Phan Văn Hùng (26 tuổi), nhà sáng tạo nội dung tại Hà Nội, là một trong những người trẻ chọn quay về với thiên nhiên như cách để “giải nhiệt” cuộc sống.
Hùng cho biết một ngày làm việc thường bắt đầu từ khoảng 9 giờ 30 và kéo dài đến 21 giờ. Buổi sáng dành cho việc chuẩn bị, lên kế hoạch; buổi chiều quay chụp; buổi tối là thời gian viết nội dung, đăng bài và tiếp tục nghĩ ý tưởng mới. Công việc lặp lại trong một vòng xoay quen thuộc. “Có những lúc mình thấy mệt nhất là khi mọi thứ dồn lại, nhưng vẫn phải tự mình chạy hết các khâu”, Hùng chia sẻ.
Giữa guồng quay ấy, thiên nhiên trở thành lựa chọn được Hùng tìm đến mỗi khi cần một khoảng lặng. Không phải quán xá hay trung tâm thương mại, những chuyến đi về với cảnh sắc tự nhiên mang lại cảm giác chân thật và thư thái hơn. “Chỉ cần đến một nơi đẹp, ngồi nhìn những gì trước mắt, tự nhiên thấy nhẹ đi rất nhiều”, anh kể.
Có chuyến đi, anh chỉ ngồi bên một hồ nước từ sáng đến chiều, nhìn ánh sáng thay đổi theo từng khoảnh khắc. Không quay chụp nhiều, cũng không cố tạo ra trải nghiệm đặc biệt. “Ban đầu mình nghĩ phải đi nhiều nơi mới đáng, nhưng sau vài lần, mình thấy chỉ cần ngồi yên là đủ”, Hùng chia sẻ.
Với anh, hành trình không nằm ở việc di chuyển bao xa, mà ở việc có thể dừng lại đủ lâu để cảm nhận.
Nguyễn Dương Khánh (35 tuổi) và Võ Phụng (27 tuổi), sống tại Vĩnh Long, lại tìm về thiên nhiên theo cách khác. Họ lần theo các làng nghề truyền thống ở miền Tây và nhiều địa phương khác, những nơi không xuất hiện trên bản đồ du lịch quen thuộc.
Những chuyến đi bắt đầu từ rất sớm, có khi từ 3, 4 giờ sáng. Họ băng qua những con đường vắng, đi ghe vào sâu trong các xóm nhỏ, đến các làng dệt chiếu, làm hủ tiếu, nấu đường thốt nốt.
Ở đó, họ không chỉ ghi hình mà còn tham gia vào nhịp sống: phụ nhóm bếp, thử làm nghề, ăn cơm cùng gia đình chủ nhà, ngồi nghe kể chuyện. Có lúc, họ dừng quay, chỉ để quan sát.
“Thiên nhiên không phải lúc nào cũng là cảnh lớn. Đôi khi chỉ là ánh sáng buổi sớm, mùi khói bếp hay tiếng gió”, Khánh nói.
Qua từng chuyến đi, họ chọn cách chậm lại, ở lâu hơn, làm ít hơn. “Mỗi lần rời đi, tụi mình thấy như mang theo một phần ký ức của nơi đó”, Phụng chia sẻ.
Việc lựa chọn gắn bó với làng quê và thiên nhiên đến từ cảm giác được sống thật của cả hai. “Ở đó hai đứa thấy mình thật nhất. Ngồi dưới mái hiên nhà cổ, nghe tiếng lạch cạch của khung cửi hay mùi bùn đất, mùi khói rơm… tự nhiên thấy lòng mình nhẹ hẳn”, Khánh chia sẻ.
Với Điêu Minh Trí (30 tuổi, Hà Nội), những chuyến đi về với thiên nhiên thường gắn với vận động. Sau những ngày làm việc vất vả, anh chọn trekking những cung đường ngắn, leo lên điểm cao để nhìn toàn cảnh, hoặc tìm một bãi biển vắng để ở lại cả buổi.
Một ngày về với thiên nhiên của anh Trí có thể bắt đầu bằng việc đi bộ trong rừng, buổi chiều ngồi nhìn cảnh, tối đến chỉ đơn giản là nằm nghe âm thanh xung quanh. “Có lúc mình không làm gì, nhưng lại thấy đủ”, Trí nói.
Cảm giác rõ nhất sau mỗi chuyến đi là sự nhẹ đi, khi những áp lực cuộc sống vẫn còn đó, nhưng cách nhìn đã khác: tích cực và nhẹ nhàng hơn.
Nguyễn Phan Quang Huy (27 tuổi, sống tại Hà Nội) cũng chọn những điểm đến gần như vùng ven đô, cánh đồng hay dòng sông yên tĩnh. Đấy cũng là cách Huy giải tỏa bớt căng thẳng cuộc sống.
Anh dành thời gian đi bộ, đạp xe, hoặc ngồi hàng giờ quan sát xung quanh. Trong những chuyến đi, anh hạn chế dùng điện thoại, để ý nhiều hơn đến cảnh sắc thiên nhiên.
“Có những chuyện trước đó nghĩ mãi không ra, tự nhiên lại thấy nhẹ đi”, Huy nói. Với anh, thiên nhiên là nơi đủ yên để suy nghĩ rõ ràng hơn.
Nguyễn Phương Thảo (30 tuổi, sống tại Nghệ An), một Freelancer (người làm việc tự do), giữ cho nhịp sống của mình ở trạng thái nhẹ nhàng. Thảo thường xen kẽ những chuyến đi ngắn đến biển, đồi thấp hoặc vùng ngoại ô nhiều cây xanh.
Trong những ngày đó, Thảo dậy sớm đón bình minh, đi bộ, đọc sách hoặc chỉ ngồi yên nghe sóng và gió. “Có những chuyến đi mình gần như không làm gì nhiều, chỉ là ở đó và cảm nhận”, Thảo chia sẻ.
Chính những khoảng lặng ấy giúp Thảo nhìn lại công việc và bản thân rõ ràng hơn. Từ trải nghiệm cá nhân, Thảo nhận thấy ngày càng nhiều người trẻ tìm về thiên nhiên như một cách sống chậm, khi trekking, leo núi hay sống xanh dần trở thành lựa chọn quen thuộc.
Ngồi nép dưới tán cây trước một siêu thị ở đại lộ Bình Dương (P.Thuận An, TP.HCM; trước là P.Thuận Giao, TP.Thuận An, Bình Dương), tài xế công nghệ Đặng Thành Vũ (28 tuổi), vừa uống hết chai nước suối vừa nói: "Từ 11 giờ đến 14 giờ là tôi tắt app. Chạy không nổi đâu, nắng nóng như đổ lửa, người mệt rã rời".
Vũ cho biết trước đây anh thường tranh thủ chạy xuyên trưa để tăng thu nhập. Nhưng chỉ sau vài lần đuối sức, Vũ buộc phải thay đổi thói quen. "Có hôm đang chở khách mà hoa mắt, phải tấp vô lề. Từ đó là sợ, không dám liều nữa", Vũ kể.
Không riêng Vũ, nhiều tài xế công nghệ tại TP.HCM đang có chung một "chiến lược sinh tồn", đó là chạy sớm hơn vào buổi sáng, nghỉ trưa dài hơn, rồi quay lại hoạt động vào cuối chiều và tối. "Sự thay đổi này kéo theo thu nhập giảm sút, nhưng đổi lại là cảm giác an toàn hơn", anh Trịnh Minh An (31 tuổi, tài xế xe ôm công nghệ, ngụ ở đường Tôn Đản, P.Khánh Hội, TP.HCM; trước đây thuộc P.4, Q.4) nói.
Ghi nhận tại nhiều tuyến đường ở TP.HCM như: Điện Biên Phủ, Nguyễn Thị Minh Khai, xa lộ Hà Nội… không khó để bắt gặp hình ảnh các tài xế tụ tập dưới những tán cây có bóng râm, trong công viên nhỏ, hay trước cửa hàng tiện lợi có máy lạnh.
Anh An chia sẻ: "Chỗ nào có bóng mát là tụi tôi tấp vô. Có hôm đông quá phải ngồi chen nhau, nhưng còn hơn là phơi ngoài nắng".
Một số người chọn cách vào quán cà phê giá rẻ, gọi ly nước 15.000 – 20.000 đồng/ly để được ngồi trong không gian mát mẻ. "Mỗi ngày mất thêm tiền, nhưng không còn cách nào khác. Không vào thì chịu không nổi. Đúng là với những người như tài xế công nghệ, khoản chi này không hề nhỏ. Nhưng giữa cái nóng gay gắt, sức khỏe trở thành ưu tiên hàng đầu", anh Nguyễn Ngọc Lành (32 tuổi, ngụ ở hẻm 220 Bùi Đình Túy, P.Bình Thạnh, TP.HCM; trước đây thuộc P.12, Q.Bình Thạnh) kể.
Anh Trần Gia Bảo (35 tuổi, tài xế công nghệ ở đường Âu Cơ, xã Tân Vĩnh Lộc, TP.HCM; trước là P.Tân Tạo, Q.Bình Tân), cho biết không phải đồng nghiệp nào cũng kịp né nắng nóng. "Mới tuần trước, tôi đã chứng kiến một đồng nghiệp ngất xỉu ngay giữa trưa trên đường. Bản thân tôi cũng từng rơi vào tình trạng tương tự. Có lần tôi thấy người nóng ran, đầu óc quay cuồng. May là kịp dừng lại, không thì không biết chuyện gì xảy ra", anh Bảo nói.
Trên nhiều hội, nhóm dành cho tài xế công nghệ, shipper, những người trẻ làm nghề này chia sẻ cho nhau dấu hiệu kiệt sức vì nắng nóng như: chóng mặt, buồn nôn, da nóng, mồ hôi ra nhiều…
Đỗ Thế Anh (28 tuổi, ngụ ở đường Tạ Quang Bửu, P.Chánh Hưng, TP.HCM; trước đây là P.4, Q.8), thừa nhận thu nhập của anh giảm khoảng 20 – 30% so với trước đây do phải nghỉ trưa. "Trước kia chạy xuyên trưa là giờ vàng, đơn nhiều. Nhưng giờ không dám nữa. Kiếm tiền mà đổ bệnh thì còn tốn hơn", Anh nói.
Một số tài xế khác cũng chia sẻ họ đang phải "tái cấu trúc" thời gian làm việc: dậy từ 5 – 6 giờ sáng để tranh thủ chạy sớm, nghỉ trưa dài hơn, rồi chạy lại từ 16 – 22 giờ.
"Tối mát hơn, khách cũng nhiều. Dù mệt nhưng còn chịu được, chứ trưa là thua", Anh nói thêm.
Dù đã chủ động nghỉ trưa, nhiều tài xế công nghệ vẫn chịu áp lực từ hệ thống tính điểm, thưởng của các ứng dụng. Anh Nguyễn Minh Tài (32 tuổi, ngụ ở đường Trịnh Thị Búp, P.Trung Mỹ Tây, TP.HCM; trước là P.Tân Chánh Hiệp, Q.12), cho biết: "Có những ngày nếu không đạt đủ số cuốc thì không có thưởng. Nhưng nếu cố chạy trưa thì lại nguy hiểm. Nhiều khi phải cân nhắc dữ lắm".
Theo anh Tài, một số tài xế vẫn chấp nhận "cố thêm vài cuốc" trong khung giờ nắng nóng để đủ chỉ tiêu. "Biết là nguy hiểm, nhưng không chạy thì thu nhập thấp. Mỗi người một hoàn cảnh. Riêng tôi, chấp nhận không có thưởng để tắt app vào buổi trưa nắng nóng gay gắt", anh Tài nói.
Anh Tài mong cần có những "khoảng nghỉ an toàn", các "điểm trú nóng" cho người lao động ngoài trời, trong đó có tài xế công nghệ.
"Không cần gì lớn, chỉ cần có mái che, ghế ngồi, nước uống miễn phí là đã giúp được rất nhiều", anh Tài đề xuất.
"Một số mô hình như trạm nước miễn phí, điểm nghỉ chân tại các cây xăng, cửa hàng tiện lợi… đã xuất hiện, nhưng vẫn còn hạn chế. Nếu những điểm miễn phí này xuất hiện nhiều hơn thì giới tài xế công nghệ sẽ vui lắm", anh Tài nói.
Vũ Minh Khánh (28 tuổi, ngụ ở hẻm 44 đường Nguyễn Văn Đậu, P.Bình Lợi Trung, TP.HCM; trước là P.5, Q.Bình Thạnh) hy vọng sẽ có chính sách linh hoạt hơn trong những ngày nắng nóng cực đoan, nhằm giảm áp lực cho tài xế. "Giữa cái nắng như thiêu đốt, việc tắt app vài tiếng đồng hồ không phải do chúng tôi "lười", mà là cố gắng giữ được sức khỏe nhằm giữ lấy kế sinh nhai của mình", Khánh nói.
Câu chuyện nhanh chóng thu hút sự chú ý, không chỉ vì tính đúng sai của vụ việc, mà còn là một thực tế đáng lo ngại: "Nhiều sinh viên đi làm thêm nhưng không thực sự biết mình có những quyền gì".
Trao đổi về vấn đề này, luật sư Nguyễn Trung Tín, Giám đốc Công ty Luật Tín & Associates, cho biết việc sinh viên làm thêm có phải tham gia bảo hiểm bắt buộc hay không phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của quan hệ lao động.
Theo ông Tín, đáng chú ý, Điểm l, Khoản 1, Điều 2 của luật Bảo hiểm xã hội 2024 quy định, người lao động làm không trọn thời gian vẫn phải tham gia bảo hiểm bắt buộc nếu có mức lương trong tháng bằng hoặc cao hơn mức tối thiểu làm căn cứ đóng bảo hiểm (mức lương cơ sở hiện tại là 2.340.000 đồng/tháng).
Liên quan đến trường hợp sinh viên vừa đi học, vừa đi làm, luật sư cho biết thêm theo Khoản 10, Điều 1 và Khoản 5, Điều 13 của luật Bảo hiểm y tế sửa đổi 2024, nếu một người đồng thời thuộc nhiều nhóm tham gia bảo hiểm y tế, sẽ đóng theo nhóm có thứ tự ưu tiên cao hơn. Trong đó, nhóm do người lao động và người sử dụng lao động đóng được xếp trước nhóm học sinh, sinh viên. Điều này đồng nghĩa với việc khi sinh viên ký hợp đồng lao động và thuộc diện đóng bảo hiểm bắt buộc, sẽ phải tham gia bảo hiểm y tế theo doanh nghiệp thay vì theo nhà trường.
Về vấn đề đóng trùng bảo hiểm y tế, theo Khoản 2.5 và Điều 20 Quyết định 595/QĐ-BHXH, trường hợp người tham gia đóng trùng sẽ được cơ quan bảo hiểm xã hội hoàn trả phần tiền đã đóng thừa.
Làm rõ thêm về việc doanh nghiệp yêu cầu người lao động hoàn tất nghĩa vụ bảo hiểm trước khi trả lương, luật sư Nguyễn Trung Tín khẳng định đây là hai nghĩa vụ hoàn toàn độc lập và không thể thay thế cho nhau.
Cụ thể, theo Điều 102 bộ luật Lao động 2019, người sử dụng lao động chỉ được khấu trừ tiền lương trong một số trường hợp nhất định, như để bồi thường thiệt hại do người lao động làm hư hỏng tài sản, thiết bị.
"Pháp luật không cho phép doanh nghiệp tự ý giữ lương của người lao động như một hình thức 'bảo đảm' cho các nghĩa vụ khác, bao gồm cả nghĩa vụ bảo hiểm", luật sư Nguyễn Trung Tín nhấn mạnh.
Theo luật sư, tiền lương là quyền lợi gắn liền với công sức lao động và phải được chi trả đầy đủ, đúng thời hạn.
"Việc chưa hoàn tất nghĩa vụ bảo hiểm (nếu có) cần được xử lý thông qua cơ chế đối chiếu, truy thu hoặc thỏa thuận rõ ràng, chứ không thể trở thành lý do để trì hoãn hoặc từ chối trả lương", ông cho biết.
Trên thực tế, việc sinh viên đi làm thêm từ sớm không còn xa lạ, nhưng không phải ai cũng được tiếp cận đầy đủ thông tin về hợp đồng lao động hay bảo hiểm.
Phạm Thị Quyên, sinh viên Trường ĐH Kiến trúc Hà Nội, hiện đang làm thêm tại một cửa hàng trang sức trong trung tâm thương mại, cho biết bản thân chưa được ký hợp đồng lao động chính thức.
"Mình cũng không hiểu rõ lắm về quyền lợi, chỉ biết là nếu được ký hợp đồng thì sẽ có bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và có thêm tháng lương thứ 13", Quyên chia sẻ.
Trong khi đó, Nguyễn Trung Kiên, sinh viên Trường ĐH Tôn Đức Thắng TP.HCM, hiện làm bán thời gian tại một quán cà phê, cũng cho biết mình chưa từng ký hợp đồng lao động.
"Mình cũng có biết sơ qua về quyền lao động, nhưng nghĩ làm việc làm bán thời gian thì không quá quan trọng. Chủ yếu làm thêm kiếm tiền nên em cũng không để ý nhiều đến chuyện hợp đồng", Kiên nói.
Những chia sẻ này cho thấy một điểm chung: nhiều sinh viên bước vào thị trường lao động với tâm lý "làm tạm", từ đó dễ bỏ qua quyền lợi của chính mình.
Theo tiến sĩ Nguyễn Thị Bích, Trưởng bộ môn luật lao động (Trường ĐH Luật TP.HCM), sinh viên và lao động trẻ thường gặp bất lợi do thiếu hiểu biết và kinh nghiệm: Không phân biệt rõ các loại hợp đồng, không quan tâm đến quyền lợi bảo hiểm, không lưu giữ thông tin làm việc và ngại va chạm khi có tranh chấp.
Đặc biệt, tâm lý "làm thêm cho vui" hoặc "chỉ làm tạm thời" khiến nhiều người chấp nhận làm việc mà không có hợp đồng hoặc thỏa thuận rõ ràng.
Tiến sĩ Nguyễn Thị Bích nhận định: "Dù là lao động toàn thời gian hay bán thời gian, khi đã có quan hệ lao động thì quyền và nghĩa vụ của các bên đều được pháp luật điều chỉnh. Việc không ký hợp đồng hoặc không quan tâm đến hợp đồng có thể khiến người lao động rơi vào thế bất lợi khi xảy ra tranh chấp".
Theo bà, nhiều sinh viên hiện nay chưa có thói quen tìm hiểu quy định pháp luật lao động từ sớm, dẫn đến việc dễ chấp nhận những điều kiện làm việc thiếu rõ ràng.
"Người lao động không đi xin việc, mà đang trao đổi giá trị sức lao động của mình. Khi không nhận thức được điều này, họ dễ chấp nhận những điều kiện bất lợi", bà nhấn mạnh.
Xung quanh việc lao động trẻ cần làm gì để tự bảo vệ mình? Trao đổi thêm về vấn đề này, bà Nguyễn Thị Bích cho biết trong trường hợp phát sinh tranh chấp, người lao động được khuyến nghị: Kiểm tra hợp đồng, bảng lương; trao đổi trực tiếp với quản lý; lưu giữ bằng chứng làm việc; liên hệ cơ quan chức năng nếu cần.
Hôm nay 7.4, dự án "Marketing địa phương - LOMAR 2026" sẽ chính thức khởi động. Dự án do Hội sinh viên TP.HCM phối hợp với ĐH Kinh tế TP.HCM triển khai nhằm cụ thể hóa các chủ trương, định hướng của Thành ủy TP.HCM về phát huy vai trò của thanh niên, sinh viên trong tham gia phát triển KT-XH, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tại cơ sở.
Dự án là một trong những nội dung trọng tâm để phát huy vai trò xung kích, sáng tạo của sinh viên TP trong việc tham gia giải quyết các bài toán thực tiễn đặt ra từ địa phương; đồng thời tạo môi trường để sinh viên rèn luyện năng lực chuyên môn, tư duy đổi mới sáng tạo, khả năng thích ứng với yêu cầu phát triển trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.
Trong bối cảnh các phường, xã tại TP.HCM đang đẩy mạnh xây dựng chính quyền số, kinh tế số, xã hội số; yêu cầu về nâng cao năng lực truyền thông, xây dựng và phát triển thương hiệu địa phương, quảng bá các sản phẩm, dịch vụ đặc trưng ngày càng trở nên cấp thiết. Việc kết nối nguồn lực trí thức trẻ, đặc biệt là sinh viên các ngành kinh tế, marketing, truyền thông, công nghệ với nhu cầu thực tiễn của cơ sở được xác định là một giải pháp quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý, điều hành; đồng thời thúc đẩy phát triển KT-XH theo hướng bền vững.
Dự án sẽ tập trung triển khai các nội dung trọng tâm gồm: nghiên cứu, đề xuất và xây dựng chiến lược định vị thương hiệu địa phương; phát triển các sản phẩm truyền thông phục vụ quảng bá điểm đến, sản phẩm đặc trưng; tổ chức các hoạt động truyền thông cộng đồng gắn với ứng dụng công nghệ số; từng bước hình thành hệ sinh thái truyền thông địa phương có tính đồng bộ, chuyên nghiệp và hiệu quả.
Điểm đặc biệt của dự án là các nội dung, đề bài được xây dựng trên cơ sở nhu cầu thực tiễn từ các địa phương, thông qua cơ chế đặt hàng cụ thể đối với sinh viên. Trong giai đoạn đầu triển khai, các địa phương như các phường Cầu Kiệu, Bình Hưng Hòa, Đức Nhuận và các xã Củ Chi, Bình Lợi, Bình Khánh đã chủ động đề xuất các bài toán gắn với định hướng phát triển của địa phương.
Trong đó, P.Bình Hưng Hòa đưa ra đề bài: lan tỏa thông điệp Bình Hưng Hòa xanh; xã Bình Khánh: Quảng bá thương hiệu OCOP Bình Khánh; xã Bình Lợi: Khám phá bản sắc du lịch Bình Lợi; P.Cầu Kiệu: Kết nối phố ẩm thực Phan Xích Long; xã Củ Chi: Định vị hình ảnh Củ Chi; P.Đức Nhuận: Nâng tầm "Phố hạnh phúc" Hồ Văn Huê. Đây là những bài toán mà các địa phương đã đặt hàng cho sinh viên.
Dự án được tổ chức theo mô hình kết hợp giữa cuộc thi phát triển ý tưởng và triển khai hoạt động thực tiễn. Theo đó, các đội hình sinh viên tham gia sẽ trải qua các giai đoạn: nghiên cứu, xây dựng đề cương ý tưởng; tham gia chương trình tăng tốc (Hackathon) với sự hướng dẫn, đồng hành của đội ngũ chuyên gia, giảng viên; hoàn thiện sản phẩm và trực tiếp triển khai tại địa phương trong khuôn khổ Chiến dịch tình nguyện Mùa hè xanh. Kết quả các dự án được đánh giá trên cơ sở tổng thể, trong đó đặc biệt chú trọng đến hiệu quả thực tiễn, mức độ tác động và khả năng duy trì, phát triển sau khi kết thúc chương trình.