Mục Lục
ToggleKhoảng 13h, ngư dân phường Sông Cầu phát hiện cá voi màu đen dạt vào bờ biển trong tình trạng thoi thóp. Hơn 10 ngư dân hô hoán, gọi nhau giúp sức đưa cá ra biển 3 lần nhưng không thành. Một lúc sau, cá trôi gần bờ và chết đi.
Lúc dạt vào bờ, bề ngoài thân cá có một số vết xước nhỏ, da xung quanh trơn bóng. Thời tiết tại vùng biển nắng ráo, biển có sóng vừa.
Ông Đỗ Thanh Dũng, Trưởng khu phố Vịnh Hòa, cho hay địa phương đã đưa cá lên bờ và an táng theo phong tục địa phương.
Cá voi, còn được gọi là cá Ông, được người dân miền biển xem là vị thần chở che khi sóng gió, bão tố. Khi cá già yếu hoặc bị thương, dạt vào bờ (lụy bờ), ngư dân sẽ chôn cất, thờ phụng để thể hiện lòng kính ngưỡng.
Bùi Toàn
Tin Gốc: https://vnexpress.net/ca-voi-nang-2-tan-dat-vao-bo-bien-dak-lak-5060621.html
VRG kiến tạo giá trị bền vững

Với vốn điều lệ lên đến 40.000 tỉ đồng, giá trị vốn hóa đạt gần 170.000 tỉ đồng, VRG là tập đoàn nông nghiệp lớn nhất Việt Nam, hiện đang đầu tư vào 115 công ty thành viên và liên kết, hoạt động đa dạng trong các lĩnh vực: trồng và chế biến cao su, sản xuất gỗ, phát triển khu công nghiệp, công nghiệp cao su, năng lượng tái tạo và nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.
Trên diện tích hơn 377.800 ha cao su trải rộng trong và ngoài nước, VRG không chỉ sở hữu một hệ sinh thái sản xuất quy mô lớn, mà còn xây dựng được chuỗi giá trị hoàn chỉnh từ trồng trọt, khai thác đến chế biến và thương mại.
Đáng chú ý, phần lớn diện tích cao su trong nước nằm ở các vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới… những địa bàn còn nhiều khó khăn nhưng lại mang ý nghĩa chiến lược đặc biệt. Tại đây, các dự án của VRG đã góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số, đồng thời góp phần giữ vững "phên dậu" của Tổ quốc.
Không dừng lại trong nước, VRG đã mở rộng đầu tư ra khu vực, đặc biệt tại Lào và Campuchia với tổng diện tích hơn 113.000 ha, chiếm khoảng 30% diện tích cao su toàn tập đoàn.
Các dự án tại 2 nước bạn không chỉ đóng góp gần 40% sản lượng khai thác mà còn mang ý nghĩa sâu sắc về kinh tế, chính trị, đối ngoại. Tại những vùng dự án, đời sống người dân được cải thiện rõ rệt, hạ tầng nông thôn từng bước được hoàn thiện, tình hình an ninh trật tự được giữ vững.
Quan trọng hơn, những cánh rừng cao su ấy đã trở thành cầu nối hữu nghị, góp phần củng cố niềm tin và sự gắn kết giữa Việt Nam với các quốc gia láng giềng, khẳng định vai trò và trách nhiệm của doanh nghiệp nhà nước trong hợp tác quốc tế.
Năm 2025 ghi nhận những kết quả tích cực của VRG với tổng doanh thu hợp nhất đạt hơn 32.000 tỉ đồng, lợi nhuận trước thuế 7.000 tỉ đồng, tăng trưởng mạnh so với năm trước. VRG nộp ngân sách đạt 4.350 tỉ đồng, khẳng định vai trò đóng góp quan trọng cho nền kinh tế.
Không chỉ dừng lại ở hiệu quả tài chính, VRG còn đặc biệt chú trọng chăm lo đời sống người lao động. Với khoảng 80.000 lao động, trong đó hơn 20.000 người là đồng bào dân tộc thiểu số và hàng chục nghìn lao động tại Lào, Campuchia, tập đoàn đã tạo dựng một hệ sinh thái việc làm ổn định, thu nhập bình quân trên 12 triệu đồng/người/tháng.
Đó chính là minh chứng rõ nét cho triết lý phát triển tăng trưởng phải đi đôi với bao trùm trách nhiệm xã hội, hiệu quả phải gắn liền với bền vững.
Năm 2026, VRG đặt mục tiêu tăng trưởng ổn định với doanh thu gần 34.000 tỉ đồng, lợi nhuận tiếp tục duy trì đà tăng. Nhưng hơn cả những con số, điều đáng chú ý là định hướng phát triển mang tính chiến lược, dài hạn. Tập đoàn đang đẩy mạnh đầu tư vào các lĩnh vực như nông nghiệp công nghệ cao, năng lượng tái tạo, phát triển khu công nghiệp trên đất chuyển đổi… nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và đa dạng hóa nguồn thu.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, VRG chú trọng ứng dụng khoa học công nghệ, cơ giới hóa, phát triển các mô hình sản xuất quy mô lớn, tạo ra giá trị gia tăng cao. Việc nghiên cứu, phát triển giống cây trồng, đặc biệt là ứng dụng công nghệ sinh học, đang mở ra những hướng đi mới cho tập đoàn.
Một trong những trụ cột quan trọng trong chiến lược phát triển của VRG là chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản trị. Tập đoàn đang triển khai hệ thống quản lý hiện đại như GIS để quản lý đất đai, vườn cây theo thời gian thực; số hóa toàn bộ quy trình quản trị nội bộ; xây dựng hệ thống dữ liệu đồng bộ, minh bạch, góp phần nâng cao năng lực điều hành và tiết giảm chi phí.
Đồng thời, việc xây dựng và áp dụng bộ tiêu chuẩn ESG (môi trường - xã hội - quản trị) không chỉ giúp VRG tiệm cận các chuẩn mực quốc tế, mà còn củng cố niềm tin của nhà đầu tư, đối tác và thị trường.
Song song với mở rộng đầu tư, VRG cũng đẩy mạnh tái cơ cấu, sáp nhập các đơn vị cùng ngành nghề, tinh gọn bộ máy quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động. Việc loại bỏ cấp trung gian, sắp xếp lại các đơn vị sản xuất kinh doanh không chỉ giúp giảm chi phí, mà còn tạo ra sự linh hoạt, chủ động trong điều hành, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của toàn hệ thống.
Năm 2025 đánh dấu bước đột phá lớn của VRG trong công tác sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, thực hiện nghiêm chủ trương của Đảng và Nhà nước về đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước.
Tập đoàn đã chuyển đổi mô hình tổ chức sản xuất từ 3 cấp (công ty - nông trường - tổ/đội) sang 2 cấp (công ty - tổ/đội sản xuất), qua đó bỏ cấp trung gian, tăng tính linh hoạt, giảm chi phí quản lý và đưa bộ máy quản trị tiến sát hơn với sản xuất thực tiễn.
Cụ thể, tập đoàn đã giải thể, sáp nhập 214 nông trường, tổ chức lại thành 328 tổ/đội sản xuất trực thuộc các công ty, bảo đảm tinh gọn, rõ chức năng, rõ nhiệm vụ, rõ trách nhiệm, phù hợp với điều kiện sản xuất và yêu cầu quản trị hiện đại.
Cùng với đó, tỷ lệ lao động gián tiếp trong toàn tập đoàn được giảm mạnh, còn khoảng 5% tổng lao động, góp phần nâng cao năng suất lao động, tiết kiệm chi phí, tăng hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Trong xu thế phát triển mới, VRG chủ động liên kết với các tập đoàn kinh tế lớn như PVN, EVN, VNPT… nhằm tận dụng lợi thế, nguồn lực và tạo ra những giá trị cộng hưởng. Những hợp tác này mở ra nhiều cơ hội trong lĩnh vực năng lượng tái tạo, công nghệ cao, chuyển đổi số…, đồng thời góp phần hình thành các chuỗi giá trị mới, nâng cao vị thế của VRG trên thị trường.
Với tầm nhìn dài hạn, VRG đặt mục tiêu đến sau năm 2030 đạt doanh thu khoảng 50.000 tỉ đồng, tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt trong ngành nông nghiệp và cao su.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, tập đoàn xác định rõ phát triển bền vững phải dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời gắn chặt với trách nhiệm xã hội và lợi ích quốc gia.
Tin Gốc: https://thanhnien.vn/vrg-kien-tao-gia-tri-ben-vung-185260407175345413.htm
Dự báo dân số Việt Nam năm 2200 là 46 triệu người, 'siêu già' từ năm 2040

Ngày 9.6, Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy TP.HCM tổ chức tập huấn luật Dân số 2025 và các vấn đề dân số. Tại đây, GS-TS Nguyễn Thiện Nhân, nguyên Bí thư Thành ủy TP.HCM đưa ra những dự báo đáng chú ý về dân số Việt Nam.
GS-TS Nguyễn Thiện Nhân cho biết, theo phương án cơ sở dự báo thô dân số năm 2023, nếu mức sinh thấp kéo dài, dân số Việt Nam có thể còn khoảng 46 triệu người vào năm 2200 và tiếp tục giảm xuống khoảng 22,5 triệu người vào năm 2300.
Theo GS-TS Nguyễn Thiện Nhân, kịch bản này bắt nguồn từ xu hướng mức sinh giảm sâu và duy trì dưới mức thay thế trong thời gian dài. Hiện mức sinh của Việt Nam đã giảm còn 1,91 con/phụ nữ vào năm 2024; dự báo tiếp tục xuống khoảng 1,63 vào năm 2050 và 1,38 vào năm 2100.
GS-TS Nguyễn Thiện Nhân phân tích, dân số Việt Nam được dự báo đạt khoảng 110 triệu người, hoặc 107 triệu người vào năm 2050; đến năm 2100 còn khoảng 91 triệu người hoặc 88 triệu người, rồi tiếp tục thu hẹp trong các thế kỷ sau.
Ông lưu ý, điều đáng lo không nằm ở mức giảm trong ngắn hạn, mà ở xu hướng suy giảm kéo dài qua nhiều thế hệ. Khi mức sinh đã xuống thấp và duy trì lâu dài, việc đưa trở lại mức thay thế sẽ rất khó khăn.
Vì vậy, bài toán dân số cần được nhìn như một vấn đề phát triển dài hạn, không chỉ là chuyện sinh ít hay sinh nhiều trong từng năm.
Đặt trong bối cảnh rộng hơn, GS-TS Nguyễn Thiện Nhân cho biết mức sinh toàn cầu cũng đang giảm mạnh: từ 2,23 con/phụ nữ năm 2020 xuống mức dự báo 2,1 vào năm 2030; 1,83 vào năm 2050 và 1,59 vào năm 2100.
Theo GS-TS Nguyễn Thiện Nhân, hệ quả nặng nề của mức sinh thấp kéo dài không chỉ là dân số giảm, mà còn là lực lượng lao động tương lai bị thu hẹp.
Với kịch bản mức sinh 1,5 con/phụ nữ, sau một thế hệ, tỷ lệ tái tạo lao động chỉ còn khoảng 71%; sau hai thế hệ còn 50,4%; sau ba thế hệ chỉ còn 35,8%.
Nói cách khác, mức sinh thấp kéo dài sẽ làm nguồn lao động co lại rất nhanh. Nếu kéo dài 5 thế hệ, tỷ lệ này chỉ còn khoảng 18%; sau 6 thế hệ còn khoảng 12,8%.
Ông nhấn mạnh, GDP phụ thuộc vào 2 yếu tố cốt lõi: số lao động làm việc và năng suất lao động. Khi lao động giảm, nền kinh tế muốn duy trì tăng trưởng buộc phải nâng năng suất đủ mạnh để bù đắp; nếu không, tăng trưởng sẽ chậm lại, thậm chí trì trệ.
Theo báo cáo, dân số trong tuổi lao động của Việt Nam sẽ đạt đỉnh 66,59 triệu người vào năm 2035; sau đó giảm còn 44,87 triệu người vào năm 2100 (tức giảm gần 33%).
Cùng với đó, Việt Nam sẽ bước vào giai đoạn "xã hội đã già" từ năm 2025 và có thể trở thành "xã hội siêu già" từ năm 2040.
Theo giáo sư Thiện Nhân, đây không chỉ là áp lực an sinh, mà còn là nguy cơ làm chậm tăng trưởng GDP và GDP/người trong giai đoạn dài hạn.
GS-TS Nguyễn Thiện Nhân cho biết, nhiều nước phát triển và nền kinh tế lớn như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc đã hoặc đang đi qua quỹ đạo tương tự: mức sinh giảm sâu, lao động thu hẹp, dân số già hóa nhanh và tăng trưởng chịu sức ép.
Trong đó, Nhật Bản là trường hợp điển hình. Sau hơn 50 năm mức sinh dưới mức thay thế, Nhật Bản rơi vào giai đoạn già hóa sâu, lao động giảm từ năm 1996 và kinh tế trì trệ suốt 30 năm. Theo báo cáo, dân số Nhật Bản đến năm 2100 được dự báo chỉ còn khoảng 50 - 60 triệu người, và đến năm 2350 có thể chỉ còn khoảng 1 triệu người.
Tương tự, Hàn Quốc cũng là quốc gia có mức sinh thấp. Với mức sinh khoảng 0,75 con/phụ nữ, dân số Hàn Quốc được dự báo giảm gần 60% vào năm 2100. Tỷ lệ tái tạo lao động chỉ còn khoảng 35,7% - tức 10 lao động của thế hệ trước chỉ được thay bằng khoảng 3,6 lao động của thế hệ sau.
Theo giáo sư, kinh nghiệm quốc tế cho thấy việc kéo mức sinh trở lại là cực kỳ khó nếu không có chính sách sớm, đủ mạnh và triển khai trước khi lực lượng lao động bắt đầu suy giảm.
Giải pháp không thể chỉ dừng ở tuyên truyền, mà phải là một gói chính sách đồng bộ nhằm giảm gánh nặng sinh và nuôi con cho người trẻ.
Trong đó, cốt lõi nhất là bảo đảm người lao động có mức lương đủ sống để một gia đình 4 người có thể nuôi dạy 2 con đến tuổi trưởng thành.
Cùng với đó, cần tập trung vào các vấn đề then chốt như: thu nhập, nhà ở, giáo dục mầm non, điều kiện làm việc, thời gian chăm sóc con cái và chăm sóc sức khỏe sinh sản.
Theo ông, chính sách dân số không chỉ là chuyện của ngành y tế, mà liên quan trực tiếp đến kinh tế, lao động và an sinh xã hội. Nếu không có giải pháp kịp thời và mang tính đột phá, Việt Nam hoàn toàn có thể đi theo quỹ đạo mà nhiều quốc gia phát triển đã trải qua: dân số giảm, lao động thiếu hụt, già hóa tăng nhanh và áp lực an sinh ngày càng lớn.
HĐND TP.HCM lưu ý tránh chồng chéo khi xây dựng chính sách y tế mới

Ngày 8.4, Ban Văn hóa - Xã hội HĐND TP.HCM làm việc với Sở Y tế TP.HCM, đề nghị đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện các chính sách y tế và an sinh xã hội dự kiến trình trong năm 2026, đồng thời bảo đảm đúng pháp luật, sát thực tiễn và tránh chồng chéo.
Tại buổi làm việc, ông Cao Thanh Bình, Trưởng ban Văn hóa - Xã hội HĐND TP.HCM, nhấn mạnh việc xây dựng chính sách phải được rà soát chặt chẽ, bảo đảm đúng quy định và phù hợp thực tiễn.
Theo ông Bình, các đề xuất cần được phân loại rõ giữa nghị quyết thực hiện theo quy định hiện hành và nghị quyết mang tính đặc thù. Với những nội dung đã được trung ương quy định, các cơ quan liên quan phải tuân thủ đầy đủ; còn đối với cơ chế đặc thù, cần làm rõ cơ sở pháp lý, sự cần thiết và khả năng áp dụng trong thực tế.
Tại buổi làm việc, ông Nguyễn Hoàng Anh, đại diện Sở Y tế TP.HCM cho biết trong năm 2026, ngành y tế dự kiến trình nhiều nhóm nội dung liên quan đến công tác dân số, an sinh xã hội, chăm sóc sức khỏe, phát triển nguồn nhân lực y tế và giá dịch vụ y tế.
Đối với chính sách khám sức khỏe, Sở Y tế TP.HCM cho biết đang nghiên cứu, xây dựng phương án phù hợp với quy định hiện hành và tình hình thực tiễn. Trong bối cảnh một số nội dung từ trung ương chưa có hướng dẫn cụ thể về lộ trình và đối tượng áp dụng, TP.HCM dự kiến triển khai theo hướng chủ động, có trọng tâm, trọng điểm.
Theo đại diện Sở Y tế TP.HCM, hiện một số nhóm đối tượng như người cao tuổi, đối tượng bảo trợ xã hội đã có chính sách riêng. Thành phố sẽ tiếp tục nghiên cứu mở rộng phạm vi hỗ trợ khi có đầy đủ cơ sở pháp lý và điều kiện thực hiện.
Trên cơ sở đó, ông Cao Thanh Bình đề nghị ngành y tế nghiên cứu xây dựng chính sách khám sức khỏe cho người dân theo lộ trình phù hợp, bảo đảm khả năng cân đối nguồn lực và đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Tại cuộc họp, các đại biểu cũng đề cập chính sách hỗ trợ lực lượng y tế công tác tại các địa bàn đặc thù, nhất là khu vực Côn Đảo, Thạnh An. Thực tế cho thấy đội ngũ y, bác sĩ tại những khu vực này vẫn gặp nhiều khó khăn về điều kiện sinh hoạt, đi lại. Các ý kiến đề xuất cần nghiên cứu cơ chế hỗ trợ phù hợp đặc thù địa phương, đồng thời tham khảo các chính sách hiện hành đối với cán bộ công tác xa nơi cư trú để xây dựng mức hỗ trợ hợp lý.
Bên cạnh đó, chính sách thu hút và hỗ trợ đào tạo trong lĩnh vực cấp cứu ngoại viện cũng được xác định là nội dung cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện trong thời gian tới.
Về vấn đề này, ông Bình lưu ý việc xây dựng nghị quyết phải bảo đảm thống nhất với hệ thống văn bản hiện hành, tránh chồng chéo, trùng lặp. Đối với các dịch vụ y tế phát sinh, cần thực hiện theo hướng sửa đổi, bổ sung danh mục giá dịch vụ. Theo ông, các chính sách đang áp dụng có thể tiếp tục thực hiện để bảo đảm quyền lợi của người dân, đồng thời cần nghiên cứu điều chỉnh, thay thế khi cần thiết, tránh phát sinh thủ tục không cần thiết.




