Ngày 8/4, đại diện Bệnh viện Nhi đồng 1 (TPHCM) cho biết, vừa qua các bác sĩ khoa Ngoại Thần kinh đã tiếp nhận và điều trị thành công một trường hợp bệnh nhi mang khối u não nguy hiểm.
Bệnh nhi là bé T.G.K. (7 tháng tuổi, ngụ tỉnh Đồng Tháp). Khai thác bệnh sử, lúc 3 tháng tuổi, người nhà phát hiện đầu bé to dần, hay nôn ói sau bú và mắt nhìn xuống nên đưa đến khám tại Bệnh viện Nhi đồng 1.
Quá trình thăm khám, bác sĩ ghi nhận bé có tình trạng tăng áp lực nội sọ, ảnh siêu âm cho thấy khối u chèn ép vùng não thất III, gây giãn não thất nặng. Tiếp tục chụp cộng hưởng từ sọ não, bệnh nhi được xác định tình trạng não úng thuỷ tắc nghẽn, với khối u nằm ở vị trí có nhiều cấu trúc thần kinh quan trọng xung quanh.
Kết quả giải phẫu bệnh xác định, bệnh nhi mang u đám rối mạch mạc không điển hình độ 2, một khối u hiếm gặp của hệ thần kinh trung ương.
Do lo lắng việc phẫu thuật lấy u gây nguy cơ cao, gia đình và bác sĩ thống nhất tiến hành đặt dẫn lưu não thất màng bụng để điều trị giảm áp lực nội sọ tạm thời, đợi một khoảng thời gian bé đủ lớn sẽ mổ lấy u.
Nhưng 3 tháng sau, khi chụp phim cộng hưởng từ sọ não, bác sĩ phát hiện khối u tăng kích thước hơn gấp 3 lần. Không thể trì hoãn thêm, ê-kíp điều trị tư vấn gia đình việc phẫu thuật mổ lấy u để cấp cứu cháu bé.
Với sự chuẩn bị chu đáo và phối hợp nhịp nhàng giữa các chuyên khoa Ngoại thần kinh, Phẫu thuật gây mê hồi sức cùng Hồi sức ngoại, ca mổ đã diễn ra an toàn trong 6 giờ đồng hồ, giúp khối u của bé được bóc tách thành công. Sau thời gian hồi sức và chăm sóc tích cực sau mổ, bé đã hồi phục và được xuất viện.
TS.BS Trần Minh Huy, khoa Ngoại Thần kinh, chia sẻ, đây là ca mổ rất khó khăn, khi khối u kích thước lớn (6cm), tăng sinh mạch máu nuôi và phát triển trong lòng não thất. Ngoài ra, với thời gian cuộc mổ kéo dài, nguy cơ mất máu nhiều trên bệnh nhi 7 tháng tuổi đòi hỏi năng lực chuyên môn và phối hợp liên chuyên khoa chặt chẽ.
“Chúng tôi đã vượt qua những thách thức để thực hiện thành công ca phẫu thuật, đưa bệnh nhi trở về lại với cuộc sống bình thường”, bác sĩ Huy nói.
Tái tạo khuyết hổng cho bệnh nhân ung thư vùng má
Các bác sĩ Bệnh viện Nguyễn Trãi (TPHCM) vừa phẫu thuật cắt khối u và tái tạo vùng khuyết hổng cho một phụ nữ mang khối u ác tính vùng má.
Theo bệnh sử, trước 2 tháng nhập viện, bà L. (63 tuổi) đã phát hiện khối cứng ở má trái, tăng dần kích thước theo thời gian và gây đau nhẹ khi ăn nhai. Vì nghĩ là viêm loét thông thường, bà không đi khám sớm, mà chỉ đợi khi tổn thương không cải thiện mới vào Bệnh viện Nguyễn Trãi kiểm tra.
Dựa trên kết quả khám lâm sàng và chẩn đoán hình ảnh, bệnh nhân được xác định ung thư niêm mạc má trái giai đoạn 3. Do khối u xâm lấn sâu, nguy cơ ảnh hưởng chức năng ăn nhai và nuốt sau mổ, bệnh nhân được tư vấn kỹ về phương pháp phẫu thuật và nguy cơ biến chứng.
Song song đó, bà cũng được mở thông dạ dày để nuôi ăn trước mổ, nhằm đảm bảo dinh dưỡng và chuẩn bị thể trạng tốt nhất.
Sau khi cắt rộng khối u và nạo hạch cổ trái, ê-kíp điều trị tiếp tục mổ tái tạo khuyết hổng bằng vạt đảo dưới cằm. Đây là kỹ thuật đòi hỏi các bác sĩ phải kiểm soát toàn diện để đáp ứng an toàn, đồng thời đảm bảo tái tạo mô mềm giúp phục hồi chức năng và thẩm mỹ.
Hậu phẫu, bệnh nhân diễn tiến thuận lợi, vết thương lành tốt và xuất viện sau 5 ngày chăm sóc.
Các bác sĩ khuyến cáo, ung thư niêm mạc má thường khởi phát bằng những tổn thương nhỏ, dễ nhầm với loét miệng thông thường. Người dân cần đi khám ngay khi có các dấu hiệu loét miệng kéo dài trên 2 tuần không lành; có khối cứng vùng má, lưỡi hoặc sàn miệng; chảy máu bất thường trong khoang miệng.
“Người trên 40 tuổi, có tiền sử hút thuốc, uống rượu nên khám và tầm soát định kỳ để phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm, giúp nâng cao hiệu quả điều trị và chất lượng sống”, bác sĩ hướng dẫn.
Bác sĩ chuyên khoa 2 Huỳnh Tấn Vũ, Đơn vị Điều trị Ban ngày, Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM - cơ sở 3, cho biết lá mơ lông hay còn gọi là mơ tam thể, từ lâu đã được xem là một trong những vị thuốc dân gian hàng đầu trong việc hỗ trợ điều trị các bệnh lý về đường tiêu hóa, đặc biệt là viêm đại tràng. Hiệu quả của loại lá này không chỉ dừng lại ở kinh nghiệm truyền miệng mà còn được giải thích rõ ràng dưới góc độ y học.
Trong đông y, lá mơ có vị đắng ngọt, tính mát, có khả năng sát khuẩn, tiêu viêm và giải độc rất mạnh mẽ. Trong khi đó, các nghiên cứu hiện đại đã chỉ ra rằng lá mơ chứa các hoạt chất như alkaloid, tanin và tinh dầu, đóng vai trò như một loại kháng sinh tự nhiên giúp ức chế vi khuẩn gây hại, giảm tình trạng co thắt và thúc đẩy quá trình làm lành các vết loét trên niêm mạc đại tràng.
Đây là món ăn bài thuốc kinh điển cho người bị đại tràng co thắt hoặc tiêu chảy. Để tận dụng tối đa dược tính, cách chế biến phổ biến và hiệu quả nhất là kết hợp lá mơ lông với trứng gà. Người bệnh có thể thái nhỏ một nắm lá mơ tươi, trộn đều với trứng gà rồi đem áp chảo trên lá chuối hoặc hấp cách thủy thay vì chiên với nhiều dầu mỡ.
Chuẩn bị: 30 - 50 g lá mơ lông tươi, 1 - 2 quả trứng gà (chỉ nên lấy lòng đỏ nếu bụng quá yếu). Thực hiện: Thái nhỏ lá mơ, trộn đều với trứng. Dùng lá chuối lót đáy chảo, đổ hỗn hợp lên và áp chảo (không dùng dầu mỡ hoặc dùng rất ít).
Tác dụng: Giảm đau bụng, kiện tỳ.
Bác sĩ Vũ nhấn mạnh việc hạn chế chất béo trong quá trình chế biến rất quan trọng vì nó giúp hệ tiêu hóa không bị quá tải, đồng thời giữ nguyên được các tinh chất quý giá. Sự kết hợp này không chỉ giúp giảm nhanh các triệu chứng đau bụng quặn, đầy hơi, đi ngoài ra máu mà còn cung cấp nguồn dinh dưỡng lành tính cho cơ thể đang suy nhược do bệnh tật.
Lưu ý khi sử dụng lá mơ lông
Tuy nhiên, để việc điều trị đạt kết quả bền vững, người dùng cần đặc biệt lưu ý đến vấn đề vệ sinh vì lớp lông mịn trên mặt lá rất dễ bám bụi bẩn và ký sinh trùng. Dù lá mơ lông là một trợ thủ đắc lực, người bệnh vẫn cần duy trì một lối sống khoa học, tuyệt đối tránh xa rượu bia, đồ cay nóng.
Bác sĩ cũng khuyến cáo người dân nên tham khảo ý kiến chuyên môn trong những trường hợp viêm đại tràng mạn tính hoặc có dấu hiệu chuyển biến nặng để có sự can thiệp y tế kịp thời. Một chế độ ăn uống lành mạnh kết hợp với bài thuốc từ lá mơ sẽ tạo ra "lá chắn" vững chắc giúp phục hồi chức năng đại tràng một cách tự nhiên và an toàn.
Một nghiên cứu công bố trên tạp chí Environmental Science and Technology của Viện Đại học California, Davis (UC Davis, UCD, hoặc Davis) lại đưa ra cảnh báo đáng lo ngại: hít phải các hợp chất khử trùng có thể gây tổn thương phổi nghiêm trọng hơn nhiều so với đường tiêu hóa.
Trọng tâm của nghiên cứu là nhóm hợp chất amoni bậc bốn, còn gọi là QAC, một thành phần phổ biến trong nhiều sản phẩm khử trùng từ thập niên 1940, như Lysol hay Roccal. Đây là các chất có khả năng tiêu diệt vi khuẩn, vi rút hiệu quả, nên được sử dụng rộng rãi trong gia đình, bệnh viện và công nghiệp.
Dù không dễ bay hơi, QAC thường xuất hiện trong các dạng xịt, khiến chúng có thể phát tán thành các hạt nhỏ trong không khí và dễ dàng đi vào đường hô hấp. Ngoài ra, các hợp chất này còn có mặt trong nhiều sản phẩm khác như nước súc miệng, thuốc xịt mũi, giấy thơm hay nước làm mềm vải, làm tăng nguy cơ phơi nhiễm một cách vô thức.
Kết quả gây bất ngờ: Hít vào độc hơn gấp 100 lần so với nuốt.
Theo nhóm nghiên cứu do Gino Cortopassi dẫn đầu, thí nghiệm trên chuột cho thấy khi hít phải QAC, mức độ tổn thương phổi và nguy cơ tử vong cao hơn tới 100 lần so với khi các chất này được đưa vào cơ thể qua đường uống.
Đáng chú ý, ở mức phơi nhiễm tương đương với nồng độ QAC từng được ghi nhận trong máu người, chuột đã xuất hiện tổn thương phổi rõ rệt.
Điều này làm dấy lên lo ngại rằng con người cũng có thể đối mặt với những rủi ro tương tự khi thường xuyên sử dụng các sản phẩm xịt khử trùng.
Cơ chế chính nằm ở cách cơ thể phản ứng với các chất xâm nhập. Khi nuốt phải, hệ tiêu hóa có thể phần nào xử lý và đào thải các chất độc. Ngược lại, khi hít vào, các hạt hóa chất siêu nhỏ có thể đi sâu vào phổi, tiếp xúc trực tiếp với các tế bào hô hấp mỏng manh và gây tổn thương nhanh chóng.
Phổi không chỉ là cơ quan trao đổi khí mà còn rất nhạy cảm với các tác nhân hóa học. Một khi bị tổn thương, quá trình phục hồi thường chậm và có thể dẫn đến các bệnh mạn tính.
Nghiên cứu đặt ra nghi vấn về mối liên hệ giữa việc tiếp xúc lâu dài với QAC trong không khí và các bệnh như hen suyễn hay bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính. Đây đều là những bệnh lý đang gia tăng trên toàn cầu, đặc biệt ở các đô thị và môi trường kín.
Trước đó, một nghiên cứu năm 2021 cũng phát hiện khoảng 80% người tham gia có thể phát hiện QAC trong máu. Những người có nồng độ cao hơn lại có mức năng lượng tế bào thấp hơn, cho thấy ảnh hưởng tiêu cực đến ty thể,"nhà máy năng lượng" của tế bào.
Điều đáng nói là QAC không dễ hấp thu qua da hay đường tiêu hóa, khiến các nhà khoa học nghi ngờ rằng đường hô hấp chính là con đường xâm nhập chủ yếu.
Phát hiện này không đồng nghĩa với việc cần loại bỏ hoàn toàn các sản phẩm khử trùng, nhưng đặt ra yêu cầu phải sử dụng chúng một cách thận trọng hơn.
Việc lạm dụng xịt khử trùng trong không gian kín, không thông gió có thể vô tình khiến người dùng hít phải lượng hóa chất vượt mức an toàn.
Các chuyên gia khuyến nghị nên hạn chế sử dụng dạng xịt khi không cần thiết, ưu tiên lau chùi bằng dung dịch thay vì phun trực tiếp vào không khí, và đảm bảo không gian được thông thoáng khi vệ sinh.
Trong bối cảnh các bệnh truyền nhiễm vẫn là mối đe dọa, việc duy trì vệ sinh là cần thiết. Tuy nhiên, nghiên cứu từ University of California, Davis nhấn mạnh rằng không phải mọi phương pháp khử khuẩn đều vô hại.
Câu hỏi đặt ra không phải là "có nên khử trùng hay không", mà là "khử trùng như thế nào để an toàn". Việc hiểu rõ cơ chế tác động của hóa chất sẽ giúp người tiêu dùng đưa ra lựa chọn thông minh hơn, tránh những rủi ro tiềm ẩn cho sức khỏe lâu dài.