Ngày 15-4, Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa có tờ trình Chính phủ về việc đề nghị ban hành nghị quyết về cơ chế đặc thù cho phép khai thác vượt không quá 15% công suất đối với các giấy phép khai thác than đang còn hiệu lực nhằm đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.
Theo bộ này, tình hình thế giới diễn biến phức tạp, đặc biệt tại khu vực Trung Đông, tiềm ẩn nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu.
Ở trong nước, nhu cầu điện năng tăng cao và nguồn nhiên liệu nhập khẩu đối mặt nhiều rủi ro về giá cả, logistics và khả năng cung ứng.
“Trong bối cảnh đó, than trong nước tiếp tục giữ vai trò là nguồn năng lượng nền tảng và năng lực khai thác thực tế của các mỏ còn dư địa để tăng sản lượng.
Tuy nhiên, thủ tục điều chỉnh công suất theo quy định hiện hành chưa đáp ứng yêu cầu huy động nhanh nguồn lực” – bộ nhấn mạnh.
Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã nghiên cứu đề xuất cơ chế đặc thù nhằm kịp thời nâng công suất khai thác than phục vụ an ninh năng lượng quốc gia.
Cùng với đó, Tập đoàn Công nghiệp than – khoáng sản Việt Nam (TKV) cũng có văn bản đề nghị cho phép 4 mỏ thuộc TKV tăng sản lượng khai thác vượt không quá 15% công suất ghi trong các giấy phép khai thác.
Để đảm bảo tính công bằng, cạnh tranh cũng như chủ động trong việc đảm bảo an ninh năng lượng phục vụ phát triển kinh tế, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề xuất ban hành nghị quyết điều chỉnh với các giấy phép khai thác than đang còn hiệu lực trên cả nước nếu tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản đủ điều kiện áp dụng mà không chỉ riêng 4 dự án như TKV đề nghị.
Khi ban hành nghị quyết như đề xuất trên, các tổ chức, cá nhân sẽ không phải thực hiện thủ tục điều chỉnh giấy phép, đồng thời thực hiện theo cơ chế đăng ký và chịu sự giám sát của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, việc ban hành nghị quyết sẽ góp phần tăng nhanh nguồn cung than trong nước, kịp thời đáp ứng nhu cầu sử dụng năng lượng cho nền kinh tế, qua đó bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.
Đồng thời tận dụng hiệu quả năng lực thiết bị, công nghệ và hạ tầng khai thác hiện có của các mỏ than đang hoạt động.
Đối với rủi ro và biện pháp kiểm soát, bộ cho biết việc áp dụng cơ chế đặc thù có thể phát sinh một số rủi ro như nguy cơ khai thác vượt trữ lượng được phê duyệt, gia tăng tác động tiêu cực đến môi trường và thất thu ngân sách nhà nước.
Tuy nhiên, các rủi ro này đã được kiểm soát thông qua việc quy định chặt chẽ trong nghị quyết về phạm vi trữ lượng được phép khai thác, các điều kiện về bảo vệ môi trường, cơ chế giám sát, hậu kiểm và nghĩa vụ tài chính đối với toàn bộ sản lượng khai thác.
Trong một bức thư công bố tuần trước, Bộ trưởng Tài chính các nước Tây Ban Nha, Áo, Đức, Italy, Bồ Đào Nha thúc giục Brussels tìm cách giảm gánh nặng lên người tiêu dùng.
Ủy viên châu Âu phụ trách kinh tế Valdis Dombrovskis cũng xác nhận với lãnh đạo các nước châu Âu rằng họ đang cân nhắc thuế áp lên lợi nhuận bất thường của các hãng năng lượng.
"Về nguyên tắc, không có gì ngăn các quốc gia thành viên áp dụng loại thuế này, bởi việc thu trực tiếp phần lớn thuộc thẩm quyền của từng nước. Chúng tôi xem xét liệu có thể đưa ra cách tiếp cận phối hợp hơn ở cấp độ châu Âu hay không. Vấn đề vẫn đang được đánh giá", ông nói.
Năm 2022, châu Âu từng áp dụng thuế khẩn cấp tương tự để giải quyết tình trạng giá nhiên liệu tăng cao sau khi xung đột Nga - Ukraine nổ ra. Thuế này áp dụng với các tập đoàn dầu khí có hoạt động, phát sinh lợi nhuận tại thị trường EU. Hãng dầu khí Mỹ - Exxon cũng từng bị EU áp thuế tương tự hồi 2022.
Hôm 10/4, người phát ngôn Ủy ban châu Âu (EC) Paula Pinho cũng cho biết "nhiều biện pháp khác nhau" được bàn tới, trong đó có các cách đã được áp dụng trong quá khứ.
Tính trung bình trong tháng 3, giá dầu Brent đạt 97 USD một thùng, tăng 33% so với tháng 2. Giá khí đốt tại nhiều nơi trên thế giới cũng tăng mạnh. "Lợi nhuận của các hãng dầu chắc chắn sẽ bùng nổ trong quý đầu năm nay", Leo Mariani - nhà phân tích cấp cao tại Roth Capital Partners cho biết.
Quý IV/2025, hãng dầu khí Chevron sản xuất 4 triệu thùng dầu mỗi ngày, với giá trung bình 64 USD một thùng. Reuters tính toán với mức tăng 33 USD, doanh thu bán dầu của hãng dầu khí Mỹ tăng 4 tỷ USD trong tháng 3. Trong khi đó, Exxon sản xuất khoảng 5 triệu thùng mỗi ngày, và giả sử với mức tăng tương tự, họ kiếm thêm 5,1 tỷ USD trong tháng trước.
Giá dầu và khí đốt đã tăng mạnh kể từ khi Mỹ và Israel không kích Iran ngày 28/2, khiến Iran gần như phong tỏa eo biển Hormuz. Đây là tuyến vận chuyển 20% dầu thô và khí hóa lỏng toàn cầu. Các cuộc tập kích cũng gây thiệt hại cho cơ sở hạ tầng năng lượng tại vùng Vịnh. Dầu thô Brent đã tăng giá hơn 30% trong hơn một tháng qua, có thời điểm sát 120 USD một thùng - cao nhất 4 năm.
Giá dầu tuần này giảm khoảng 13%, sau khi Mỹ và Iran thông báo ngừng bắn 2 tuần và tiến hành đàm phán hòa bình. Tuy nhiên, Phó tổng thống Mỹ JD Vance ngày 11/4 cho biết cuộc đàm phán với phái đoàn Iran tại Pakistan kết thúc sau 21 giờ mà không nhất trí được thỏa thuận.
Tại họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 3, Thứ trưởng Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân cho biết hai nhà máy lọc dầu trong nước là Dung Quất và Nghi Sơn đảm bảo đủ nguyên liệu để sản xuất đến hết tháng 4.
Trong tháng 3, các thương nhân đầu mối cũng nhập khẩu 3,2 triệu m3 xăng dầu. Cùng với hàng tồn kho hiện tại (2,6-2,8 triệu m3), nguồn cung xăng dầu trong nước có thể đảm bảo cho sản xuất và tiêu dùng hết tháng này, theo Thứ trưởng.
Xung đột Trung Đông tiếp tục leo thang từ cuối tháng 2 gây hệ lụy lớn đến nguồn cung xăng dầu, khí toàn cầu. Quy mô và mức độ ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng này vượt cú sốc dầu mỏ của thập niên 1970 - từng làm đảo lộn nền kinh tế, thị trường năng lượng.
Diễn biến này kéo theo thị trường năng lượng trong nước biến động mạnh. Từ cuối tháng 2 đến nay, giá bán lẻ xăng dầu trong nước có 13 kỳ điều hành, hiện mỗi lít xăng RON 95-III là 26.970 đồng, dầu diesel 44.780 đồng một lít.
Trước diễn biến này, từ đầu tháng 3, Việt Nam đã xây dựng kịch bản để điều hành xăng dầu. Theo Thứ trưởng, nhà điều hành tính tới kịch bản khủng hoảng diễn ra 4 tuần và dài hơn thời gian này. Bộ Công Thương đang xây dựng kịch bản cho các tháng tiếp theo.
Thứ trưởng cho biết việc điều hành cung cầu và giá xăng dầu trên nguyên tắc bảo đảm an ninh năng lượng, bám sát diễn biến giá thế giới, đánh giá tác động tới người dân và các ngành chịu ảnh hưởng. Trên cơ sở đó, cơ quan quản lý đưa ra các giải pháp nhằm ổn định cung cầu, giá cả và hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng.
Cùng quan điểm, tại họp Chính phủ thường kỳ cùng ngày, quyền Bộ trưởng Công Thương Lê Mạnh Hùng cũng khẳng định Việt Nam vẫn duy trì được "ổn định tương đối" trong khi nhiều quốc gia trong khu vực rơi vào tình trạng khủng hoảng năng lượng.
Tại Thái Lan, giá xăng đã lên tới hơn 51.000 đồng một lít, trong khi diesel khoảng 47.000 đồng một lít. Một số nước như Lào, Campuchia ghi nhận tình trạng đóng cửa nhiều cây xăng, còn Philippines tuyên bố tình trạng khó khăn. Ở các nền kinh tế phát triển, doanh nghiệp thậm chí khuyến cáo người lao động làm việc từ xa để giảm nhu cầu đi lại.
"Trong bối cảnh đó, Việt Nam không chỉ bảo đảm nguồn cung mà còn duy trì mức giá thấp hơn trung bình thế giới, chỉ khoảng 1,3 USD một lít, thấp hơn cả các nước có chung đường biên giới", ông Hùng nói.
Song theo quyền Bộ trưởng, nền kinh tế vẫn đang đối mặt với nhiều khó khăn do còn phụ thuộc lớn vào năng lượng nhập khẩu, sức cầu trong nước chưa phục hồi mạnh và những biến động khó lường từ bên ngoài. Do đó, nhà điều hành cần triển khai đồng bộ các giải pháp, từ bảo đảm năng lượng, tái cơ cấu công nghiệp đến kích cầu tiêu dùng để ổn định kinh tế vĩ mô.
Để ứng phó, Bộ Công Thương cho biết Chính phủ đã sử dụng Quỹ bình ổn giá xăng dầu, giảm tối đa các loại thuế (bảo vệ môi trường, VAT, tiêu thụ đặc biệt) nhằm giảm áp lực tăng giá nhiên liệu. Bên cạnh đó, nhà điều hành có các giải pháp nhằm tăng năng lực sản xuất trong nước, đa dạng nguồn cung nhập khẩu, phát triển nguồn năng lượng thay thế (xăng sinh học), tăng năng lực dự trữ và quản trị rủi ro.
Sáng ngày 8/4 (giờ Việt Nam), Tổng thống Mỹ Donald Trump công bố thỏa thuận ngừng bắn tạm thời kéo dài 2 tuần. Điều kiện then chốt để duy trì thỏa thuận là Tehran phải mở lại eo biển Hormuz cho hoạt động vận tải thương mại.
Tuy nhiên, thực tế trên biển lại đang diễn biến theo một kịch bản khác. Theo ghi nhận của WSJ, lưu lượng tàu thuyền qua eo biển có nhích lên nhẹ vào ngày 9/4 nhưng vẫn ở mức cực kỳ khiêm tốn.
Dữ liệu từ Kpler cho thấy chỉ có 10 tàu đi qua eo biển kể từ khi lệnh ngừng bắn có hiệu lực, bao gồm 4 tàu chở dầu và 6 tàu chở hàng rời.
Trước khi những biến động bùng phát vào cuối tháng 2, mỗi ngày tuyến đường này đón nhận hơn 100 lượt tàu qua lại. Nơi đây vốn gánh vác việc luân chuyển khoảng 1/5 lượng dầu thô và khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) của toàn thế giới.
Sự sụt giảm đột ngột này đã tạo ra một "nút thắt cổ chai" trên biển. Theo báo cáo của Lloyd's List, khoảng 800 con tàu vẫn đang mắc kẹt, neo đậu chờ đợi tại vùng biển xung quanh khu vực này. Lưu lượng hiện tại vẫn thấp hơn 90% so với mức bình thường và gần như hoàn toàn do thương mại liên quan đến Iran chi phối.
"Luật chơi" mới và lời đồn tiền mã hóa
Sự thận trọng của các doanh nghiệp vận tải là hoàn toàn có cơ sở khi những "luật chơi" mới đang dần thành hình. Phía Iran đã phát đi thông điệp qua các bên trung gian rằng họ sẽ giới hạn số lượng tàu được phép đi qua ở mức khoảng một chục tàu mỗi ngày.
Theo thông tin từ Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran, tàu thuyền giờ đây chỉ được phép đi qua khi có sự phối hợp chặt chẽ với hải quân nước này. Iran cũng đã chủ động công bố các tuyến hàng hải thay thế, chủ yếu đi gần khu vực đảo Larak để tránh rủi ro.
Đi kèm với đó là những điều kiện mang tính chọn lọc khắt khe. Các tàu muốn qua eo biển phải nằm trong một danh sách đã được phê duyệt từ trước. Những quốc gia được xem là "thân thiện" với Tehran có thể sẽ được ưu tiên cấp phép di chuyển.
Gây chú ý nhất trong giới tài chính lúc này là thông tin về khả năng thu phí trung chuyển. Theo tờ Financial Times, Iran có thể sẽ yêu cầu mức phí 1 USD cho mỗi thùng dầu đi qua eo biển.
Điểm độc đáo là khoản phí này có thể được yêu cầu thanh toán bằng tiền mã hóa. Nếu thành sự thật, đây là một chi tiết mang tính bước ngoặt, buộc các tập đoàn năng lượng phải tính toán lại toàn bộ bài toán chi phí logistics và phương thức thanh toán.
Bài toán rủi ro của giới chủ tàu
Trước những rào cản và rủi ro khó lường, các hãng vận tải biển lớn trên thế giới vẫn chọn cách quan sát. Tập đoàn vận tải khổng lồ Hapag-Lloyd của Đức cho biết họ chưa có kế hoạch nối lại tuyến đường đi qua Hormuz.
Hiệp hội vận tải biển quốc tế BIMCO cũng phát đi thông điệp cảnh báo tới các hội viên. Tổ chức này nhấn mạnh việc rời khỏi khu vực Vịnh lúc này là hành động không nên thực hiện nếu thiếu đi sự phối hợp chặt chẽ với cả phía Mỹ và Iran.
Những lo ngại về an ninh hàng hải vẫn luôn hiện hữu. Dữ liệu từ Tổ chức Hàng hải Quốc tế chỉ ra rằng, kể từ đầu tháng 3, đã có tới 30 tàu thương mại bị tấn công hoặc gặp sự cố tại khu vực này, trong đó có 13 chiếc là tàu chở dầu.
Cơ quan Năng lượng Quốc tế đánh giá những biến động hiện tại đã tạo ra một cú sốc nguồn cung nghiêm trọng đối với thị trường dầu mỏ toàn cầu. Tuy nhiên, giới đầu tư vẫn đang giữ thái độ bình tĩnh, chờ đợi những tín hiệu rõ ràng hơn từ các bên liên quan.
Tình hình tại eo biển Hormuz hiện tại vẫn còn nhiều ẩn số đối với chuỗi cung ứng toàn cầu. Biên tập viên Richard Meade của Lloyd’s List nhận định: “Eo biển hiện vẫn mở, hoặc đóng, giống như trước khi kế hoạch ngừng bắn được đưa ra”.