Đặc biệt phim tài liệu The Greatest Night in Pop (2024) đoạt giải và được đề cử ở nhiều giải thưởng danh giá tại Mỹ, trong đó có Critics’ Choice Documentary Award 2024, Grammy, Primetime Creative Arts Emmy, Giải thưởng Hiệp hội Nhà sản xuất Mỹ…
Gần đây nhất, phim tài liệu âm nhạc BTS: The Return của Bảo Nguyễn được đánh giá cao, ghi lại hành trình trở lại của nhóm nhạc lớn nhất thế giới BTS sau bốn năm vắng bóng, tập trung vào quá trình họ thực hiện album mới nhất Arirang với nhiều băn khoăn, trăn trở.
* Nếu The Greatest Night in Pop nhìn lại những huyền thoại âm nhạc thế giới trong quá khứ, BTS: The Return ghi lại những siêu sao của âm nhạc thế giới đương đại. Sự khác biệt lớn nhất giữa hai chủ đề – quá khứ và hiện tại – là gì?
– Một trong những khác biệt lớn nhất là góc nhìn. The Greatest Night in Pop là câu chuyện nhìn ngược lại một khoảnh khắc biểu tượng đã đi vào lịch sử.
Căng thẳng trong bộ phim đó đến từ việc tái khám phá những huyền thoại và hé lộ phần nhân tính bên trong.
Còn với BTS: The Return, tôi đang ghi lại các nghệ sĩ ở thì hiện tại, trong lúc họ vẫn đang sống qua sự bất định, áp lực và những thay đổi theo thời gian thực.
Điều này tạo ra một năng lượng rất khác biệt. Có phim, lịch sử đã lắng đọng. Có phim, câu chuyện vẫn đang được viết tiếp.
Điều khiến tôi hào hứng với BTS là dù họ là những biểu tượng toàn cầu, họ vẫn đang đặt ra những câu hỏi rất con người: bây giờ chúng ta là ai, chúng ta nên giữ lại gì, thay đổi gì, và làm thế nào để cùng nhau bắt đầu lại?
Trailer BTS: The return
* Là một nghệ sĩ châu Á đã nỗ lực và gặt hái thành công ở Mỹ, dù gặp phải nhiều rào cản, điều gì khiến anh đồng cảm nhất với ban nhạc BTS?
– Tôi nghĩ điều tôi đồng cảm nhất là cảm giác phải gánh vác nhiều hơn chính bản thân mình. Khi là một nghệ sĩ châu Á làm việc trên sân khấu toàn cầu, bạn thường nhận thức rằng mọi người có thể đặt những giả định lên bạn, thu hẹp bạn hoặc yêu cầu bạn đại diện cho thứ gì đó lớn lao hơn khả năng gánh vác của bất kỳ cá nhân nào.
Điều khiến tôi xúc động về BTS là họ dường như rất ý thức về gánh nặng đó, nhưng họ biến nó thành mục đích. Họ tự hào khi mang bản sắc của mình và không làm phai nhạt chính mình để dễ được thấu hiểu hơn.
Là một nhà làm phim châu Á, tôi đồng cảm sâu sắc. Thật mạnh mẽ khi thấy các nghệ sĩ vẫn giữ được nét văn hóa riêng biệt và nhờ đó lại càng trở nên phổ quát hơn.
* Anh sinh ra ở Mỹ, có sự nghiệp ở Mỹ, nhưng các tác phẩm và thành tựu của anh vẫn được truyền thông ở Việt Nam quan tâm, anh cảm thấy thế nào?
– Tôi sinh ra và lớn lên ở Mỹ nhưng Việt Nam luôn là một phần quan trọng về mặt tình cảm và văn hóa trong cuộc sống của tôi. Vì vậy bất cứ khi nào tác phẩm của tôi được đón nhận ở Việt Nam, hoặc khi có sự quan tâm từ khán giả và truyền thông Việt Nam, tôi cảm thấy vô cùng biết ơn và gắn kết.
Ta lớn lên ở một nơi, nhưng một phần trí tưởng tượng, lịch sử và di sản của mình đến từ một nơi khác. Tôi luôn có mong muốn kết nối hai thế giới bằng cách nào đó. Nên việc tác phẩm của mình có thể quay trở lại Việt Nam và trở thành một phần của cuộc đối thoại ở đó có ý nghĩa rất lớn đối với tôi.
* Nhiều năm trước từng làm việc trong ngành điện ảnh ở TP.HCM, tại sao anh quyết định trở về Mỹ?
– Thời gian làm việc ở TP.HCM đã định hình rất nhiều cho tôi và tôi rất biết ơn. Điều đó giúp tôi hiểu sâu sắc hơn về Việt Nam không chỉ như một di sản mà còn là một đất nước sống động, luôn thay đổi, tràn đầy năng lượng, tham vọng. Tôi trở về Mỹ vì con đường sự nghiệp và những cơ hội vào thời điểm đó.
Mỹ là nơi tôi được đào tạo, nơi có phần lớn mạng lưới quan hệ chuyên nghiệp của tôi và nơi tôi nhìn thấy con đường xây dựng sự nghiệp làm phim mà tôi mong muốn. Nhưng tôi không nghĩ đó là việc chọn cái này hay cái kia. Tôi vẫn di chuyển giữa hai thế giới cả về mặt cảm xúc và sáng tạo.
* Mối liên hệ hiện tại của anh với điện ảnh Việt Nam là gì? Anh có nhiều bạn bè là nhà làm phim ở Việt Nam, anh có muốn trở lại đây làm phim không?
– Tôi vẫn rất gắn bó với điện ảnh Việt Nam và cộng đồng sáng tạo ở đó. Tôi có nhiều bạn bè ở Việt Nam là nhà làm phim, nhà sản xuất và nghệ sĩ và tôi vẫn luôn theo dõi công việc của họ với sự ngưỡng mộ sâu sắc. Tôi nghĩ điện ảnh Việt Nam đang ở trong một giai đoạn rất thú vị.
Thông qua EAST Films, tôi cũng tiếp tục phát triển các dự án ở Việt Nam với các đối tác của mình. EAST Films là một trong những công ty sản xuất đứng sau BTS: The Return và mối liên hệ xuyên Thái Bình Dương đó là yếu tố cốt lõi trong cách chúng tôi suy nghĩ về kể chuyện.
Chúng tôi đang giúp đạo diễn Nguyễn Võ Nghiêm Minh khởi quay bộ phim mới Picturehouse của anh ấy. Và vâng, tôi rất muốn trở lại Việt Nam để làm phim. Nếu có câu chuyện và hoàn cảnh phù hợp sẽ có ý nghĩa rất lớn đối với tôi.
* The Stringer là một tác phẩm rất đặc biệt của anh. Tại sao anh lại quyết định dấn thân vào chủ đề này?
– Tôi bị thu hút bởi The Stringer vì nó không chỉ nói về một bức ảnh hay một tranh luận lịch sử. Nó nói về quyền tác giả, ký ức và ai là người được nhìn nhận trong lịch sử. Những câu hỏi đó có ý nghĩa sâu sắc đối với tôi.
Tranh cãi là một phần lý do khiến câu chuyện trở nên quan trọng.
Tôi quan tâm đến tranh cãi không phải chỉ để gây chú ý, mà vì những câu hỏi khó và chưa được giải quyết thường hé lộ điều gì đó sâu sắc hơn về cách lịch sử được xây dựng.
Tôi cảm thấy nếu có cơ hội nhìn nhận lại một câu chuyện đã được chấp nhận và tạo không gian cho những tiếng nói bị bỏ quên, thì điều đó đáng được thực hiện một cách cẩn thận và nghiêm túc.
Đối với tôi, đó không chỉ là một động lực điều tra mà còn là một động lực về cảm xúc và đạo đức.
* Sự thật trong phim tài liệu khác với sự thật trong điện ảnh như thế nào? Anh theo đuổi điều gì khi làm phim?
– Tôi nghĩ cả phim tài liệu và phim hư cấu đều có thể chứa đựng sự thật nhưng chúng đạt được điều đó theo những cách khác nhau.
Phim tài liệu bắt đầu từ hiện thực, từ kinh nghiệm sống, từ những con người và sự kiện tồn tại ngoài trí tưởng tượng của nhà làm phim. Phim hư cấu có thể tạo ra các tình huống nhưng vẫn tiết lộ những sự thật về mặt cảm xúc hoặc triết học mà cảm giác vô cùng chân thực.
Điều tôi theo đuổi trong làm phim không chỉ là sự thật khách quan, mặc dù điều đó vô cùng quan trọng trong phim tài liệu. Tôi cũng đang theo đuổi sự thật về mặt cảm xúc.
Điều đó mang lại cảm giác như thế nào? Điều gì đang bị đe dọa? Tại sao nó lại quan trọng đối với những người đang trải qua nó? Dù làm phim tài liệu hay phim truyện, tôi luôn tìm kiếm sự thật sâu sắc hơn ẩn dưới vẻ bề ngoài.
Đồng thời tôi tin rằng làm phim mang một trách nhiệm lớn. Đặc biệt là trong phim tài liệu, bạn đang làm việc với những cuộc sống thực, những ký ức thực và những hậu quả thực. Vì vậy, đối với tôi, sự thật không chỉ là thông tin. Nó còn là sự quan tâm, sự trung thực và tính chính trực trong cách bạn kể câu chuyện.
NSƯT Việt Linh không đến với điện ảnh như một giấc mơ lãng mạn. Con đường của bà bắt đầu từ rất sớm, nhưng cũng khắc nghiệt. Năm 13 tuổi, bà đã nổi bật với khả năng viết lách, sớm hình thành đời sống nội tâm phong phú. Nhưng đến năm 1968, khi vừa tròn 17 tuổi, bà đưa ra một quyết định mang tính bước ngoặt: rời gia đình, rời mái trường để đi theo cách mạng.
Trong những năm ở Xưởng phim Giải phóng, Việt Linh làm công việc hậu cần. Nhưng chính ở hoàn cảnh đó, bà lại bắt đầu “làm nghệ sĩ” theo cách riêng: viết truyện, quan sát con người, tích lũy trải nghiệm sống. Truyện ngắn Hương vú sữa đăng trên báo không chỉ là thành quả cá nhân, mà còn là bước khởi đầu cho tư duy kể chuyện bằng hình ảnh sau này.
Từ năm 1970, NSƯT Việt Linh bước vào điện ảnh bằng những công việc nền tảng như dựng phim, biên tập, viết kịch bản tài liệu. Đây là giai đoạn quan trọng, bởi thay vì đi thẳng vào vị trí đạo diễn, nữ nghệ sĩ chọn cách “đi từ dưới lên”, học cách hiểu cấu trúc phim, nhịp điệu hình ảnh và cách kể chuyện bằng điện ảnh.
Bước ngoặt lớn đến vào năm 1979, khi bà được cử sang Liên Xô học tập. Tại đây, thay vì tiếp tục theo ngành biên kịch, Việt Linh quyết định thi chuyển sang đạo diễn – một lựa chọn khó và đầy rủi ro. Nhưng chính điều này đã định hình con đường sáng tạo của bà. Việc được đào tạo bài bản trong môi trường điện ảnh chuyên nghiệp đã giúp Việt Linh có nền tảng vững chắc cả về tư duy nghệ thuật lẫn kỹ thuật dàn dựng.
Trở về nước trong bối cảnh điện ảnh Việt Nam đang gặp nhiều khó khăn, Việt Linh không chọn cách chờ đợi mà lao vào làm việc. Chỉ trong vài năm, bà cho ra đời liên tiếp các tác phẩm như Nơi bình yên chim hót (1986), Phiên tòa cần chánh án (1987), Một cuộc đời bị đánh cắp (1988), Gánh xiếc rong (1989)… Trong đó, Gánh xiếc rong là bước ngoặt lớn. Bộ phim không chỉ thành công trong nước mà còn được quốc tế đón nhận, giành hàng loạt giải thưởng như Đạo diễn xuất sắc và Bông sen bạc tại Liên hoan phim Việt Nam lần IX (1990), giải khán giả tại Nantes (Pháp), bằng khen UNICEF tại Liên hoan phim Berlin (1991)...
Đỉnh cao trong sự nghiệp của bà là Mê Thảo – thời vang bóng (2002). Ở đây, Việt Linh không chỉ kể chuyện mà còn tạo dựng một không gian nghệ thuật vừa cổ điển, vừa hiện đại, vừa thực vừa ảo. Bộ phim giành nhiều giải thưởng quan trọng như giải khuyến khích của Hội Điện ảnh Việt Nam, giải nhì của Tổ chức Francophonie (2003), giải bông hồng vàng tại Liên hoan phim Bergamo, cùng các giải tại Liên hoan phim Việt Nam lần XIV (2004). Nhưng hơn cả giải thưởng, bộ phim cho thấy sự chín muồi trong tư duy nghệ thuật của bà.
Điểm đặc biệt trong phong cách của Việt Linh là sự kết hợp giữa cảm xúc và lý trí. Phim của bà thiên về phân tích tâm lý, đi sâu vào nội tâm nhân vật, không dựa vào kịch tính cực đoan mà tạo sức nặng bằng chiều sâu suy tư. Đây là lý do tác phẩm của bà thường mang dáng dấp “phim tác giả” - nơi dấu ấn cá nhân được thể hiện rõ rệt.
Năm 2005, biến cố xảy ra khi bà bị tai biến, buộc phải dừng công việc đạo diễn. Đây là một bước ngoặt đau đớn, bởi điện ảnh không chỉ là nghề mà còn là “nghiệp” của bà. Tuy nhiên, thay vì rời bỏ hoàn toàn, Việt Linh chọn cách tiếp tục đóng góp bằng việc viết kịch bản, biên tập và tham gia các dự án điện ảnh. Điều này cho thấy một điều: Với bà, điện ảnh không phải là vị trí, mà là cách sống.
Dạo bờ hồ Hoàn Kiếm hôm 18/4, ba thành viên 3A cùng ôn kỷ niệm thời thanh xuân gắn liền với từng góc phố Hà Nội. Trong phút ngẫu hứng, họ cùng hát lại Ngẫu hứng sông Hồng của nhạc sĩ Trần Tiến. Ca sĩ Minh Anh cho biết dù gần 30 năm mới thể hiện lại nhạc phẩm này, cả nhóm vẫn thuộc lòng từng nốt nhạc.
Theo ca sĩ, ngày trước, để biểu diễn một bài hát trước công chúng, nhóm phải dành nhiều thời gian tập bè, đến mức hiểu cách hát của nhau, về hơi thở, lối phát âm, nhả chữ, sắc thái làm sao cho đều. Chính nền tảng kỹ thuật bài bản giúp nhóm giữ được sự kết nối. Dù nhiều thập niên trôi qua, họ vẫn có thể hòa quyện ngay khi vừa cất giọng.
"Người đi đường quanh Hồ Gươm và du khách quốc tế dừng lại để nghe 3A hát và còn hòa nhịp theo nữa, rất vui", Minh Anh cho biết.
Sau khi nhóm tan rã năm 2000, mỗi thành viên chọn cho mình những ngã rẽ riêng biệt. Trong khi Ngọc Anh định cư tại Mỹ và ca hát trên sân khấu hải ngoại, hai chị em Minh Anh - Minh Ánh lại thành công ở những công việc hoàn toàn khác. Minh Ánh làm trong lĩnh vực giáo dục, hiện là Đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách của Ủy ban Văn hóa và Xã hội. Minh Anh là Phó Trưởng ban Quan hệ Lao động, Công đoàn Tổng công ty Hàng không Việt Nam.
Dù khác biệt về môi trường sống, bộ ba vẫn giữ sợi dây liên kết bền chặt nhờ sự tương đồng trong tư duy và tình yêu chung dành cho thủ đô. "Chúng tôi luôn tôn trọng và cổ vũ nhau, đó là bí quyết giúp tình bạn của 3A thêm gắn bó theo thời gian", Minh Anh cho biết.
Sau 30 năm nhìn lại, Minh Anh vẫn còn nhớ ánh đèn sân khấu và những chuyến lưu diễn cùng nhóm ở nước ngoài như Festival tại Cuba năm 1997. Thi thoảng, cô kể về những thành tựu thời hoạt động âm nhạc cho con nghe. "Các con của chúng tôi đều tự hào và thích nghe mẹ hát", ca sĩ cho biết.
Niềm đam mê nghệ thuật của 3A hiện được tiếp nối bởi thế hệ sau. Các con của họ cũng thích hát và biết sáng tác. Trong đó, Khôi Nguyên (con trai cả Minh Anh) cùng các bạn trường Phổ thông trung học (PTTH) Việt Đức đoạt giải nhất thành phố và huy chương vàng toàn quốc cuộc thi Giai điệu tuổi hồng, giải nhất Liên hoan ban nhạc, nhóm nhạc học sinh PTTH thành phố Hà Nội lần thứ nhất. Hiện cậu đang học năm ba đại học chuyên ngành quản trị kinh doanh quốc tế tại Phần Lan.
Chia sẻ về khả năng tái hợp, 3A cho biết lịch trình công việc của ba thành viên hiện khá bận rộn nên nhóm chưa thể khẳng định về một kế hoạch cụ thể. Tuy nhiên, họ vẫn để ngỏ khả năng đứng chung sân khấu khi phù hợp. Trước phản hồi tích cực của người hâm mộ qua các video hát ngẫu hứng trên mạng xã hội, Ngọc Anh, Minh Anh, Minh Ánh thấy xúc động. "Chúng tôi trân trọng sự đồng hành của công chúng như những ngày đầu và sẽ trở lại khi có cơ hội", Minh Anh nói.
Tam ca 3A thành lập năm 1995 với ba thành viên là Ngọc Anh (sinh năm 1975) và hai chị em ruột Minh Anh (sinh năm 1977), Minh Ánh (sinh năm 1975). Minh Anh và Minh Ánh là con gái của nghệ sĩ Bội Trân, trong khi Ngọc Anh là con gái của NSND Hoàng Kiềm. Tam ca 3A từng phát hành album đầu tay mang tên Lãng du ca. Họ cũng đoạt Huy chương Vàng tại liên hoan Hà Nội - ASEAN năm 1996 với ca khúc Đêm ả đào (Phú Quang), tham dự Festival 14 tổ chức tại Cuba năm 1997.
Cuối tháng 3, trong dịp sinh nhật tuổi 29, Lisa cùng người thân tận hưởng kỳ nghỉ tại một vùng biển được cho là ở quê nhà Thái Lan. Người đẹp diện bikini đính ngọc trai và cườm, phối chân váy bút chì xuyên thấu.
Cuối tháng 3, trong dịp sinh nhật tuổi 29, Lisa cùng người thân tận hưởng kỳ nghỉ tại một vùng biển được cho là ở quê nhà Thái Lan. Người đẹp diện bikini đính ngọc trai và cườm, phối chân váy bút chì xuyên thấu.
Theo Elle, Lisa thường diện phong cách này khi đi nghỉ dưỡng. Trong lần khác, cô phối váy yếm bằng lụa với giày ballet của Maison Margiela giá 540 USD (14,2 triệu đồng).
Theo Elle, Lisa thường diện phong cách này khi đi nghỉ dưỡng. Trong lần khác, cô phối váy yếm bằng lụa với giày ballet của Maison Margiela giá 540 USD (14,2 triệu đồng).
Crop top đồng điệu chân váy midi cũng là trang phục được cô ưu tiên. Thỉnh thoảng, cô phối thêm trang sức mạ vàng, giúp diện mạo thêm cuốn hút.
Crop top đồng điệu chân váy midi cũng là trang phục được cô ưu tiên. Thỉnh thoảng, cô phối thêm trang sức mạ vàng, giúp diện mạo thêm cuốn hút.
Lisa chuộng cách phối bikini với nhiều loại váy midi, trong đó có kiểu váy tối giản khoét cổ sâu.
Lisa chuộng cách phối bikini với nhiều loại váy midi, trong đó có kiểu váy tối giản khoét cổ sâu.
Phong cách nhiệt đới được cô thể hiện với váy chữ A, giày Maison Margiela, nhấn bằng túi màu vàng chanh.
Phong cách nhiệt đới được cô thể hiện với váy chữ A, giày Maison Margiela, nhấn bằng túi màu vàng chanh.
Trên du thuyền, cô chọn trang phục gọn gàng gồm quần shorts và áo phông để thuận tiện trong các hoạt động.
Trên du thuyền, cô chọn trang phục gọn gàng gồm quần shorts và áo phông để thuận tiện trong các hoạt động.
Người đẹp phối áo trễ vai cùng chân váy mini, tạo vẻ khỏe khoắn bằng mũ lưỡi trai.
Người đẹp phối áo trễ vai cùng chân váy mini, tạo vẻ khỏe khoắn bằng mũ lưỡi trai.
Lisa theo đuổi mốt áo nửa gang tay và chân váy maxi. Túi Louis Vuitton giúp cô tăng vẻ sang trọng.
Lisa theo đuổi mốt áo nửa gang tay và chân váy maxi. Túi Louis Vuitton giúp cô tăng vẻ sang trọng.
Trên trang cá nhân, Lisa từng chia sẻ nhiều mẫu túi độc đáo, trong đó có mẫu hình quả cà chua, trái tim màu đỏ.
Trên trang cá nhân, Lisa từng chia sẻ nhiều mẫu túi độc đáo, trong đó có mẫu hình quả cà chua, trái tim màu đỏ.
Bên cạnh những bộ váy đan móc, Lisa còn thường mặc váy hai dây dáng rộng, dùng sơ mi làm áo khoác khi đi du lịch châu Âu.
Bên cạnh những bộ váy đan móc, Lisa còn thường mặc váy hai dây dáng rộng, dùng sơ mi làm áo khoác khi đi du lịch châu Âu.
Trong một lần dã ngoại, cô lăng xê mốt đồ ngủ kết hợp crop top.
Trong một lần dã ngoại, cô lăng xê mốt đồ ngủ kết hợp crop top.
Tracksuit cũng là thiết kế được cô yêu thích vì đem đến sự thoải mái, thuận tiện và giữ ấm nhẹ.
Lisa sinh tại Thái Lan, ra mắt cùng nhóm Blackpink ở Hàn hồi 2016. 10 năm qua, cô đoạt nhiều thành tựu về ca hát và là nghệ sĩ châu Á có lượng người theo dõi nhiều nhất Instagram với hơn 107 triệu lượt. Ngoài hoạt động cùng Blackpink, Lisa còn mở công ty riêng - LLOUD, đẩy mạnh sức ảnh hưởng ở lĩnh vực thời trang, điện ảnh, âm nhạc.
Tracksuit cũng là thiết kế được cô yêu thích vì đem đến sự thoải mái, thuận tiện và giữ ấm nhẹ.
Lisa sinh tại Thái Lan, ra mắt cùng nhóm Blackpink ở Hàn hồi 2016. 10 năm qua, cô đoạt nhiều thành tựu về ca hát và là nghệ sĩ châu Á có lượng người theo dõi nhiều nhất Instagram với hơn 107 triệu lượt. Ngoài hoạt động cùng Blackpink, Lisa còn mở công ty riêng - LLOUD, đẩy mạnh sức ảnh hưởng ở lĩnh vực thời trang, điện ảnh, âm nhạc.