Ngày 8/4, Quốc hội phê chuẩn bổ nhiệm PGS. TS Hoàng Minh Sơn làm Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo. Đây luôn là “ghế nóng” với bộ máy nhân sự khổng lồ – hơn 1,6 triệu thầy cô, tác động đến khoảng 26 triệu học sinh, sinh viên.
Ông Lê Như Tiến, nguyên Phó chủ nhiệm Uỷ ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng (cũ) của Quốc hội, nhận định: “Tân Bộ trưởng sẽ đối mặt những thách thức mang tính thời đại khi giáo dục đang ở giai đoạn đổi mới toàn diện”.
“Mục tiêu của giáo dục không chỉ là truyền thụ kiến thức mà phải trang bị kỹ năng để người học thích ứng với thay đổi. Đó là đòi hỏi rất cao, người đứng đầu ngành phải có tầm nhìn để hiện thực hóa”, ông nói thêm.
Cuộc ‘đại phẫu’ mạng lưới giáo dục đại học
Cả nước có khoảng 240 trường đại học. Nghị quyết 71 nêu rõ hệ thống đại học hiện phát triển manh mún, chưa đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và nghiên cứu khoa học. Bộ Chính trị yêu cầu khẩn trương sắp xếp, tái cấu trúc hoặc sáp nhập, giải thể trường không đạt chuẩn.
Trả lời báo chí khi còn là Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, ông Hoàng Minh Sơn nói đây là cơ hội và sứ mệnh để đẩy mạnh chất lượng giáo dục đại học.
Bộ đã có định hướng về việc này, đề nghị các bên hoàn thành hồ sơ trình cấp thẩm quyền trước 30/6. Tuy nhiên, chuyên gia nhìn nhận như vậy là chưa đủ.
TS Lê Viết Khuyến, Phó chủ tịch Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng Việt Nam, nhấn mạnh tái cấu trúc hệ thống giáo dục đại học không chỉ cốt tinh gọn bộ máy, mà còn phải kiến tạo được một trục liên thông, giúp người học thuận lợi đi lên các bậc cao hơn.
Cùng đó là nhiều bài toán khác như bảo đảm quyền tự chủ toàn diện cho các trường mà không phụ thuộc mức độ tài chính; đầu tư cho nhóm ngành công nghệ mũi nhọn, thu hút giảng viên giỏi… để Việt Nam có ít nhất 8 trường thuộc nhóm 200 đại học hàng đầu châu Á, một trường vào top 100 thế giới ở một số lĩnh vực vào năm 2030, theo Nghị quyết 71.
“Việc có đại học trong top 100 thế giới sẽ là thách thức lớn với ngành giáo dục”, ông Tiến nói.
Xáo trộn tuyển sinh
Hơn 20 năm qua, tuyển sinh đại học có 6 lần thay đổi lớn. Từ chỗ thí sinh đăng ký trường nào phải thi tại trường đó; tổ chức kỳ thi “ba chung”: chung đề, chung đợt thi và sử dụng chung kết quả; đến tự chủ tuyển sinh, bùng nổ hàng loạt phương thức, kỳ thi riêng.
Năm ngoái, các trường phải bỏ xét tuyển sớm, quy đổi điểm tương đương các phương thức, tổ hợp. Mỗi trường lại đưa ra công thức tính riêng, dựa trên nhiều yếu tố như phổ điểm thi, kết quả của sinh viên khóa trước, đặc thù ngành…
Đến năm nay, cách mùa tuyển sinh khoảng 4-5 tháng, Bộ lại yêu cầu điều chỉnh xét tuyển học bạ với ràng buộc về điểm thi tốt nghiệp, đổi cách tính điểm cộng với chứng chỉ ngoại ngữ.
Các thay đổi, theo Bộ, giúp việc tuyển sinh công bằng hơn và giảm áp lực, song chuyên gia nhìn nhận việc này không có “thời gian chờ”, khiến thí sinh, phụ huynh bị động, rối loạn thông tin.
Trên thế giới, chính sách tuyển sinh đại học về cơ bản ổn định với hai hướng chủ đạo: Trung Quốc, Hàn Quốc tổ chức kỳ thi đại học chung toàn quốc; Mỹ, châu Âu để đại học tự chủ.
Thông tư 29 của Bộ về dạy thêm, học thêm được coi như “liều thuốc mạnh” khi hạn chế dạy thêm trong trường và phải miễn phí. Song, nó gây tranh cãi suốt một năm qua, nhiều hiệu trưởng, chuyên gia cho rằng các quy định chỉ giải quyết “phần ngọn”, không làm giảm nhu cầu, trong khi phụ huynh tốn tiền gấp 2-4 lần vì phải đưa con em ra bên ngoài.
Ông Hoàng Minh Sơn trong hội nghị tiếp xúc cử tri đầu tháng 3 ở Hà Nội đã khẳng định một mặt “đấu tranh với những hiện tượng chưa lành mạnh” trong dạy thêm, học thêm, song sẽ tiếp thu các góc nhìn khác.
Trả lời VnExpress hồi tháng 3, TS Trần Thành Nam, Phó hiệu trưởng trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội, cho rằng về lâu dài, ngành giáo dục cần làm tốt ba việc: đổi mới thi cử, đào tạo được những thế hệ giáo viên có phẩm chất tốt, học sinh có kỹ năng và tinh thần tự học.
Thiếu giáo viên dai dẳng
Nhiệm kỳ của Tân Bộ trưởng còn đối mặt một bài toán dai dẳng: cả nước thiếu khoảng 124.000 giáo viên, tính đến tháng 2/2026. Nhưng áp lực còn nằm ở sự mất cân đối, thừa – thiếu cục bộ, “khát” giáo viên mầm non, Tiếng Anh và các môn đặc thù như Tin học và Nghệ thuật. Nhiều địa phương có biên chế nhưng không có nguồn để tuyển. Cùng đó, tình trạng giáo viên nghỉ việc, chuyển việc có xu hướng gia tăng tại một số nơi.
Trong khi đó, cả nước đang triển khai đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục; thực hiện phổ cập mầm non cho trẻ từ 3 tuổi; tiếp tục đổi mới chương trình phổ thông theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực; đẩy mạnh chuyển đổi số… nên đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với đội ngũ nhà giáo.
Điều này đòi hỏi phải có chính sách và giải pháp phát triển đội ngũ đồng bộ, có hệ thống và dài hạn.
Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học
Bộ Chính trị từ tháng 8/2024 đề nghị từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học.
Hiện, môn Tiếng Anh là bắt buộc từ lớp 3. Chưa địa phương nào dạy tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai trên quy mô toàn tỉnh, mà mới ở dạng thí điểm. Năm học trước, khoảng 190.000 học sinh được học môn khác bằng ngôn ngữ này hoặc chương trình tích hợp.
Theo Bộ, để tiếng Anh được dùng rộng rãi ở tất cả 52.000 trường học, cả nước cần thêm 12.000 thầy cô có khả năng dạy bằng tiếng Anh vào năm 2030. Trong khi đó, hiện nhiều tỉnh, thành vẫn loay hoay vì không tuyển được giáo viên môn này. Ngoài ra, cơ sở vật chất, điều kiện để dạy và học tiếng Anh còn nhiều khó khăn, đặc biệt ở khu vực miền núi.
Ngày 6.4, Văn phòng UBND thành phố Đà Nẵng cho biết Chủ tịch UBND thành phố, ông Nguyễn Đức Ấn, đã có văn bản chỉ đạo yêu cầu các sở, ngành và địa phương tăng cường kiểm tra, kiểm soát an toàn thực phẩm tại các cơ sở giáo dục, đặc biệt là các bếp ăn tập thể, bán trú.
Theo đó, các trường học phải rà soát toàn diện các điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm, từ khâu lựa chọn nguồn cung, quy trình chế biến đến việc lưu mẫu thức ăn.
Thành phố yêu cầu kiểm soát chặt chẽ, kiên quyết không để thực phẩm không rõ nguồn gốc, không bảo đảm chất lượng được đưa vào sử dụng trong trường học.
Đáng chú ý, lãnh đạo thành phố nhấn mạnh việc quán triệt trách nhiệm của người đứng đầu. Hiệu trưởng và chủ cơ sở giáo dục phải chịu trách nhiệm trực tiếp, toàn diện trước cơ quan quản lý nhà nước và trước pháp luật nếu để xảy ra ngộ độc thực phẩm hoặc vi phạm quy định về an toàn thực phẩm tại đơn vị mình.
Sở GD-ĐT thành phố được giao chủ trì, phối hợp với ngành y tế và các địa phương triển khai đồng bộ các biện pháp bảo đảm an toàn thực phẩm. Đồng thời, tăng cường kiểm tra đột xuất đối với các đơn vị cung cấp suất ăn, thực phẩm cho trường học nhằm kịp thời phát hiện và xử lý vi phạm.
Ngành y tế được yêu cầu đẩy mạnh kiểm tra liên ngành, thực hiện truy xuất nguồn gốc thực phẩm và hướng dẫn các biện pháp phòng ngừa ngộ độc trong môi trường học đường.
Trong khi đó, UBND các xã, phường phải siết chặt quản lý nguồn cung thực phẩm trên địa bàn, tăng cường giám sát, tiếp nhận và xử lý kịp thời các phản ánh của người dân, phụ huynh liên quan đến bếp ăn trường học.
UBND thành phố Đà Nẵng đề nghị cấp xã, phường sẽ chịu trách nhiệm trước Chủ tịch UBND thành phố nếu để xảy ra vi phạm do buông lỏng quản lý hoặc thiếu kiểm tra, giám sát về an toàn thực phẩm.
Đại học Yonsei và Đại học Korea đang đối mặt làn sóng chỉ trích sau các báo cáo về việc tuyển dụng học giả ưu tú nước ngoài nhưng thực tế những người này không giảng dạy hay cư trú tại Hàn Quốc.
Theo nhận định của Yonhap News, đây có thể là chiến lược nhằm "lách luật" của các bảng xếp hạng đại học danh tiếng như QS và THE. Cụ thể, nếu tên của trường được liệt kê ở phần tác giả của một bài báo, bài đó sẽ được tính vào tổng sản lượng nghiên cứu của trường.
Đại học Yonsei được cho đã bắt đầu lộ trình này từ năm 2017 qua chương trình "Yonsei Frontier Lab", ưu đãi lên tới 30.000 USD để các nhà nghiên cứu nước ngoài ghi tên Yonsei vào danh sách đơn vị liên kết trong các bài báo công bố quốc tế.
Kết quả là trong vòng 6 năm, nhóm này đã đóng góp hàng trăm bài báo cho trường. Thứ hạng của Yonsei trên bảng xếp hạng QS đã nhảy vọt từ ngoài top 100 năm 2018 lên vị trí thứ 70 thế giới vào năm 2023.
Đại diện Đại học Yonsei cho biết trường từng bổ nhiệm các học giả này trong thời gian đại dịch Covid-19, nhưng đã chấm dứt hợp đồng với khoảng 14 người vào năm 2022, sau khi nhận thấy việc thiếu trao đổi thực chất có thể gây ra những rắc rối về mặt pháp lý.
Phía nhà trường cũng phủ nhận chi tiền để yêu cầu học giả ghi danh trường, mà chỉ nhằm hỗ trợ đi lại và sinh hoạt.
Tương tự, chương trình "K-Club" do Đại học Korea triển khai năm 2023 thu hút khoảng 150 học giả nước ngoài. Thứ hạng của trường trên bảng xếp hạng THE đã nhảy từ ngoài top 200 lên vị trí 156 vào năm 2026.
Phân tích từ cơ sở dữ liệu Scopus cho thấy, trong hơn 8.700 bài báo liên quan đến Đại học Korea năm ngoái, hơn 1.000 bài (khoảng 11%) thuộc về các thành viên của K-Club. Tính đến giữa tháng 3, tỷ lệ này đã tăng lên 12,5%.
Đáng chú ý, phần lớn học giả này đang công tác toàn thời gian tại các viện nghiên cứu hoặc đại học khác ở nước ngoài. Sau khi nhận danh hiệu giáo sư thỉnh giảng của Đại học Korea, họ liệt kê tên trường này như một đơn vị công tác thứ hai hoặc thứ ba.
Điển hình là Zahoor Ahmed, một phó giáo sư người Pakistan, nổi tiếng với tần suất công bố bài báo khoa học "khủng" (trung bình hai tuần một bài), dù cho tới nay, ông chưa từng đặt chân đến khuôn viên Đại học Korea để làm việc.
Phía trường khẳng định mục tiêu của K-Club là thúc đẩy hợp tác quốc tế, nhưng số liệu thực tế lại cho thấy một bức tranh khác. Chỉ khoảng 8% trong số 1.600 bài báo của các giáo sư K-Club có tên đồng tác giả là giảng viên cơ hữu của trường này.
Giải thích, Đại diện Đại học Korea cho rằng đây là mô hình "hợp tác nghiên cứu từ xa", phù hợp với xu hướng số hóa toàn cầu, tương tự cách làm của Harvard, MIT hay Imperial College London.
Trường cũng bác bỏ cách gọi "giáo sư ma", khẳng định đóng góp học thuật không nên bị đánh giá chỉ dựa trên việc các nhà nghiên cứu có mặt trực tiếp tại trường hay không.
Trong tiêu chí xếp hạng đại học thế giới của THE, môi trường nghiên cứu và chất lượng nghiên cứu chiếm tổng cộng 59% trọng số. QS cũng coi nghiên cứu và khám phá là tiêu chí có sức nặng nhất, quyết định 50% thứ hạng của trường.
Thông tin do Cơ quan Giáo dục New Zealand công bố ngày 6/4, sau chuyến thăm của 8 Học viện Kinh doanh, Công nghệ và Kỹ thuật nước này ở Việt Nam vào tuần trước.
Cụ thể, khối học viện công New Zealand sẽ xét tuyển thẳng học sinh tốt nghiệp THPT với điểm trung bình lớp 12 từ 7.0 trở lên ở ít nhất 4 môn liên quan đến ngành học. Trước đây, các em phải học xong năm thứ nhất đại học tại Việt Nam mới đủ điều kiện.
Song song, các học viện công cấp học bổng trị giá 3.000-5.000 NZD (45-75 triệu đồng) cho những sinh viên đạt yêu cầu đầu vào và được nhận thư mời nhập học. Trong khi đó, nhóm học viện tư đưa ra các suất học bổng cho bậc cử nhân và thạc sĩ, từ 3.000 NZD tới 25-35% học phí.
Học phí với sinh viên quốc tế tại các học viện New Zealand hiện dao động 25.000-30.000 NZD mỗi năm (375 - 450 triệu đồng).
Tại New Zealand, hệ thống học viện ứng dụng là một trong những mô hình đào tạo quan trọng, có nhiều bậc học, từ chứng chỉ nghề, cao đẳng đến cử nhân và thạc sĩ.
Các học viện này tập trung vào nhóm ngành ứng dụng như kinh tế - kinh doanh, quản lý nhà hàng - khách sạn - du lịch, chăm sóc sức khỏe, kỹ thuật và công nghệ thông tin, thiết kế sáng tạo, giảng dạy và công tác xã hội, đáp ứng những ngành, nghề đang thiếu hụt lao động tại New Zealand.
Ông Ben Burrowes, Giám đốc khu vực châu Á của ENZ, nhìn nhận ngày càng nhiều học sinh và sinh viên Việt Nam quan tâm đến các chương trình đào tạo theo hướng ứng dụng tại New Zealand, nhờ mức học phí phải chăng kèm các quyền lợi làm việc trong khi học và sau tốt nghiệp.
Du học sinh bậc đại học và thạc sĩ hiện được làm thêm tối đa 25 giờ/tuần trong các kỳ học và toàn thời gian trong kỳ nghỉ. Sau tốt nghiệp, họ được ở lại New Zealand 3 năm để tích lũy kinh nghiệm làm việc.
Còn nhóm hoàn thành chứng chỉ nghề (Level 5-7) được ở lại làm việc tối đa 6 tháng, từ đó tìm cơ hội chuyển đổi sang dạng visa Làm việc do người sử dụng lao động bảo lãnh (Accredited Employer Work Visa), theo quy định mới của Cục Di trú New Zealand.