Mục Lục
ToggleNgày 11.4.2026, Công an xã Thái Mỹ (TP.HCM) cho biết anh N.M.T (ở phường An Tịnh, TP.Tây Ninh) đã gửi thư cảm ơn đến Ban chỉ huy và cán bộ, chiến sĩ Công an xã Thái Mỹ vì tinh thần trách nhiệm, phản ứng nhanh chóng trong việc truy bắt tội phạm, giúp anh tìm lại tài sản bị cướp.
Theo đó, chiều 10.4, khi anh N.M.T (ở phường An Tịnh, thành phố Tây Ninh) đang câu cá tại khu vực Kênh 23, đường Tam Tân thì bất ngờ bị hai người tấn công, đánh đập và cướp chiếc xe máy. Theo lời anh T. vụ việc diễn ra quá nhanh khiến anh vô cùng hoang mang, lo sợ bởi đây không chỉ là tài sản lớn mà còn là phương tiện mưu sinh duy nhất của gia đình.
Ngay sau khi tiếp nhận tin báo, lực lượng Công an xã Thái Mỹ đã lập tức có mặt tại hiện trường để ghi nhận vụ việc. Bên cạnh việc triển khai các biện pháp nghiệp vụ, các cán bộ chiến sĩ đã túc trực động viên, trấn an tinh thần để bị hại bình tĩnh phối hợp cung cấp nhận diện đối tượng.
Với tinh thần quyết liệt tấn công tội phạm, lực lượng công an cơ sở đã nhanh chóng khoanh vùng, tổ chức truy xét các đối tượng nghi vấn ngay trong đêm. Bằng các biện pháp nghiệp vụ, chỉ sau một thời gian ngắn, lực lượng chức năng đã bắt giữ các nghi phạm gây án, thu hồi tài sản, trao trả cho người dân.
“Hành động nhanh chóng và quyết liệt của lực lượng công an không chỉ giúp tôi nhận lại tài sản mà còn góp phần giữ vững an ninh trật tự tại địa phương, đem lại niềm tin yêu, sự an tâm cho quần chúng nhân dân”, anh T. viết trong thư.
Việc khám phá nhanh vụ án của Công an xã Thái Mỹ một lần nữa khẳng định vai trò nòng cốt của lực lượng công an xã trong công tác giữ gìn an ninh trật tự tại địa bàn cơ sở. Không chỉ giỏi về nghiệp vụ, thái độ ứng xử gần dân, sát dân trong những tình huống khẩn cấp của cán bộ, chiến sĩ nơi đây đã để lại ấn tượng tốt đẹp trong lòng người dân.
Hà Nội chưa cấm xe máy xăng trong toàn bộ Vành đai 1 từ 1.7

Trao đổi với báo chí bên lề cuộc họp báo do UBND TP.Hà Nội tổ chức chiều 6.4, ông Đào Việt Long, Phó giám đốc Sở Xây dựng, cho biết UBND thành phố đã giao Sở NN-MT là cơ quan chủ trì, phối hợp với Sở Xây dựng, công an thành phố… triển khai xây dựng đề án vùng phát thải thấp trong Vành đai 1, trong đó xác định phạm vi, đối tượng áp dụng, lộ trình thực hiện và các giải pháp kỹ thuật, quản lý phù hợp với điều kiện thực tiễn của thủ đô.
Việc áp dụng vùng phát thải thấp từ ngày 1.7 là thí điểm theo vùng, kiểm soát khí thải ô tô, mô tô, xe gắn máy có lộ trình, có phạm vi, thời gian và đối tượng phù hợp; không triển khai đồng loạt trong toàn Vành đai 1.
Lãnh đạo Sở Xây dựng cho biết thêm, thành phố đang phấn đấu tối đa hóa tỷ lệ "xe buýt xanh" hoạt động trong Vành đai 1 trước thời điểm thí điểm, ưu tiên trước các tuyến hoạt động trực tiếp trong vùng thí điểm.
Cùng với đó, dự kiến trong quý 2/2026, thành phố sẽ bổ sung thêm nhiều trạm xe đạp công cộng để giải quyết "khoảng trống" kết nối chặng cuối, đồng thời nghiên cứu mở thêm một số tuyến buýt điện cỡ nhỏ phù hợp với ngõ, phố hẹp trong vành đai.
Về điểm gửi xe trung chuyển, Sở Xây dựng Hà Nội đang lập phương án bố trí các bãi đỗ tại các vị trí cửa ngõ giáp ranh vùng thí điểm để người dân gửi xe cá nhân rồi chuyển sang phương tiện công cộng.
Bước đầu đã rà soát được hơn 210 vị trí tại các địa bàn thuộc Vành đai 1, quá trình rà soát đang được tiếp tục để có số liệu đầy đủ.
Về hạ tầng trạm sạc và tủ đổi pin, hành lang pháp lý về phòng cháy chữa cháy cho trạm sạc dưới hầm chung cư cũ thì đang được cấp có thẩm quyền hoàn thiện.
Cạnh đó, ông Long cho biết tổ công tác liên ngành đã xây dựng phương án ưu tiên triển khai mạng lưới tủ đổi pin nhỏ gọn tại các không gian công cộng phù hợp. Người dân chỉ mất 2 - 3 phút đổi pin, giải quyết đồng thời "bài toán" an toàn phòng cháy chữa cháy và "bài toán" không gian tại các khu tập thể cũ, phố cổ.
Ngoài ra, Sở Xây dựng Hà Nội đang phối hợp hoàn thiện dự thảo Nghị quyết về chính sách hỗ trợ chuyển đổi phương tiện sử dụng năng lượng sạch để trình HĐND thành phố xem xét.
"Khung chính sách đang được các cơ quan chuyên môn đề xuất theo hướng phân loại rõ đối tượng, đảm bảo người dân, đặc biệt nhóm thu nhập thấp không bị thiệt thòi trong quá trình chuyển đổi. Nội dung và định mức cụ thể sẽ được công bố chính thức sau khi HĐND thông qua", ông Long nêu rõ.
Theo Nghị quyết 57/2025/NQ-HĐND, từ ngày 1.7.2026 thực hiện vùng phát thải thấp thí điểm tại một số khu vực trong Vành đai 1 (gồm 9 phường: Hai Bà Trưng, Cửa Nam, Hoàn Kiếm, Ô Chợ Dừa, Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Ba Đình, Giảng Võ, Ngọc Hà, Tây Hồ).
Trong vùng phát thải thấp, Hà Nội cho phép các phương tiện giao thông không phát sinh khí thải, xe cơ giới thân thiện môi trường, xe cơ giới sử dụng năng lượng sạch, năng lượng xanh, thân thiện môi trường, xe ưu tiên và phương tiện giao thông có giấy phép lưu thông của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Đối với xe mô tô, xe gắn máy sử dụng nhiên liệu hóa thạch (xe máy xăng dầu), Hà Nội sẽ cấm xe máy xăng dầu hoạt động kinh doanh trên nền tảng phần mềm ứng dụng hỗ trợ kết nối vận tải lưu thông trong vùng phát thải thấp.
Đồng thời cấm xe máy xăng dầu lưu thông vào vùng phát thải thấp theo khung giờ, thời điểm hoặc khu vực.
Hà Nội cũng sẽ cấm lưu thông xe tải trên 3,5 tấn sử dụng nhiên liệu hóa thạch vào vùng phát thải thấp, nhằm giảm lượng khí thải lớn từ nhóm xe nặng. Vùng phát thải thấp sẽ hạn chế hoạt động đối với xe ô tô không đạt chuẩn khí thải mức 4, tiến tới cấm lưu thông vào vùng phát thải thấp theo giờ hoặc theo khu vực.
Bắc Hưng Hải - từ đại thủy nông đến dòng sông chết

Buổi sáng đầu tháng 4, đứng bên con kênh ở phường Hải Dương, TP Hải Phòng, ông Lê Văn Sử buồn bã nhìn dòng nước đen đặc, ruồi nhặng bu vào một số con cá chết lập lờ trên mặt nước. Người đàn ông 85 tuổi không thể ngờ mạch sống của người dân Hải Dương cũng như nhiều tỉnh thành lân cận lại ô nhiễm đến thế.
Mười năm chín hạn
Trước khi công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải được xây dựng, cánh đồng của tỉnh Hải Dương cũ chỗ thì khô hạn kéo dài, chỗ lại ngập úng quanh năm. Nhà ông Sử ở xã Thanh Hồng, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương cũ, vốn đông người, ruộng có nhưng nhiều vụ phải bỏ không vì thiếu nước hoặc vì nước ngập quá lâu không thể cấy lúa. Những mùa giáp hạt trở thành nỗi ám ảnh của ông.
"Cái đói kéo dài hết năm này sang năm khác, nhìn ai cũng gầy gò, ốm yếu, đen đúa", ông Sử nhớ lại những năm 1940-1950.
Vùng Bắc Hưng Hải là đồng bằng rộng hơn 214.000 ha, được bao bọc bởi bốn con sông lớn gồm sông Hồng, Đuống, Luộc và Thái Bình. Lưu vực hệ thống trải dài trên toàn bộ tỉnh Hưng Yên (cũ), phần lớn Hải Dương (cũ), cùng một phần Hà Nội và Bắc Ninh.
Địa hình tương đối thấp, cao trung bình chỉ khoảng 0,5-1 m so với mực nước biển, vốn rất thuận lợi cho canh tác nông nghiệp nếu có nguồn nước ổn định. Tuy nhiên, trong nhiều thập kỷ trước đó, phần lớn ruộng đồng trong vùng vẫn phải phụ thuộc gần như hoàn toàn vào nước mưa.
Những năm hạn hán, đất đồng nứt nẻ, lúa chết khô. Khi mưa lớn hoặc nước sông dâng cao, đồng ruộng lại ngập úng kéo dài khiến mùa màng thất bát. Người dân trong vùng vẫn truyền nhau câu nói "mười năm chín hạn" (10 năm thì hết 9 năm hạn hán) để nói về sự bấp bênh trong sản xuất nông nghiệp.
Nguồn nước sinh hoạt cũng không khá hơn. Ao làng có nước song chua đến mức người lội xuống lâu một chút là rụng cả lông chân. Bệnh ngoài da khá phổ biến. Ông Sử nhớ những lần đi thực tập về quê không dám rửa chân bằng nước ao làng, phải xách nước nuôi cá ở chỗ khác về rửa. Dân gian khi ấy còn truyền nhau câu nói khá nặng nề về vùng đất "sống ngâm da, chết ngâm xương".
Đại thủy nông lớn nhất miền Bắc
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, miền Bắc bước vào giai đoạn khôi phục kinh tế, nhu cầu đảm bảo nước cho sản xuất nông nghiệp trở thành cấp bách. Năm 1956, Chính phủ quyết định xây dựng hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải nhằm đưa nước từ sông Hồng vào tưới tiêu cho vùng đồng bằng rộng lớn.
Theo thiết kế, nước từ sông Hồng qua cống Xuân Quan (Hưng Yên), dẫn theo kênh trục chính rồi tỏa ra mạng lưới kênh nhánh trước khi thoát ra cống An Thổ (Hải Phòng), tạo thành tuyến thủy lợi dài hơn 230 km trên trục chính và hàng nghìn kilomet kênh mương nội đồng. Toàn bộ hệ thống có khoảng 1.900 công trình cống, trạm bơm các loại, đảm bảo khả năng tưới tiêu chủ động cho hơn 130.000 ha đất canh tác trong lưu vực Bắc Hưng Hải.
Trước khi chuẩn bị khởi công, ngày 20/9/1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã về nói chuyện với công nhân và nhân dân trên công trường Bắc Hưng Hải. Bác động viên người dân: "Nay Đảng và Chính phủ quyết định cùng nhân dân xây dựng công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải để đưa nước vào ruộng cho đồng bào. Cán bộ và đồng bào quyết tâm vượt mọi khó khăn, làm cho nhanh, cho tốt. Bây giờ chịu khó phấn đấu mấy tháng, sau này sẽ hưởng hạnh phúc lâu dài hàng trăm năm".
Ngày 1/10/1958, công trình khởi công. Hàng chục nghìn bộ đội, dân công, học sinh, sinh viên và cán bộ từ nhiều địa phương tham gia đào kênh, đắp đập và xây dựng các cống, trạm bơm điều tiết nước. Ở làng gốm Bát Tràng, gần 150 hộ dân tự nguyện dỡ nhà lấy đất đào tuyến kênh trục chính.
Sau khi cống Xuân Quan hoàn thành và đưa nước vào đồng ngày 30/10/1959, việc xây dựng toàn hệ thống được triển khai nhanh chóng. Giai đoạn đầu, 26 trạm bơm cố định và 26 trạm bơm thuyền được xây để cấp nước cho các khu ruộng cao và hỗ trợ tiêu thoát nước. Các tuyến sông tự nhiên như Kim Sơn, Đình Đào, Cửu An, Tứ Kỳ được cải tạo, nạo vét và kết nối với mạng lưới kênh đào mới, tạo thành hệ thống thủy lợi liên hoàn.
Sau 7 tháng thi công, hệ thống hoàn thành, trở thành công trình thủy lợi lớn nhất miền Bắc thời bấy giờ, còn được gọi là "Đại thủy nông Bắc - Hưng - Hải". Ông Sử bảo cuộc sống của gia đình ông và hàng triệu người đã thay đổi vì đại thủy nông này.
Từ mùa vàng bội thu đến dòng nước đổi màu
Năm 1962, sau khi tốt nghiệp đại học, ông Sử được phân công về làm việc tại Công ty Bắc Hưng Hải. Những chuyến đi kiểm tra hệ thống khi đó khiến ông không khỏi ngạc nhiên trước sự thay đổi của dòng nước trong vùng.
"Nước trong đến mức nhìn thấy đáy. Ai cũng có thể tắm giặt ngay trên kênh", ông nhớ lại.
Nguồn nước dồi dào nhanh chóng làm thay đổi sản xuất nông nghiệp. Những cánh đồng trước kia phụ thuộc vào nước mưa bắt đầu có thể gieo cấy hai vụ lúa mỗi năm, năng suất vụ đầu đã đạt 60-62 tạ/ha, tổng sản lượng lúa trong vùng hơn 1,2 triệu tấn. Nhiều địa phương trong lưu vực Bắc Hưng Hải dần trở thành những vùng sản xuất lúa trọng điểm của đồng bằng Bắc Bộ.
Nguồn nước từ hệ thống kênh mương còn tạo điều kiện phát triển nuôi trồng thủy sản. Ở xã Đại Thắng (Hải Phòng), ông Vũ Văn Kế đã gắn bó với nghề nuôi thủy sản trên kênh Bắc Hưng Hải gần nửa thế kỷ. Có thời điểm gia đình ông nuôi tới 4-5 lồng cá trên kênh. Nguồn nước sạch giúp cá sinh trưởng tốt.
Không chỉ cá nuôi lồng, nhiều loại thủy sản tự nhiên cũng phát triển mạnh. Có những vụ, riêng rươi ông Kế thu hoạch được hơn 2 tấn. "Cá mè, cá chép nhiều vô kể. Riêng khu vực cống Xuân Quan có lần kéo lưới lên được hàng chục tấn cá", ông Kế nhớ lại. Nguồn lợi thủy sản dồi dào khiến nhiều gia đình sống ven kênh có thêm sinh kế ngoài trồng lúa.
Tuy nhiên, từ cuối những năm 1990 trở lại đây, dòng kênh từng trong xanh bắt đầu thay đổi. Những đoạn nước đục và có mùi hôi xuất hiện trước tiên ở khu vực gần khu dân cư và làng nghề, sau đó lan dần ra nhiều tuyến kênh trong hệ thống, ông Sử nhớ lại.
"Nguồn nước ô nhiễm trầm trọng từ năm 2000. Mỗi lần thả lưới xuống đánh cá, nếu thu được 5 kg cá thì tôi phải mất tới 3 ngày để gỡ hết túi nylon mắc trên lưới", ông Kế kể.
Quá trình đô thị hóa và phát triển công nghiệp trong lưu vực khiến lượng nước thải đổ vào hệ thống ngày càng lớn. Hiện Bắc Hưng Hải phải tiếp nhận nước thải từ khu dân cư, làng nghề và nhiều khu công nghiệp nằm dọc tuyến kênh.
Theo Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, mỗi ngày tổng lượng nước thải xả vào hệ thống khoảng 538.830 m3, trong đó phần lớn chưa được xử lý triệt để. Khi lượng nước thải vượt quá khả năng tự làm sạch của dòng chảy, chất lượng nước bắt đầu suy giảm.
Báo cáo tháng 2/2026 của Viện Nước, Tưới tiêu và Môi trường cho biết tình trạng ô nhiễm tập trung chủ yếu tại các điểm Xuân Thụy, Bình Lâu và Ngọc Đà. Các chỉ tiêu dinh dưỡng và hữu cơ trong nước tại đây đều vượt xa quy chuẩn môi trường nước mặt.
Đơn cử nồng độ amoni cho phép chỉ khoảng 0,3 mg/l, nhưng tại trạm Xuân Thụy (Hưng Yên) lên 25,6 mg/l, cao gấp hơn 85 lần. Hàm lượng oxy hòa tan chỉ khoảng 2 mg/l, thấp hơn nhiều so với mức tối thiểu 4 mg/l cần thiết để duy trì hệ sinh thái thủy sinh. Tại trạm Bình Lâu (Hải Phòng), nồng độ amoni trung bình khoảng 22 mg/l, cao gấp hơn 70 lần quy chuẩn.
Dọc nhiều tuyến kênh, nước chuyển màu đen, bọt trắng nổi dày và mùi hôi bốc lên nồng nặc. Những lồng cá từng mang lại thu nhập cho gia đình ông Kế buộc cũng phải tháo dỡ. Nước bẩn, cá, rươi nuôi không nổi vì năng suất giảm bảy, tám lần. Cả gia đình con cái ngày trước quây quần làm thủy sản, giờ phải phân tán đi làm công ty, ông Kế kể.
Chứng kiến các dòng kênh trong hệ thống Bắc Hưng Hải đang chết dần, ông Kế, ông Sử không khỏi xót xa. Không dám hy vọng có những mùa cá bội thu như trước, họ chỉ mong dòng kênh trở lại trong xanh.
"Mong ước đó không biết có viển vông quá không?", ông Sử tự hỏi.
Gia Chính - Mộc Miên
Tin Gốc: https://vnexpress.net/bac-hung-hai-tu-dai-thuy-nong-den-dong-song-chet-5050257.html
Đồng Tháp phát động thi đua, quyết tâm tăng trưởng 2 con số

Ngày 7.4, UBND tỉnh Đồng Tháp tổ chức hội nghị phát động phong trào thi đua thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026 - 2030, với mục tiêu tạo đột phá tăng trưởng, hướng tới đạt mức 2 con số vào năm 2030.
Theo nội dung ký kết, các cấp, ngành và địa phương trong tỉnh được yêu cầu tập trung cao độ nguồn lực, triển khai đồng bộ và quyết liệt các nghị quyết, chương trình hành động của Chính phủ, Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh. Phong trào thi đua nhằm cụ thể hóa các mục tiêu đã đề ra trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ I và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026 - 2030.
Trọng tâm là thúc đẩy tăng trưởng ngay từ năm đầu của giai đoạn. Đồng Tháp đặt mục tiêu năm 2026 đạt mức tăng trưởng từ 8 - 8,5%, tạo nền tảng vững chắc cho chặng đường 5 năm tiếp theo. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản dự kiến tăng 4,1 - 4,5%; công nghiệp - xây dựng tăng 13,1 - 14%; dịch vụ tăng 8,2 - 8,5%; thu ngân sách từ thuế tăng khoảng 5,65 - 6,5%.
Lộ trình tăng trưởng cũng được xác định cụ thể theo từng quý. Quý 2/2026, GRDP ước đạt tối thiểu 59.123 tỉ đồng, tăng trên 8,04% so với cùng kỳ; quý 3 đạt khoảng 70.008 tỉ đồng, tăng tăng 8,4%; quý 4 đạt 70.142 tỉ đồng, tăng 9,1%. Thu ngân sách từ thuế trong năm dự kiến tăng khoảng 6,3%.
Tại hội nghị, ông Phạm Thành Ngại, Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp yêu cầu các sở, ngành và địa phương chủ động, linh hoạt trong tổ chức thực hiện, bảo đảm hoàn thành các chỉ tiêu đề ra. Tỉnh phấn đấu duy trì mức tăng trưởng bình quân giai đoạn 2026 - 2030 đạt khoảng 9%/năm, tiến tới mốc từ 10% trở lên vào năm 2030.
Bên cạnh đó, Đồng Tháp xác định một số nhiệm vụ then chốt như hoàn thành điều chỉnh quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đúng tiến độ; đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công và các chương trình mục tiêu quốc gia ngay từ đầu năm; tăng cường quản lý thu ngân sách, đặc biệt ở các lĩnh vực tiềm năng như đất đai, thương mại điện tử và kinh tế số.
Công tác giải phóng mặt bằng, tháo gỡ vướng mắc và đẩy nhanh tiến độ các công trình, dự án trọng điểm cũng được yêu cầu thực hiện quyết liệt, nhằm tạo động lực thúc đẩy phát triển toàn diện.




