Lúc 8 giờ 21, giá vàng miếng SJC được Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) mua vào và bán ra ở mức 169,4 – 172,4 triệu đồng/lượng, giảm 500.000 đồng so với chốt ngày 10.4.
Trong tuần (từ 5 – 11.4), giá vàng miếng SJC biến động thất thường, cao nhất ghi nhận ngày 8.4 (174 – 177 triệu đồng/lượng) và thấp nhất ghi nhận ngày 9.4 (167,5 – 171,5 triệu đồng/lượng). Tính chung tuần này, giá vàng miếng SJC giảm 2,1 triệu đồng/lượng.
So với mức giá cao nhất từ đầu tháng 3 tới nay ghi nhận ngày 2.3 (187,9 – 190,9 triệu đồng/lượng), giá mỗi lượng vàng miếng SJC đã giảm 18,5 triệu đồng. Người mua vàng từ ngày 2.3 tới nay đã lỗ 21,5 triệu đồng/lượng.
Giá vàng SJC trong nước hiện cao hơn giá vàng thế giới 21,5 triệu đồng/lượng.
Mở cửa thị trường sáng nay, giá bạc diễn biến trái chiều giá vàng. Lúc 8 giờ 36, Công ty cổ phần kim loại quý Ancarat Việt Nam niêm yết giá mua vào và bán ra bạc 1 lượng là 2,845 – 2,933 triệu đồng, tăng 16.000 đồng; bạc 1 kg là 75,867 – 78,213 triệu đồng, tăng 427.000 – 426.000 đồng.
Tại thời điểm 8 giờ 31, Công ty Vàng bạc đá quý Phú Quý niêm yết mua vào và bán ra bạc 1 lượng như sau: 2,851 – 2,939 triệu đồng, tăng 14.000 đồng; bạc 1 kg có giá 76,026 – 78,373 triệu đồng, tăng 373.000 – 374.000 đồng.
Lúc 8 giờ 31, Tập đoàn Vàng bạc đá quý DOJI mua vào và bán ra bạc 1 lượng và 5 lượng lần lượt là: 2,861 – 2,959 triệu đồng và 14,305 – 14,795 triệu đồng. So với chốt ngày 10.4, giá bạc 1 lượng tăng 14.000 đồng, giá bạc 5 lượng tăng 70.000 đồng.
Trong tuần (từ 5 – 11.4), giá mỗi kg bạc tăng gần 3 triệu đồng. Tuy nhiên, nếu so với mức giá cao nhất từ tháng 3 tới nay ghi nhận ngày 2.3 (bán ra gần 99 triệu đồng/kg), giá mỗi kg bạc đã giảm hơn 20 triệu đồng, có nghĩa là người mua lỗ gần 23 triệu đồng/kg.
Trên thị trường thế giới, giá vàng giao ngay tại thời điểm 9 (giờ Việt Nam) hôm nay là 4.747,2USD/ounce, giảm 18,3 USD/ounce (tương đương 0,38%); giá bạc giao ngay là 75,76 USD/ounce, tăng 0,55 USD/ounce (tương đương 0,73%) so với chốt phiên hôm qua.
Khảo sát vàng hàng tuần mới nhất của Kitco News cho thấy, cả phố Wall và nhà đầu tư cá nhân đều sẵn sàng quay lại thị trường vàng sau lệnh ngừng bắn 2 tuần giữa Mỹ và Iran.
Với 14 nhà phân tích: 50% dự đoán giá vàng tăng, 14% dự đoán giảm, 36% giữ quan điểm trung lập. Với nhà đầu tư cá nhân: 63% kỳ vọng giá tăng, 20% dự đoán giảm và 18% cho rằng giá sẽ đi ngang.
Theo ông Colin Cieszynski, Giám đốc chiến lược thị trường tại SIA Wealth Management, hiện tại không nên đặt cược theo hướng nào.
Vàng đang đi ngang sau đợt tăng mạnh từ khoảng 3.200 – 3.300 USD/ounce lên tới 5.300 USD/ounce chỉ trong 6 tháng. Giá hiện dao động trong khoảng 4.400 – 5.200 USD/ounce và đang ở giữa biên độ này.
Do sự bất ổn liên quan đến chiến tranh, giá có thể biến động mạnh từng ngày nhưng không ai biết theo hướng nào. Thậm chí, giá có thể đổi chiều vài lần trong ngày.
Diễn ra từ ngày 8 - 11.4, SaigonTex - SaigonFabric 2026 năm nay có chủ đề "Xu hướng AI và phát triển ngành dệt may bền vững" nhằm giúp các doanh nghiệp nắm bắt xu hướng thị trường và tiếp cận trực tiếp các thiết bị và giải pháp công nghệ dệt may mới nhất, thúc đẩy quá trình chuyển đổi của doanh nghiệp trong ngành.
Hiện nay, các công nghệ dệt may trên thế giới đã có rất nhiều cải tiến, từ quy trình cắt, may, đến các khâu hoàn thiện như gấp, đóng gói sản phẩm hay vệ sinh nhà máy đều đã được tự động hóa. Trong đó, các công nghệ giải pháp tự động và robot đang được áp dụng nhiều dòng sản phẩm máy may như của HIKARI, VITONI, CHNKI, ROBOTECH... hay các giải pháp gấp gói hoàn thiện của THERMOTRON và ASIA ROBOTICS; giải pháp xe tự hành, vệ sinh hút bụi thông minh PUDU phục vụ trong tất cả các khu vực nhà xưởng; cho đến các giải pháp cắt trải tự động thông minh của iECHO và Timing, Maika.
Ngoài ra, còn có các giải pháp điều hòa không khí sử dụng nước tuần hoàn tiết kiệm điện và thân thiện với môi trường. Tại triển lãm năm nay, Phồn Thịnh - Tae Gwang mang tới 8 gian hàng tương ứng với các khâu khác nhau trong quy trình khép kín của hệ sinh thái nhà máy may, với định hướng rõ ràng là tối ưu hóa sản xuất thông qua số hóa, tự động hóa và các công nghệ hỗ trợ vận hành, thay vì chỉ dừng ở các cải tiến đơn lẻ từng thiết bị.
Chia sẻ tại sự kiện, ông Vũ Đức Giang, Chủ tịch Hiệp hội Dệt May Việt Nam (VITAS) cho biết: Các doanh nghiệp dệt may đang bước vào một giai đoạn mới, với đơn hàng yêu cầu thời gian giao nhanh hơn, giá cạnh tranh hơn và đặc biệt là chất lượng cao hơn. Trong bối cảnh chung, xu hướng đổi mới công nghệ, tối ưu hóa sản xuất thông qua số hóa, tự động hóa và các công nghệ hỗ trợ vận hành, đặc biệt là ứng dụng trí tuệ nhân tạo AI, đang trở thành yêu cầu bắt buộc nhằm tối ưu chi phí, nâng cao năng suất và đáp ứng các tiêu chuẩn sản xuất bền vững. "Doanh nghiệp cần thiết quan tâm đầu tư hạ tầng nhà xưởng đạt chuẩn đánh giá quốc tế, đầu tư công nghệ, tự động hóa, robot và thậm chí ứng dụng AI trong sản xuất", ông Vũ Đức Giang nhấn mạnh.
Ông Wu Liang Jie - Chủ tịch Tập đoàn HIKARI (Thượng Hải) cho biết: "Hiện ngành dệt may Việt Nam đang đối mặt với những thách thức mới như chi phí lao động tăng hay thiếu hụt lao động, đây là xu hướng tất yếu mà bất kỳ quốc gia nào cũng gặp phải khi phát triển đến một giai đoạn nhất định. Trên thực tế, lợi thế cạnh tranh cốt lõi của ngành dệt may Việt Nam đã được hình thành. Giai đoạn tiếp theo sẽ là quá trình tích hợp các công nghệ tiên tiến hơn, thiết bị hiện đại hơn, phương thức quản lý hiệu quả hơn và tư duy vận hành mới, từ đó vừa giải quyết thách thức, vừa mở ra một giai đoạn phát triển mới".
Ông Nguyễn Văn Tiếp, Phó tổng giám đốc Công ty TNHH Phồn Thịnh - Tae Gwang, cho biết các doanh nghiệp dệt may đã thực hiện chuyển đổi khoảng 30 - 40% các thiết bị sang công nghệ mới. Việc chuyển đổi này đã góp phần nâng tầm vị thế cho doanh nghiệp, đồng thời, cải thiện năng suất rõ rệt. "Quan trọng hơn là chất lượng sản phẩm đầu ra được đồng nhất, không phụ thuộc vào tay nghề của công nhân. Ngoài ra, việc tự động hóa, chuyên biệt hóa cũng giúp các doanh nghiệp đẩy nhanh quá trình số hóa, hướng đến xanh hóa để theo kịp xu hướng của thế giới", ông Tiếp nói.
Ngày 20.4, đại diện Ban Quản lý dự án Hàng hải và Đường thủy (Bộ Xây dựng) cho biết, 3 cây cầu thuộc Dự án nâng cao tĩnh không các cầu đường bộ cắt qua tuyến đường thủy nội địa quốc gia (giai đoạn 1, khu vực phía nam) gồm Sa Đéc, Hồng Ngự và Giồng Găng (ở Đồng Tháp) đã hoàn thành và chính thức thông xe.
Việc đưa các cây cầu này vào khai thác không chỉ giúp người dân đi lại thuận tiện hơn, mà còn từng bước tháo gỡ "nút thắt" lâu nay trên các tuyến vận tải thủy. Hiện, đơn vị đang hoàn tất các thủ tục nghiệm thu, chuẩn bị bàn giao công trình cho địa phương quản lý.
Dự án do Bộ Giao thông Vận tải (nay là Bộ Xây dựng) phê duyệt, có tổng vốn đầu tư hơn 2.155 tỉ đồng, được xem là một trong những công trình hạ tầng giao thông trọng điểm của khu vực ĐBSCL. Theo quy hoạch, dự án sẽ xây mới 9 cầu, cải tạo 1 cầu và tháo dỡ 1 cầu, nhằm nâng cao tĩnh không, tạo điều kiện cho tàu thuyền lưu thông thuận lợi.
Dự án được chia thành 2 gói thầu xây lắp. Trong đó, gói CĐT-XL01 gồm các hạng mục cầu Mộc Hóa, Sa Đéc, Hồng Ngự, Mỏ Cày, cải tạo cầu Giồng Găng và tháo dỡ cầu Măng Thít. Gói CĐT-XL02 triển khai xây dựng các cầu Đông Thuận, Đông Bình, Ô Môn, Thới Lai và Vàm Xáng - Thị Đội.
Riêng tại Đồng Tháp, cầu Sa Đéc và Hồng Ngự được xây mới hoàn toàn, còn cầu Giồng Găng được cải tạo, nâng cấp để phù hợp với yêu cầu khai thác hiện đại.
Khi toàn bộ dự án hoàn thành, hệ thống vận tải đường thủy nội địa trên các tuyến quốc gia sẽ được khai thác đồng bộ, nâng cao năng lực vận chuyển hàng hóa giữa khu vực ĐBSCL với TP.HCM và các cụm cảng biển Đông Nam bộ; đồng thời công trình còn góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giảm áp lực giao thông đường bộ, hạn chế tai nạn và tăng cường đảm bảo quốc phòng, an ninh khu vực.
Phát họa bức tranh tổng thể của ngành cà phê Việt Nam, ông Nguyễn Thành Tài, Ủy viên Ban chấp hành Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam (VICOFA) nói: Năm 2025, xuất khẩu cà phê đạt khoảng 1,59 triệu tấn, giá trị kim ngạch 9 tỉ USD nhưng xuất khẩu nguyên liệu vẫn là chủ yếu. phân khúc cà phê rang xay, hòa tan và phối trộn đạt hơn 1,4 tỉ USD nhưng phần lớn nằm trong tay của các doanh nghiệp FDI.
Để nâng cao kim ngạch xuất khẩu, chế biến sâu là con đường trực tiếp nhất. Thực tế, các sản phẩm chất lượng cao đòi hỏi nguồn nguyên liệu đồng đều, có khả năng truy xuất và đạt chuẩn. Vì vậy, càng đi sâu vào chế biến, doanh nghiệp càng buộc phải đầu tư bài bản cho vùng trồng, khâu sơ chế, logistics và hệ thống dữ liệu qua đó nâng cao giá trị cà phê nguyên liệu Việt Nam.
"Bên cạnh đó, chế biến sâu còn mở ra dư địa phát triển kinh tế tuần hoàn trong ngành cà phê. Một chuỗi giá trị hiện đại không chỉ dừng ở hạt cà phê mà còn khai thác hiệu quả các phụ phẩm như cascara, vỏ quả, sinh khối… Đây là lĩnh vực giàu tiềm năng nhưng vẫn chưa được khai thác tương xứng tại Việt Nam", ông Tài nhận định.
Ông Trần Văn Công, Tham tán Nông nghiệp Việt Nam xác nhận, Châu Âu là thị trường tiêu thụ cà phê Việt Nam nhiều nhất nhiều người dân EU, kể cả một số cán bộ công chức cũng không biết gì về cà phê Việt Nam. Nguyên nhân vì Việt Nam chủ yếu xuất cà phê nhân vào thị trường nàynên sản phẩm không có thương hiệu dẫn đến người tiêu dùng thông thường không ai biết gì về cà phê Việt Nam.
Theo ông Công, EU hiện là một trong 2 trung tâm tiêu thụ cà phê lớn nhất thế giới quy mô thị trường trên 26 tỉ USD và sản lượng hàng năm khoảng 2,7 triệu tấn. Đây là thị trường có sức mua rất lớn, với mức tiêu thụ bình quân gần 20 kg/ người/ năm nhưng Việt Nam mới xuất khẩu sang EU khoảng 580.000 tấn, đạt kim ngạch 3,2 tỉ USD, đứng thứ hai sau Brazil. Việt Nam mạnh ở khâu đầu chuỗi - cung cấp nguyên liệu,nhưng còn hạn chế ở các khâu có giá trị gia tăng cao, dẫn đến việc bỏ lỡ nhiều cơ hội nâng cao giá trị. "Những con số trên cho thấy tiềm năng, cơ hội và dư địa cho hạt cà phê Việt Nam còn rất lớn nếu biết cách đầu tư khai thác hiệu quả ở phân khúc chế biến sâu nhằm tạo ra giá trị gia tăng", ông Công lưu ý.
Ở góc độ doanh nghiệp, ông Nguyễn Đức Hưng, Giám đốc Công ty CP SX-TM-XNK Cà phê Napoli cho biết, tính chung cả nước, Việt Nam ước có khoảng 10.000 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực cà phê nhưng ít doanh nghiệp mạnh và đặc biệt không có doanh nghiệp mạnh trên thị trường quốc tế. Trong khi như cả Trung Quốc chỉ có khoảng 500 doanh nghiệp, nhưng có rất nhiều doanh nghiệp tên tuổi. Tại Mỹ, số lượng doanh nghiệp cũng không nhiều nhưng đa số đều có năng lực cạnh tranh cao.
Ông Thái Anh Tuấn Tổng Giám đốc Công ty TNHH MTV Xuất nhập khẩu 2.9 Đắk Lắk (Simexco Daklak) một trong những doanh nghiệp xuất khẩu cà phê lớn nhất Việt Nam hiện nay nói rằng: Để phát triển chế biến sâu, doanh nghiệp cần hội đủ ba yếu tố: vốn, công nghệ và thị trường. Doanh nghiệp phải đáp ứng đúng nhu cầu thị trường, đồng thời có nguồn cung ổn định từ các HTX. Hiện nay, hoạt động xuất khẩu được thực hiện theo các tiêu chuẩn quốc tế, với hệ thống truy xuất nguồn gốc đầy đủ. Người mua có thể truy xuất đến từng container, từng hộ nông dân và vùng trồng cụ thể. Đây là điều kiện quan trọng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường. Nhưng vấn đề đầu tư vào công nghệ chế biến, xây dựng và phát triển thị trường gắn với thương hiệu sản phẩm riêng thì cần phải có vốn lớn và lộ trình phù hợp. Hiện doanh nghiệp đang lựa chọn thị trường phù hợp, triển khai từng bước chắc chắn trước khi đầu tư mạnh vào chế biến sâu.
Ông Nguyễn Quang Bình, chuyên gia thị trường cà phê nhận định: Doanh nghiệp trong nước cũng chưa nhận được sự hỗ trợ tương xứng, đặc biệt từ hệ thống ngân hàng - lực lượng có vai trò quan trọng trong việc kết nối và duy trì chuỗi cung ứng. Trong khi đó, khối doanh nghiệp nước ngoài (FDI) được hậu thuẫn mạnh từ hệ thống tài chính để giữ vững vị trí trong chuỗi.
TS Đỗ Việt Hà, Phó Chủ tịch Hiệp hội nông nghiệp hữu cơ Việt Nam cũng khẳng định: Nếu so với gạo hay thủy sản chính sách cho cà phê vẫn chưa tương xứng. "Một ngành đạt giá trị xuất khẩu đến 9 tỉ USD nhưng lại chưa có chính sách riêng để tiếp tục phát triển mạnh hơn nữa là vấn đề cần lưu ý", ông Hà trăn trở.
Nhà báo Tô Đình Tuân, Tổng biên tập Báo Người Lao Động, nhấn mạnh: Nếu thúc đẩy chế biến sâu hiệu quả, theo hướng chuẩn mực và nghiêm túc, ngành cà phê Việt Nam không chỉ dừng lại ở mức 8 - 9 tỉ USD mà trong vài năm tới hoàn toàn có thể hướng đến những cột mốc hàng chục tỉ USD. Để đạt được những kỷ lục mới, cần xác định chế biến sâu là một trục chiến lược quốc gia, với sự tham gia của doanh nghiệp, các cơ quan, ban ngành, các đơn vị liên quan và cả cơ quan truyền thông. Bên cạnh đó, cần tạo cú hích về tài chính cho doanh nghiệp, vì đây là điểm nghẽn lớn nhất. Muốn vậy, cần có chính sách miễn, giảm thuế; giảm thuế nhập khẩu máy móc. Ngoài ra cần phát triển vùng nguyên liệu chuẩn hóa. Nếu không có nguồn nguyên liệu đạt chuẩn thì không thể phát triển chế biến sâu.