanh những hệ phương trình nhiều ẩn, mà là người hiểu sâu bản chất và có khả năng suy luận từ nguyên lý. Việc phân loại hoàn toàn có thể thực hiện bằng những tiêu chí đúng bản chất hơn: tư duy biện luận dựa trên cơ chế; khả năng thiết lập mô hình và chứng minh; năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn.
Một thang đo sai sẽ cho kết quả sai. Nếu tiếp tục dùng độ rối của phép tính để đánh giá năng lực, chúng ta sẽ chỉ tạo ra những “thợ giải” thành thạo con số nhưng thiếu hụt tư duy khoa học. Điều cần hướng tới là những học sinh có khả năng hiểu sâu và suy luận trong thế giới vật chất ba chiều – nơi Hóa học thực sự tồn tại, chứ không phải những người chỉ giỏi thao tác trong “không gian đa chiều” của các phương trình.
Nguyễn Vũ Hoàng’Học Toán vất vả vì nặng công thức, ít tư duy’
Tích phân, đạo hàm ‘khó nuốt’
Vật vã học Toán rồi quên sạch
Kỹ sư 20 năm kinh nghiệm chịu thua bài Toán tích phân lớp 12
Giá trị tích phân, đạo hàm nhìn từ chuyện Steve Jobs học thư pháp
Nhân viên bán hàng chê phí công học tích phân, đạo hàm
Mỗi mùa bế giảng đi qua, tôi lại nghe người ta nói đi nói lại một câu quen thuộc: "Giáo viên sướng thật, nghỉ hè hai tháng mà lương vẫn đều". Mới đây, một quy định mới về việc giáo viên được nghỉ hè 8 tuần, hưởng nguyên lương và phụ cấp, vô tình lại thổi bùng lên những tranh cãi ấy.
Nghe qua, nhiều người dễ hình dung đó là một khoảng thời gian thảnh thơi, đủ dài để giáo viên có thể thảnh thơi rời xa công việc. Nhưng thực tế của nghề này lại không vận hành theo cách mà những con số có thể diễn đạt trọn vẹn. Bởi nếu chỉ nhìn vào thời gian "được nghỉ", ta sẽ vô tình bỏ qua phần thời gian "vẫn đang làm" của nhà giáo, chỉ là họ không còn đứng trên bục giảng.
Giáo viên vẫn có thể được gọi trở lại bất cứ lúc nào cho những nhiệm vụ không thể trì hoãn: coi thi, chấm thi, tập huấn chuyên môn, hỗ trợ tuyển sinh... Những công việc ấy không ồn ào, nhưng lại đòi hỏi sự tập trung và trách nhiệm không kém, thậm chí có lúc còn căng thẳng hơn cả giờ lên lớp.
Vì thế, nói giáo viên "nghỉ hè" không có nghĩa là họ được "nghỉ hoàn toàn". Đó giống như một quãng chuyển nhịp từ dạy học trực tiếp sang những công việc phía sau "cánh gà", nơi ít được nhắc đến nhưng lại giữ vai trò không thể thay thế. Từng đi qua nghề này, nên tôi hiểu: có những áp lực không nằm ở số tiết dạy, mà nằm ở trách nhiệm phải làm cho đúng ngay cả khi lớp học đã vắng tiếng học trò.
Giáo viên không làm việc theo kiểu đến cơ quan, chấm công rồi ra về. Công việc của họ không kết thúc khi hết giờ học, và cũng không bắt đầu khi tiếng trống vang lên. Nó trải dài theo năm học, dồn lại ở những giai đoạn cao điểm như kiểm tra, thi cử, tổng kết - nơi mà cường độ làm việc không chỉ tăng lên, mà đôi khi còn "chiếm trọn" cả thời gian riêng tư. Có những buổi tối sửa bài đến khuya, những ngày cuối kỳ gần như không có khái niệm nghỉ ngơi. Nhưng những phần việc ấy lại không hiện lên trên bảng chấm công.
>> 'Chấm dứt dạy thêm khi lương giáo viên tăng'
Có một sự thật là giáo viên hiếm khi "nghỉ hè" theo đúng nghĩa của hai chữ ấy. Mùa hè đến, lớp học khép lại, nhưng công việc thì không. Người thì tranh thủ học thêm để theo kịp đổi mới chương trình, người lặng lẽ chuẩn bị giáo án cho năm học mới, chỉnh sửa từng chi tiết nhỏ với mong muốn lần dạy sau sẽ tốt hơn.
Vì thế, tôi cho rằng, nếu chia đều công sức trong suốt một năm, việc giáo viên được "nghỉ hè 8 tuần, hưởng nguyên lương và phụ cấp" không phải là ưu đãi đặc biệt, mà là phần được trả đủ cho một chu kỳ lao động đã bị nén chặt. Lương trong mùa hè, suy cho cùng, không phải là tiền cho sự nhàn rỗi, mà là cách hệ thống trả công cho những tháng ngày làm việc không có ranh giới rõ ràng giữa giờ làm và giờ nghỉ.
Hiểu như vậy để thấy, câu chuyện không nằm ở việc giáo viên có "được ưu ái" hay không, mà là chúng ta có nhìn đúng giá trị lao động của họ hay chưa? Và khi nhìn đúng, có lẽ sẽ bớt đi những so sánh vội vàng để thay vào đó là một cách nhìn công bằng hơn và cũng nhân văn hơn với một nghề vốn đã quen với việc cho đi nhiều hơn nhận lại.
Điều đáng quan tâm hơn là những thay đổi ấy có đủ để giáo viên bớt phải lo toan, để họ có thể tạm gác công việc mà nghỉ ngơi đúng nghĩa, không còn mang theo nỗi bận tâm về cơm áo hay áp lực chuyên môn. Bởi suy cho cùng, một nền giáo dục muốn bền vững thì không chỉ cần những chính sách đúng, mà còn cần những con người đủ sức đi đường dài. Và để đi được đường dài, cần có lúc dừng lại để giữ cho người thầy còn đủ sức đi tiếp trên con đường đã chọn.
Vũ Thị Minh Huyền'Em tôi giáo viên lương 5,4 triệu nhưng ai cũng nghĩ giàu'
Hơn 20 năm lương thấp khiến tôi hối hận vì không học Sư phạm
Ám ảnh giáo viên dạy thêm thu nhập 40 triệu
Vợ chồng giáo viên lương cao hơn con gái làm ngân hàng
Gia đình tôi sáu người làm giáo viên nhưng không ai kêu khổ
Năm ngoái, vào kỳ nghỉ lễ 30/4 - 1/5, tôi chạy xe máy từ Bình Dương về quê ở Trà Vinh mất 9 tiếng đồng hồ. Tôi đi từ 17h chiều đến 2h sáng hôm sau mới tới nhà. Đó là một trải nghiệm thật sự kinh hoàng vì kẹt xe.
Hiện nay, nhu cầu mở rộng quốc lộ 1A về miền Tây Nam Bộ phục vụ phát triển kinh tế xã hội đang trở nên cấp bách. TP HCM đã có dự án nâng cấp, mở rộng quốc lộ 1A đoạn qua huyện Bình Chánh và quận Bình Tân (cũ) dự kiến khởi công vào quý IV/2026, hoàn thành năm 2028-2029. Tuyến đường dài hơn 9,6 km (từ Kinh Dương Vương đến ranh Long An) sẽ được mở rộng từ 20-25 m lên 60 m, quy mô 10-12 làn xe với tổng mức đầu tư hơn 16.000 tỷ đồng.
Đây là tín hiệu rất đáng mừng cho hàng triệu người dân miền Tây đang sinh sống và làm việc ở TP HCM và các tỉnh miền Đông Nam Bộ. Bởi vì mỗi dịp lễ, Tết, người miền Tây thường chọn phương tiện là xe máy, ôtô để về quê, vì gần và tiện, gây nên cảnh kẹt xe kinh hoàng suốt trục đường từ TP HCM đến ngã ba Trung Lương.
Nhưng còn đoạn qua Tây Ninh, Đồng Tháp (sau sát nhập) thì sao? Hiện nay, quốc lộ 1A từ Cầu Bến Lức đến ngã ba Trung Lương mỗi dịp lễ, Tết kẹt xe triền miên khi xe máy, ôtô, xe khách....cùng chen chúc, nhích từng chút một trên tuyến đường duy nhất, nắng nóng, khói bụi.
Theo tôi, có một giải pháp cho tình trạng này, đó là mở rộng đường dân sinh dưới cao tốc TP HCM - Trung Lương.
>> 'Đường một chiều là lối thoát kẹt xe cho ngã tư Hàng Xanh'
Có rất nhiều lợi ích từ việc mở rộng này:
Thứ nhất, tiết kiệm được nguồn ngân sách khổng lồ: Nếu mở rộng quốc lộ 1A theo cách cũ (đền bù, giải phóng mặt bằng) thì sẽ tốn một khoản tiền rất lớn vì dân cư hai bên hiện dày đặc, lại mất rất nhiều thời gian. Trong khi đó, đường dân sinh chủ yếu chạy giữa cánh đồng, dân cư rất thưa thớt, chi phí giải phóng mặt bằng rất thấp.
Thứ hai, hạn chế tai nạn giao thông: Trên quốc lộ 1A, xe máy đi sát với xe tải, container, xe khách vô cùng nguy hiểm.
Thứ ba, tận dụng hành lang an toàn: Đường dân sinh dưới cao tốc đã có sẵn quỹ đất, hành lang bảo vệ. Việc nâng cấp, thảm nhựa, mở rộng các đoạn này sẽ nhanh và rẻ hơn nhiều so với xây mới.
Thứ tư, phân luồng thông minh: Hiện nay, xe máy đổ dồn vào quốc lộ 1A tạo nhiều nút thắt cổ chai. Nếu đường dân sinh mở rộng và thông suốt chạy song hành cao tốc, thì lượng xe máy và xe thô sơ sẽ chia lửa cho quốc lộ 1A rất tốt.
Thứ năm, kết nối chiến lược: Đoạn từ Bến Lức về gần Trung Lương, rẽ phải đi hướng cầu Rạch Miễu 2 sẽ tạo nên một trục giao thông mới hướng về Tây Ninh, Đồng Tháp, Vĩnh Long mà không phải đi qua Trung Lương hay Mỹ Tho.
Thứ sáu, phát triển kinh tế - xã hội, giãn dân ở các địa phương đường dân sinh đi qua.
Nút thắt duy nhất là trên trục đường dân sinh hàng chục km kéo dài từ Bến Lức đến gần Trung Lương, có một nút thắt, đó là bến đò Trung Hiếu (Tân An). Chỗ này hiện chưa xây cầu, nếu có một cây cầu kiên cố, để xe thô sơ đi qua là thông tuyến liền mạch.
Đã đến lúc tỉnh Tây Ninh, Đồng Tháp và Bộ GTVT khảo sát tính khả thi, cần nhìn nhận hành lang cao tốc TP HCM - Trung Lương như một trục giao thông kép, trên ôtô, dưới xe máy, để người dân miền Tây mỗi dịp lễ, Tết không phải lụy đường, khỏi đau khổ mỗi lần kẹt xe.
Nguyễn Trung PhươngChuyển làn 12 lần dù cao tốc Pháp Vân - Cầu Giẽ tắc dài
Mòn mỏi chờ mở rộng Quốc lộ 13 để chấm dứt cơn ác mộng kẹt xe
'Hết ngập, chỉ mưa rả rích sao Hà Nội vẫn tắc cứng'
Vòng luẩn quẩn 'kẹt xe, đường bé nên phải leo vỉa hè'
Phân 4 luồng ôtô chống kẹt xe nút giao An Phú
'Mở đường Nguyễn Kiệm hai chiều để giảm kẹt xe cho Gò Vấp'
Hôm nay tôi đọc được bài viết sẽ thí điểm chính sách về 'doanh nghiệp một người' tôi xin chia sẻ khó khăn của người chủ "doanh nghiệp một người" mà bản thân tôi đã trải qua dưới đây:
Cách đây một thời gian, tôi xin được giấy phép đăng ký kinh doanh đi khai báo với cơ quan thuế thì mẫu khai báo với thuế công ty phải có kế toán trưởng, mà tôi lập công ty chỉ có một mình (công ty một người) nên đành phải tuyển thêm một kế toán trưởng, đã có kế toán trưởng thì phải có kế toán viên nên đành phải tuyển thêm một kế toán viên vậy là công ty có ba người (cả tôi).
Vì điều kiện tài chính, hoạt động được ba tháng thì kế toán nghỉ việc và công ty chỉ còn một mình tôi (công ty một người).
Nhưng tôi không biết về kế toán, các tên gọi về chương, khoản, mã kế toán thực sự là ngoài sức của tôi để mình có thể tự kê khai thuế vì vậy "công ty một người" rơi vào bờ vực khủng hoảng không thể hoạt động bình thường.
Tôi đành gác doanh nghiệp một người lại và không quan tâm đến nó nữa. Sau đó, tôi có ý định vực dậy công ty trước kia mà tôi từng mở nhưng đi chạy vạy hỏi han nhiều đơn vị tư vấn luật và kê khai thuế họ đều khuyên nên lập doanh nghiệp mới dễ hơn.
Nếu vực dậy doanh nghiệp cũ sẽ có nguy cơ bị phạt số tiền lớn. 10 năm sau tôi tiếp tục xin giấy phép mở một công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, thời điểm này quy định thuế có mở hơn, khuyến khích doanh nghiệp thuê đơn vị khai báo thuế ngoài.
Do vậy sau khi có giấy phép kinh doanh tôi thuê dịch vụ khai báo kế toán. Do vậy công ty tôi là "doanh nghiệp một người" đúng nghĩa (chỉ có một mình tôi). Tuy nhiên vấn đề phát sinh ở chỗ đơn vị khai báo kế toán của tôi thu tiền trên phần trăm tổng giá trị của từng tờ hóa đơn giao dịch. Cụ thể thu 20% tổng giá trị trên từng tờ hóa đơn.
Cứ nghĩ đến điều này là tôi lại run bần bật, buộc tôi phải nâng giá sản phẩm của công ty nên biên độ lợi nhuận 30% trở nên công ty mới có lãi. Là giám đốc tôi tính biên độ lợi nhuận của công ty là 20% là phổ biến, thậm chí nhiều sản phẩm biên độ lợi nhuận chỉ 5% thôi. Thị trường có phải riêng một mình đâu, cạnh tranh với nhau từng phần trăm lợi nhuận.
Mặt khác mình làm được bao nhiêu thì lợi nhuận đổ vào cho đơn vị dịch vụ kế toán hết. Công ty hoạt động không hiệu quả nên đành gác "doanh nghiệp một người" lại.
Vậy là cả hai lần lập "doanh nghiệp một người" đều không thành công. Giờ tôi nghe tin thí điểm chính sách về "doanh nghiệp một người" tôi nghĩ phải có sự chung tay của cơ quan chức năng và các đơn vị công nghệ thông tin giải quyết sao được bài toán thực tế một cách kỹ lưỡng và cẩn thận nhất, làm sao "doanh nghiệp một người" cạnh tranh được với "doanh nghiệp nhiều người".
Doanh nghiệp một người không phải là không có mà thực tế có rất nhiều nhưng đa phần ngưng hoạt động hoặc chuyển khỏi địa chỉ đăng ký kinh doanh hoặc dỡ biển hiệu, ngưng hoạt động. Do vậy cần lắm có chính sách miễn phạt thuế để tạo điều kiện các doanh nghiệp này quay trở lại hoạt động. Khi đó hàng ngàn doanh nghiệp sẽ tái xuất hoạt động trở lại là tất yếu.
Tôi rất mong cơ quan chức năng và các công ty công nghệ thông tin đọc được bài viết này để tháo gỡ khó khăn cho "doanh nghiệp một người" như tôi.