Năm nay, Hà Nội có 119 trường THPT công lập không chuyên, chỉ tiêu lớp 10 là hơn 78.300, tương đương 55% học sinh hoàn thành chương trình THCS.
Phụ huynh và các em đăng ký nguyện vọng từ ngày 10 đến 17/4. Điểm mới là học sinh có thể nhìn thấy số lượng nguyện vọng 1, 2 và 3 đặt vào từng trường theo thời gian thực, từ đó tính được tỷ lệ chọi.
Dưới đây là điểm chuẩn lớp 10 ở Hà Nội trong ba năm 2023-2025, tính theo trung bình môn để phụ huynh, học sinh tham khảo:
STT
Trường
2023
2024
2025
1
THPT Phan Đình Phùng
8,55
8,35
8,42
2
THPT Phạm Hồng Thái
8,15
7,5
7,58
3
THPT Nguyễn Trãi – Ba Đình
7,95
7,7
6,75
4
THPT Tây Hồ
7,75
7,55
7,25
5
THPT Trần Phú – Hoàn Kiếm
8,35
7,9
7,72
6
THPT Việt Đức
8,6
8,25
8,42
7
THPT Thăng Long
8,2
8,45
8,08
8
THPT Trần Nhân Tông
7,95
7,95
7,5
9
THPT Đoàn Kết – Hai Bà Trưng
8
4,75
6,92
10
THPT Đống Đa
7,9
7,3
7,33
11
THPT Kim Liên
8,65
8,35
8,5
12
THPT Lê Quý Đôn – Đống Đa
8,2
7,95
7,92
13
THPT Quang Trung – Đống Đa
8
7,55
7,58
14
THPT Nhân Chính
8,2
8,25
8
15
THPT Trần Hưng Đạo – Thanh Xuân
7,6
7,65
6,83
16
THPT Khương Đình
7,65
7,35
6,75
17
THPT Khương Hạ
7,5
7,2
6,75
18
THPT Cầu Giấy
8,3
8
7,92
19
THPT Yên Hòa
8,45
8,5
8,33
20
THPT Hoàng Văn Thụ
7,45
7,65
6,83
21
THPT Trương Định
7,7
7,45
7,08
22
THPT Việt Nam – Ba Lan
7,55
7,8
7,08
23
THPT Ngô Thì Nhậm
7,4
6,85
7,08
24
THPT Ngọc Hồi
6,4
7,55
6,67
25
THPT Đông Mỹ
7,1
6,6
5,83
26
THPT Nguyễn Quốc Trinh
7
6,25
6,17
27
THPT Nguyễn Gia Thiều
8,35
8,35
8,33
28
THPT Lý Thường Kiệt
7,75
7,3
7
29
THPT Thạch Bàn
7,3
7,3
5,75
30
THPT Phúc Lợi
7,55
7,55
4,83
31
THPT Cao Bá Quát – Gia Lâm
7,65
7,15
7,17
32
THPT Dương Xá
7
7,25
6,25
33
THPT Nguyễn Văn Cừ
7,15
7
6,25
34
THPT Yên Viên
7,35
7,2
6,42
35
THPT Đa Phúc
6,45
7,25
6,25
36
THPT Kim Anh
6,2
6,4
5,67
37
THPT Minh Phú
5,8
5,95
5,17
38
THPT Sóc Sơn
6,85
6,95
6,58
39
THPT Trung Giã
6,5
5,95
5,75
40
THPT Xuân Giang
6,1
6,25
5,5
41
THPT Bắc Thăng Long
7,05
7,05
6,92
42
THPT Cổ Loa
7,35
7
6,75
43
THPT Đông Anh
6,85
6,8
6,17
44
THPT Liên Hà
7,5
7,1
6,75
45
THPT Vân Nội
6,8
6,8
6,33
46
THPT Mê Linh
7
7,1
6,25
47
THPT Quang Minh
6,1
5,9
5,58
48
THPT Tiền Phong
6,3
6,2
5,5
49
THPT Tiến Thịnh
5,4
5,2
4,92
50
THPT Tự Lập
5,2
5,65
4,5
51
THPT Yên Lãng
6,55
6,2
6,25
52
THPT Nguyễn Thị Minh Khai
8,2
8,25
8,25
53
THPT Xuân Đỉnh
7,95
8,05
7,83
54
THPT Thượng Cát
7,25
7,45
6,33
55
THPT Đại Mỗ
6,95
7,05
6,25
56
THPT Trung Văn
7,55
7,35
6,67
57
THPT Xuân Phương
7,45
7,55
6,67
58
THPT Mỹ Đình
8
7,9
7,67
59
THPT Hoài Đức A
6,9
7,25
6,33
60
THPT Hoài Đức B
6,65
6,95
6,42
61
THPT Vạn Xuân – Hoài Đức
6,3
6,65
5,67
62
THPT Hoài Đức C
6,05
6,45
5,92
63
THPT Đan Phượng
6,85
6,8
6,83
64
THPT Hồng Thái
6,05
5,9
5,58
65
THPT Tân Lập
6,6
6,8
5,58
66
THPT Thọ Xuân
5,1
6,15
3,33
67
THPT Ngọc Tảo
5,8
5,25
5,17
68
THPT Phúc Thọ
5,7
5,8
5,33
69
THPT Vân Cốc
4,95
5,3
4,83
70
THPT Tùng Thiện
6,6
6,75
6,83
71
THPT Xuân Khanh
4,45
4,9
4,33
72
THPT Ba Vì
4,9
4,5
4,67
73
THPT Bất Bạt
3,4
5
4
74
Trường Phổ thông Dân tộc nội trú
5,85
6,6
5,58
75
THPT Ngô Quyền – Ba Vì
5,55
5,95
5,42
76
THPT Quảng Oai
6,15
6,05
5,83
77
THPT Minh Quang
3,4
3,6
3,33
78
THPT Bắc Lương Sơn
3,4
4
3,33
79
THPT Hai Bà Trưng – Thạch Thất
5
5,2
4,42
80
THPT Phùng Khắc Khoan – Thạch Thất
5,75
5,55
4,58
81
THPT Thạch Thất
6,6
6,25
5,75
82
THPT Minh Hà
5,15
4,95
4,67
83
THPT Cao Bá Quát – Quốc Oai
5,75
5,6
5,33
84
THPT Minh Khai
5,5
5,3
5,08
85
THPT Quốc Oai
7,25
7,15
7
86
THPT Phan Huy Chú – Quốc Oai
5,55
5,45
5
87
THPT Lê Quý Đôn – Hà Đông
8,45
8,5
8,5
88
THPT Quang Trung – Hà Đông
8
7,85
7,75
89
THPT Trần Hưng Đạo – Hà Đông
7
7,4
6,92
90
THPT Chúc Động
5,95
6,05
5,42
91
THPT Chương Mỹ A
7,4
7,2
7
92
THPT Chương Mỹ B
5,2
5,45
4,67
93
THPT Xuân Mai
6
6
5,33
94
THPT Nguyễn Văn Trỗi
4,5
5,25
4,5
95
THPT Nguyễn Du – Thanh Oai
6,05
6,15
5,33
96
THPT Thanh Oai A
5,75
6,25
5,17
97
THPT Thanh Oai B
6,4
6,8
5,5
98
THPT Thường Tín
6,8
6,4
6,67
99
THPT Nguyễn Trãi – Thường Tín
6,4
5,95
5
100
THPT Lý Tử Tấn
5,3
5,6
4,67
101
THPT Tô Hiệu – Thường Tín
5,45
5,35
5
102
THPT Vân Tảo
6,1
5,7
5,25
103
THPT Đồng Quan
5,75
5,6
4,67
104
THPT Phú Xuyên A
5,55
5,65
5,08
105
THPT Phú Xuyên B
5,15
4,6
4,67
106
THPT Tân Dân
4,9
5,05
4,5
107
THPT Hợp Thanh
4,8
4,6
4,58
108
THPT Mỹ Đức A
6,35
6,35
5,17
109
THPT Mỹ Đức B
5,4
5,5
5,5
110
THPT Mỹ Đức C
4,4
3,8
4,17
111
THPT Đại Cường
4,4
4,2
3,33
112
THPT Lưu Hoàng
3,4
4
3,33
113
THPT Trần Đăng Ninh
5,45
5,5
4,92
114
THPT Ứng Hòa A
5,8
5,85
4
115
THPT Ứng Hòa B
4,6
4,6
3,33
116
THPT Đỗ Mười
–
–
4,9
117
THPT Phúc Thịnh
–
–
5,5
Xem biến động tỷ lệ chọi lớp 10 trong ba năm 2023-2025
Nhìn chung, các trường top đầu giữ vững vị thế, với điểm chuẩn không dưới 8 mỗi môn, như Phan Đình Phùng, Việt Đức, Thăng Long, Kim Liên, Yên Hòa, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Thị Minh Khai…
Nhóm lấy điểm chuẩn 3-4 mỗi môn cũng không có nhiều xáo trộn, hầu hết là trường ở ngoại thành, như Đại Cường, Lưu Hoàng, Ứng Hòa A, Ứng Hòa B…
Trong khi đó, nhóm trường top giữa có nhiều biến động qua các năm. Chẳng hạn, trường THPT Đoàn Kết – Hai Bà Trưng lấy tới 8 điểm mỗi môn vào năm 2023, nhưng giảm gần một nửa, còn 4,75 trong năm 2024, sau đó tăng lên gần 7 điểm vào năm 2025.
Chi tiết chỉ tiêu lớp 10 công lập năm 2026
Kỳ thi vào lớp 10 ở Hà Nội năm nay diễn ra trong hai ngày 30-31/5. Những học sinh đăng ký trường chuyên sẽ thi thêm môn chuyên vào 1/6. Điểm xét tuyển là tổng ba môn Toán, Văn, Tiếng Anh không nhân hệ số.
Dự kiến từ ngày 19 đến 22/6, Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội sẽ công bố điểm thi, điểm chuẩn lớp 10.
Chiều 8.4, Trường ĐH Ngoại thương đã chính thức công bố thông tin tuyển sinh đại học chính quy năm 2026. Điểm mới đáng chú ý nhất trong mùa tuyển sinh sắp tới là việc nhà trường chính thức sử dụng kết quả bài thi đánh giá tư duy (TSA) do ĐH Bách khoa Hà Nội tổ chức và mở mới nhiều ngành đào tạo, trong đó có các ngành thuộc nhóm ngành về công nghệ.
Năm 2026, tổng chỉ tiêu tuyển sinh trình độ đại học chính quy của Trường ĐH Ngoại thương dự kiến là 4.540 chỉ tiêu, tăng 370 chỉ tiêu so với năm ngoái. Trong đó, cơ sở tại Hà Nội chiếm tỷ trọng lớn nhất với 3.490 chỉ tiêu, cơ sở tại TP.HCM tuyển 950 chỉ tiêu, cơ sở tại Quảng Ninh tuyển 100 chỉ tiêu.
Đáng chú ý, từ năm 2026, Trường ĐH Ngoại thương sẽ mở mới 10 ngành đào tạo, tập trung vào lĩnh vực công nghệ, kinh tế số và trí tuệ nhân tạo như: trí tuệ nhân tạo (AI), khoa học dữ liệu, công nghệ tài chính, kinh tế số và phân tích dữ liệu… Song song đó, nhà trường cũng phát triển 3 ngành đào tạo từ các chương trình hiện có và mở thêm 1 chương trình đào tạo mới thuộc ngành đã có.
Với các ngành khoa học máy tính, trí tuệ nhân tạo, khoa học dữ liệu, nhà trường sẽ sử dụng thêm phương thức sử dụng kết quả kỳ thi đánh giá tư duy TSA (do ĐH Bách khoa tổ chức) để xét tuyển.
Về phương thức tuyển sinh, Trường ĐH Ngoại thương vẫn giữ ổn định với 4 phương thức gồm: xét tuyển thẳng theo quy chế của Bộ GD-ĐT; sử dụng kết quả học tập THPT khi đáp ứng các điều kiện đảm bảo chất lượng của nhà trường (với điểm sàn là 24, xét theo tổng điểm tổ hợp 3 môn thi tốt nghiệp THPT 2026); kết quả thi tốt nghiệp THPT 2026; sử dụng chứng chỉ đánh giá năng lực, đánh giá tư duy trong nước và đánh giá năng lực quốc tế.
Riêng với phương thức tuyển thẳng, thí sinh cần lưu ý là năm nay Trường ĐH Ngoại thương không tuyển thẳng những em đạt trong các hội thi khoa học kỹ thuật cấp quốc gia, cấp quốc tế. Những thí sinh này có nội dung dự thi được hội đồng tuyển sinh Trường ĐH Ngoại thương đánh giá là phù hợp với tổ hợp xét tuyển chỉ được cộng điểm thưởng giải tương ứng các loại giải theo quy định của nhà trường.
Kết quả môn ngữ văn trong kỳ thi tốt nghiệp THPT giai đoạn 2021–2025 cho thấy Hải Phòng và Hà Nội duy trì điểm khá cao, Huế tăng rõ rệt, TP.HCM và Cần Thơ biến động mạnh, trong khi Đà Nẵng thuộc nhóm cuối.
Kết quả đối sánh môn ngữ văn 6 thành phố trước sáp nhập
Trong nhiều năm, đánh giá chất lượng giáo dục Việt Nam chủ yếu dựa vào đối sánh kết quả thi THPT giữa các địa phương với so sánh chung toàn quốc. Cách làm này thiếu công bằng vì điều kiện kinh tế – xã hội, đầu vào học sinh rất khác nhau. Trong bối cảnh đó, đối sánh nhóm trở thành cách tiếp cận phù hợp. Đối sánh nhóm là so sánh kết quả học tập, thi cử giữa các đơn vị tương đồng về điều kiện. Chẳng hạn, với 6 thành phố trực thuộc T.Ư trước và sau khi sáp nhập.
Xét điểm trung bình môn ngữ văn giai đoạn 2021–2025, Hải Phòng dẫn đầu với hơn 7,44 điểm, tiếp đến là Hà Nội trên 7,14 điểm, đều cao hơn mức trung bình của nhóm khoảng 6,75 điểm. Hai địa phương này duy trì chất lượng khá ổn định. Huế đạt mức trung bình, có xu hướng cải thiện trong các năm 2024–2025 gần đây rõ rệt hơn.
Ngược lại, TP.HCM và Cần Thơ thuộc nhóm trung bình thấp, điểm số không quá yếu nhưng thứ hạng biến động mạnh. Đáng chú ý, Sóc Trăng có điểm ngữ văn cao hơn Cần Thơ và Hậu Giang. Điều này phản ánh đặc trưng đô thị lớn, nơi thí sinh đông, phân hóa cao và nhiều học sinh không đặt nặng kỳ thi tốt nghiệp THPT.
Riêng Đà Nẵng (cũ), điểm trung bình 5 năm chỉ hơn 6 điểm, thấp nhất; thứ hạng hầu như luôn nằm ở nhóm cuối của cả nước, và năm 2025 rơi xuống vị trí 63/63.
Để đảm bảo tính so sánh tương đồng, giá trị trung bình của nhóm được xác định bằng trung bình cộng điểm trung bình môn ngữ văn của 12 địa phương theo từng năm; trong khi đó, trung bình cả nước được tính bằng trung bình cộng điểm trung bình của 63 tỉnh, thành. Dữ liệu điểm thi và thứ hạng môn ngữ văn 12 địa phương thể hiện ở bảng sau.
Bức tranh điểm trung bình và xếp hạng môn ngữ văn năm 2025 của 6 thành phố trực thuộc T.Ư sau sáp nhập cho thấy sự phân hóa khá rõ.
Hà Nội giữ vị trí cao với 7,62 điểm, xếp 3/34, nhờ không thay đổi địa giới, bảo đảm sự ổn định về đội ngũ và cách đánh giá. Cần Thơ sau khi sáp nhập Hậu Giang và Sóc Trăng đạt 7,23 điểm, xếp 5/34; Huế với điểm trung bình 7,18 điểm, xếp 7/34, vẫn phát huy truyền thống dạy – học ngữ văn.
TP.HCM sáp nhập Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu đạt 7,07 điểm, xếp 9/34; Hải Phòng sáp nhập Hải Dương đạt 7,03 điểm, xếp 10/34.
Riêng Đà Nẵng sau khi sáp nhập với Quảng Nam chỉ đạt 6,26 điểm, xếp 33/34. Kết quả này vừa phản ánh sự chênh lệch vùng miền, vừa gợi lại tranh luận về cách chấm ngữ văn ở Đà Nẵng vốn được cho là nghiêm và chặt.
Một trong những nguyên nhân cốt lõi khiến chất lượng ngữ văn ở các thành phố không cao nằm ở sự thay đổi trong việc ưu tiên trong học tập. Trong nhiều năm, các đô thị lớn tập trung mạnh vào ngành nghề STEM, công nghệ, ngoại ngữ, kỹ năng số và hội nhập quốc tế. Đây là lựa chọn hợp lý trong bối cảnh phát triển kinh tế tri thức, kinh tế số nhưng hệ quả không mong muốn là ngữ văn dần bị đẩy xuống vị trí thứ yếu.
Với không ít học sinh thành phố, ngữ văn trở thành môn chỉ cần "đủ điểm tốt nghiệp", không phải môn quyết định tương lai. Khi động lực học tập không cao, kết quả trung bình khó có thể bứt phá, đặc biệt trong một kỳ thi ngày càng coi trọng năng lực đọc hiểu và nghị luận xã hội, thể hiện ý kiến cá nhân về một vấn đề nào đó.
Với trường hợp Đà Nẵng, thành phố này không chỉ được biết đến với sự quan tâm cho giáo dục mà còn nổi bật bởi văn hóa thi cử nghiêm túc, kỷ cương. Tuy nhiên, điểm thi môn ngữ văn thấp gần đây làm dấy lên nhiều tranh luận. Một số ý kiến cho rằng cách chấm thi còn chặt, thiên về "ý chuẩn", ít linh hoạt với bài viết sáng tạo. Ý kiến khác lại nhìn nhận học sinh chưa đầu tư đúng mức cho môn văn khi xu hướng lựa chọn các ngành STEM ngày càng mạnh.
Những nhận định này cần được nhìn nhận thận trọng nhưng có cơ sở. Đà Nẵng vốn đề cao sự chuẩn mực, rõ ràng trong quản lý – điều phù hợp với các lĩnh vực khoa học, công nghệ. Nhưng với ngữ văn, môn học đòi hỏi tư duy mở và cá tính, cách chấm quá khuôn mẫu có thể khiến những bài viết sáng tạo bị đánh giá thấp.
Từ năm 2025, khi đề thi ngữ văn không còn bám sách giáo khoa, tăng yêu cầu đọc hiểu và bày tỏ chính kiến, hạn chế này càng bộc lộ rõ. Chấm mở không đồng nghĩa với chấm dễ, mà đòi hỏi bản lĩnh nghề nghiệp và sự đổi mới tư duy của giáo viên.
Cũng cần nhấn mạnh rằng điểm thi thấp không đồng nghĩa học sinh Đà Nẵng yếu. Đây là địa phương có tỷ lệ học sinh theo học chương trình chất lượng cao, quốc tế khá lớn, nên ít tập trung vào bài thi ngữ văn theo chuẩn quốc gia. Dù vậy, trong bối cảnh hội nhập, năng lực ngôn ngữ và viết vẫn là nền tảng quan trọng cho học tập và phát triển lâu dài.
Trong khi đó, Hà Nội và Hải Phòng, cũng là những đô thị lớn, nhưng vẫn duy trì được chất lượng ngữ văn khá ổn định.
Huế là ví dụ điển hình cho sự trở lại của "văn hóa học văn". Khi đề thi chuyển sang đánh giá năng lực đọc hiểu, Huế – với truyền thống nhân văn và chiều sâu văn hóa – đã cải thiện thứ hạng rõ rệt năm 2024, 2025. Điều này cho thấy đề thi mới không bất lợi cho đô thị, mà bất lợi cho nơi chưa coi trọng năng lực ngôn ngữ đúng mức.
Để nâng cao chất lượng môn ngữ văn, các thành phố cần thay đổi từ gốc, chứ không chỉ điều chỉnh kỹ thuật ôn thi hay chấm thi.
Trước hết, cần khẳng định ngữ văn là môn học công cụ, nền tảng cho tư duy phản biện, giao tiếp, hợp tác và sáng tạo – những năng lực cốt lõi của công dân toàn cầu. Ngữ văn không đối lập với STEM mà là môi trường để STEM vận hành hiệu quả. Ngữ văn cùng với toán là 2 trụ cột chính trong các tổ hợp tuyển sinh ĐH.
Thứ hai, cần đổi mới cách dạy theo hướng phát triển năng lực đọc – viết – nói – nghe, gắn với các vấn đề đương đại, liên ngành, toàn cầu. Học sinh phải được tranh luận, phản biện, trình bày chính kiến, thay vì chỉ học thuộc văn mẫu và phân tích tác phẩm.
Thứ ba, đổi mới cách chấm và đánh giá. Chấp nhận sự khác biệt có lý lẽ, khuyến khích lập luận độc lập, coi trọng cách diễn đạt sáng tạo. Đây là khâu khó nhất nhưng quyết định thành công của đề thi mở. Riêng Đà Nẵng, giải pháp then chốt là chuyển từ kỷ cương cứng sang kỷ cương mềm trong môn ngữ văn. Nghiêm túc không đồng nghĩa với khép chặt. Thành phố cần đầu tư bồi dưỡng giáo viên ngữ văn theo hướng giáo dục ngôn ngữ hiện đại, giúp họ tự tin đánh giá bài viết sáng tạo mà vẫn công bằng.
Cùng đó, đưa ngữ văn trở lại đúng vị thế trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực: coi năng lực diễn đạt, thuyết phục, phản biện là kỹ năng sống còn của công dân toàn cầu và trái tim bản sắc dân tộc Việt Nam.
"Gold Preparation Centre" là hạn mức đối tác cao cấp do Nhà xuất bản và Hội đồng Khảo thí Đại học Cambridge (Cambridge University Press & Assessment) trao danh hiệu. Việc duy trì thành tích 6 năm liên tiếp là không chỉ khẳng định năng lực đáp ứng đủ các tiêu chuẩn học thuật khắt khe, mà còn minh chứng cho mối quan hệ hợp tác bền chặt giữa VUS và Cambridge. Cột mốc này tiếp tục củng cố cam kết của hệ thống trong việc duy trì chất lượng giảng dạy vượt trội, tạo bệ phóng vững chắc giúp hàng triệu học viên vươn ra thế giới.
Đối với học sinh, chứng chỉ Cambridge có ý nghĩa quan trọng, chứng minh các em đạt tiêu chuẩn quốc tế, được nhiều tổ chức, trường học và trường đại học trong và ngoài nước Việt Nam công nhận. Đại diện Cambridge - ông Nguyễn Khắc Dũng (Giám đốc Dịch vụ khách hàng khu vực Việt Nam, Lào, Campuchia, Myanmar) trực tiếp trao chứng nhận Vàng cho đại diện VUS trong khuôn khổ Lễ vinh danh các học viên VUS đạt chứng chỉ tiếng Anh quốc tế.
Ông Dũng chia sẻ: "Tại Cambridge, chúng tôi tâm niệm rằng giá trị thực sự của việc học tiếng Anh vượt xa những con số trên bài thi; đó là hành trình trang bị cho thế hệ trẻ sự tự tin và tinh thần học hỏi trọn đời. Một lộ trình Cambridge chuẩn mực được thiết kế không chỉ để phát triển ngôn ngữ, mà còn mài giũa tư duy logic và kỹ năng chủ động hội nhập toàn cầu. Việc VUS duy trì xuất sắc các tiêu chuẩn khắt khe nhất của chúng tôi về chất lượng chuyên môn và năng lực giảng dạy để giữ vững danh hiệu Trung tâm Vàng 6 năm liên tiếp là một thành tựu vô cùng ấn tượng. Xin chúc mừng VUS, và chúc các em học viên sẽ luôn giữ vững đam mê để chinh phục những nấc thang học thuật cao hơn".
Cũng chia sẻ về cột mốc tự hào này, ông Steven Happel - Quản lý chuyên môn cấp cao VUS cho biết "Thành tựu này là kết quả của một quá trình nỗ lực không ngừng nghỉ nhằm mang đến môi trường giáo dục chuẩn quốc tế. Việc giữ vững danh hiệu Trung tâm Vàng trong suốt 6 năm liền chính là lời khẳng định mạnh mẽ nhất cho chất lượng đào tạo xuất sắc và vị thế tiên phong của VUS".
Ông Steven cũng nhấn mạnh "Hành trình vạn dặm luôn bắt đầu từ những bước chân đầu tiên. Việc chinh phục tiếng Anh không chỉ dừng lại ở điểm số, mà là chiếc chìa khóa mở ra thế giới quan rộng lớn và những cơ hội tương lai không giới hạn. Chứng nhận Vàng từ Cambridge là động lực to lớn để đội ngũ VUS tiếp tục sứ mệnh đồng hành cùng thế hệ trẻ. Chúng tôi tự hào khi được chứng kiến từng bước đi vững chắc của các em, từ những chứng chỉ đầu đời cho đến khi tự tin chắp cánh du học và thăng tiến trong sự nghiệp".
Cùng chung niềm vui với sự kiện đón nhận chứng nhận Vàng, cũng trong ngày 5.4, VUS đã vinh danh 2.705 học viên xuất sắc chinh phục các chứng chỉ Anh ngữ quốc tế Cambridge. Lễ trao chứng chỉ không chỉ tôn vinh nỗ lực học tập bền bỉ của các em, mà còn là dịp để gia đình và nhà trường cùng nhìn lại hành trình trưởng thành đầy tự hào của các học viên.
Nhìn con tự tin cùng các bạn bước lên bục vinh danh, chị Thu Trang phụ huynh bé Minh Quân (học tại VUS Nguyễn Thị Minh Khai) đã xúc động chia sẻ: "Nhìn thấy con hào hứng cầm trên tay chứng chỉ Cambridge, tôi cảm thấy rất tự hào. Hành trình học tiếng Anh của con đôi lúc cũng khó khăn, nhưng nhờ sự tận tình và phương pháp giảng dạy đa dạng của các thầy cô tại VUS, con không chỉ tiến bộ về mặt ngôn ngữ mà còn dạn dĩ, tự tin hơn rất nhiều. Chứng chỉ này chắc chắn là bước đệm đầu đời quan trọng để con tiếp tục cố gắng trên con đường học tập sắp tới".
Nối tiếp không khí rộn ràng của những ngày đầu tháng 4, VUS sẽ tiếp tục tổ chức các chuỗi sự kiện vinh danh hàng ngàn học viên xuất sắc khác trên toàn hệ thống, hiện thực hóa sứ mệnh đồng hành cùng thế hệ trẻ Việt Nam tự tin hội nhập toàn cầu.
Độc giả có thể liên hệ hotline 028 7308 3333 hoặc truy cập bài viết tiếng Anh Trẻ em của VUS để tham khảo chi tiết chương trình học chuẩn Cambridge, tư vấn và kiểm tra trình độ miễn phí.