Mục Lục
ToggleTheo ghi nhận của Tuổi Trẻ Online tại hiện trường, dấu vết chiếc xe tải để lại trên đường hướng từ núi Tà Zôn xuống là cây cối ngã đổ, đất đá bong tróc thành vệt dài khoảng 300m.
Đây là tuyến đường nhựa rộng khoảng 4m, nối từ đường tỉnh 715 lên trên đỉnh núi Tà Zôn, xã Hàm Đức cũ, nay là xã Hàm Thuận.
Đường có nhiều khúc cong cua nhưng dấu vết của chiếc xe tải là lao theo hướng thẳng, tông gãy cây cối trước khi lọt xuống vực. Xe lao xuống vực sâu, tông vào một văn phòng công ty khoáng sản dưới cùng.
Theo thông tin từ cơ quan chức năng, vụ tai nạn trên xảy ra lúc 8h40 ngày 8-4 tại khu vực triền núi Tà Zôn thuộc thôn 2, xã Hàm Thuận.
Xe tải do tài xế Nguyễn Tấn Trường (27 tuổi, trú Anh Sơn, Nghệ An) điều khiển di chuyển trên triền núi để vận chuyển vật tư thi công công trình thì bất ngờ lao xuống vực.
Hậu quả vụ tai nạn làm 3 người chết, gồm: Nguyễn Kim Trung Thịnh (37 tuổi), Lê Văn Mười (49 tuổi, cùng trú xã Hàm Thuận) và Nguyễn Thanh Nhã (25 tuổi, trú tại Trần Đề, Cần Thơ).
Người bị thương là anh Nguyễn Tấn Trường (27 tuổi, trú Anh Sơn, Nghệ An) đang cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa Bình Thuận.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng đã phong tỏa hiện trường bên trong công ty khoáng sản, phục vụ điều tra vụ tai nạn.
Theo ông Huỳnh Ngọc Thạch – Bí thư Đảng ủy xã Hàm Thuận, chiếc xe tải trên phục vụ cho công trình của một đơn vị viễn thông, không liên quan đến công ty khoáng sản đang khai thác dưới núi. Trong lúc chiếc xe xuống núi thì gặp nạn, tông vào văn phòng công ty khoáng sản.
Ông Thạch cho biết thêm, địa phương đã cử cán bộ đến hiện trường phối hợp làm rõ và hỗ trợ gia đình 2 nạn nhân chết tại địa phương là 5 triệu đồng/trường hợp.
Thời Sự
Dự báo dân số Việt Nam năm 2200 là 46 triệu người, 'siêu già' từ năm 2040

Ngày 9.6, Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy TP.HCM tổ chức tập huấn luật Dân số 2025 và các vấn đề dân số. Tại đây, GS-TS Nguyễn Thiện Nhân, nguyên Bí thư Thành ủy TP.HCM đưa ra những dự báo đáng chú ý về dân số Việt Nam.
GS-TS Nguyễn Thiện Nhân cho biết, theo phương án cơ sở dự báo thô dân số năm 2023, nếu mức sinh thấp kéo dài, dân số Việt Nam có thể còn khoảng 46 triệu người vào năm 2200 và tiếp tục giảm xuống khoảng 22,5 triệu người vào năm 2300.
Theo GS-TS Nguyễn Thiện Nhân, kịch bản này bắt nguồn từ xu hướng mức sinh giảm sâu và duy trì dưới mức thay thế trong thời gian dài. Hiện mức sinh của Việt Nam đã giảm còn 1,91 con/phụ nữ vào năm 2024; dự báo tiếp tục xuống khoảng 1,63 vào năm 2050 và 1,38 vào năm 2100.
GS-TS Nguyễn Thiện Nhân phân tích, dân số Việt Nam được dự báo đạt khoảng 110 triệu người, hoặc 107 triệu người vào năm 2050; đến năm 2100 còn khoảng 91 triệu người hoặc 88 triệu người, rồi tiếp tục thu hẹp trong các thế kỷ sau.
Ông lưu ý, điều đáng lo không nằm ở mức giảm trong ngắn hạn, mà ở xu hướng suy giảm kéo dài qua nhiều thế hệ. Khi mức sinh đã xuống thấp và duy trì lâu dài, việc đưa trở lại mức thay thế sẽ rất khó khăn.
Vì vậy, bài toán dân số cần được nhìn như một vấn đề phát triển dài hạn, không chỉ là chuyện sinh ít hay sinh nhiều trong từng năm.
Đặt trong bối cảnh rộng hơn, GS-TS Nguyễn Thiện Nhân cho biết mức sinh toàn cầu cũng đang giảm mạnh: từ 2,23 con/phụ nữ năm 2020 xuống mức dự báo 2,1 vào năm 2030; 1,83 vào năm 2050 và 1,59 vào năm 2100.
Theo GS-TS Nguyễn Thiện Nhân, hệ quả nặng nề của mức sinh thấp kéo dài không chỉ là dân số giảm, mà còn là lực lượng lao động tương lai bị thu hẹp.
Với kịch bản mức sinh 1,5 con/phụ nữ, sau một thế hệ, tỷ lệ tái tạo lao động chỉ còn khoảng 71%; sau hai thế hệ còn 50,4%; sau ba thế hệ chỉ còn 35,8%.
Nói cách khác, mức sinh thấp kéo dài sẽ làm nguồn lao động co lại rất nhanh. Nếu kéo dài 5 thế hệ, tỷ lệ này chỉ còn khoảng 18%; sau 6 thế hệ còn khoảng 12,8%.
Ông nhấn mạnh, GDP phụ thuộc vào 2 yếu tố cốt lõi: số lao động làm việc và năng suất lao động. Khi lao động giảm, nền kinh tế muốn duy trì tăng trưởng buộc phải nâng năng suất đủ mạnh để bù đắp; nếu không, tăng trưởng sẽ chậm lại, thậm chí trì trệ.
Theo báo cáo, dân số trong tuổi lao động của Việt Nam sẽ đạt đỉnh 66,59 triệu người vào năm 2035; sau đó giảm còn 44,87 triệu người vào năm 2100 (tức giảm gần 33%).
Cùng với đó, Việt Nam sẽ bước vào giai đoạn "xã hội đã già" từ năm 2025 và có thể trở thành "xã hội siêu già" từ năm 2040.
Theo giáo sư Thiện Nhân, đây không chỉ là áp lực an sinh, mà còn là nguy cơ làm chậm tăng trưởng GDP và GDP/người trong giai đoạn dài hạn.
GS-TS Nguyễn Thiện Nhân cho biết, nhiều nước phát triển và nền kinh tế lớn như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc đã hoặc đang đi qua quỹ đạo tương tự: mức sinh giảm sâu, lao động thu hẹp, dân số già hóa nhanh và tăng trưởng chịu sức ép.
Trong đó, Nhật Bản là trường hợp điển hình. Sau hơn 50 năm mức sinh dưới mức thay thế, Nhật Bản rơi vào giai đoạn già hóa sâu, lao động giảm từ năm 1996 và kinh tế trì trệ suốt 30 năm. Theo báo cáo, dân số Nhật Bản đến năm 2100 được dự báo chỉ còn khoảng 50 - 60 triệu người, và đến năm 2350 có thể chỉ còn khoảng 1 triệu người.
Tương tự, Hàn Quốc cũng là quốc gia có mức sinh thấp. Với mức sinh khoảng 0,75 con/phụ nữ, dân số Hàn Quốc được dự báo giảm gần 60% vào năm 2100. Tỷ lệ tái tạo lao động chỉ còn khoảng 35,7% - tức 10 lao động của thế hệ trước chỉ được thay bằng khoảng 3,6 lao động của thế hệ sau.
Theo giáo sư, kinh nghiệm quốc tế cho thấy việc kéo mức sinh trở lại là cực kỳ khó nếu không có chính sách sớm, đủ mạnh và triển khai trước khi lực lượng lao động bắt đầu suy giảm.
Giải pháp không thể chỉ dừng ở tuyên truyền, mà phải là một gói chính sách đồng bộ nhằm giảm gánh nặng sinh và nuôi con cho người trẻ.
Trong đó, cốt lõi nhất là bảo đảm người lao động có mức lương đủ sống để một gia đình 4 người có thể nuôi dạy 2 con đến tuổi trưởng thành.
Cùng với đó, cần tập trung vào các vấn đề then chốt như: thu nhập, nhà ở, giáo dục mầm non, điều kiện làm việc, thời gian chăm sóc con cái và chăm sóc sức khỏe sinh sản.
Theo ông, chính sách dân số không chỉ là chuyện của ngành y tế, mà liên quan trực tiếp đến kinh tế, lao động và an sinh xã hội. Nếu không có giải pháp kịp thời và mang tính đột phá, Việt Nam hoàn toàn có thể đi theo quỹ đạo mà nhiều quốc gia phát triển đã trải qua: dân số giảm, lao động thiếu hụt, già hóa tăng nhanh và áp lực an sinh ngày càng lớn.

Theo Thủ tướng Lê Minh Hưng, trong bối cảnh thế giới khó khăn và nhiều biến động, quý 1 năm nay, kinh tế vĩ mô cơ bản được ổn định, tăng trưởng GDP ước đạt 7,83%; có 4 địa phương tăng trưởng trên 10%; chỉ số giá tiêu dùng CPI bình quân tăng 3,51%. Thu ngân sách nhà nước 3 tháng ước đạt 829.000 tỉ đồng, tăng 11,4%; thu hút vốn FDI tăng mạnh; tổng kim ngạch xuất nhập khẩu ước đạt gần 249,5 tỉ USD, tăng 23%.
Dù vậy, Thủ tướng đánh giá "kinh tế vĩ mô chịu nhiều tác động bất lợi từ bên ngoài, mục tiêu tăng trưởng 2 con số là thách thức rất lớn". Hoạt động sản xuất, kinh doanh một số lĩnh vực gặp nhiều khó khăn. Các động lực tăng trưởng truyền thống phát huy hiệu quả dưới mức tiềm năng, sức mua trong nước thấp, xuất khẩu còn phụ thuộc nhiều vào khu vực FDI. Thị trường bất động sản phục hồi chậm, tiềm ẩn rủi ro. Một số thủ tục hành chính còn rườm rà, dịch vụ công trực tuyến chưa thực sự thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp…
Nhấn mạnh mục tiêu "tăng trưởng cao, bền vững thực chất" theo chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Thủ tướng cho biết đây là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, xuyên suốt. Theo đó, thúc đẩy tăng trưởng gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển. Kiên quyết không để xảy ra mất ổn định vĩ mô, khủng hoảng kinh tế trong mọi tình huống. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính ngân sách nhà nước, có giải pháp dự phòng để chủ động ứng phó biến động.
Bên cạnh đó, tập trung bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia cả trước mắt và lâu dài, nhất là bảo đảm nguồn cung dầu thô, khí đốt. Triệt để tiết kiệm điện, năng lượng, đảm bảo không thiếu điện trong bất cứ tình huống nào. Bảo đảm ổn định và lành mạnh hóa các thị trường trọng yếu, nhất là thị trường bất động sản, trái phiếu doanh nghiệp, tiền tệ. Thủ tướng cho biết đã yêu cầu hệ thống ngân hàng ổn định mặt bằng lãi suất, cả lãi suất huy động và cho vay.
Đặc biệt, Thủ tướng nhấn mạnh giải pháp huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển. Chính phủ coi đây là giải pháp đặc biệt quan trọng để đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số. Thủ tướng cũng thông tin nhiều giải pháp như tập trung hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, quyết liệt cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; chuyển mạnh từ tư duy "quản lý" sang "kiến tạo phát triển". Hoàn thành rà soát, phê duyệt điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất trong quý 2/2026; sửa đổi luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn trong năm 2026.
Nhấn mạnh yêu cầu hoàn thành cắt giảm 50% thời gian giải quyết thủ tục hành chính, Thủ tướng cũng yêu cầu Bộ Tư pháp báo cáo và trong tháng 4 sẽ cắt giảm triệt để các thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh không cần thiết. Về hạ tầng, đẩy mạnh các tuyến đường sắt đô thị Hà Nội, TP.HCM, tuyến đường sắt kết nối với Trung Quốc, một số tuyến trên đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam. Bảo đảm tiến độ xây dựng sân bay Gia Bình, mở rộng sân bay Phú Quốc, Chu Lai, Cà Mau. Xử lý cơ bản tình trạng ô nhiễm, không khí, ngập úng tại một số TP lớn như Hà Nội, TP.HCM. Phấn đấu hoàn thành trên 100.000 căn nhà ở xã hội trong năm 2026…
Góp ý thảo luận báo cáo KT-XH tại tổ, đại biểu (ĐB) Đỗ Đức Hồng Hà, Phó chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội (đoàn Hà Nội), đề nghị Chính phủ cần có giải trình làm rõ và có giải pháp căn cơ đối với một số vấn đề cốt lõi. Đầu tiên là nghịch lý giữa tỷ lệ giải ngân đầu tư công cao nhưng lãng phí, chậm trễ trong triển khai và xử lý tài sản công. Ông dẫn số liệu báo cáo cho thấy năm 2025 ghi nhận mức giải ngân đầu tư công kỷ lục, đạt 96,7% kế hoạch, nhiều địa phương có tỷ lệ giải ngân vượt mức rất cao. Tuy nhiên, ở phần hạn chế, Chính phủ lại thừa nhận vẫn có những dự án chậm triển khai, kéo dài thủ tục, dẫn đến đội vốn và nguy cơ thất thoát.
"Có hay không tình trạng "giải ngân trên giấy" hoặc giải ngân nhanh nhưng chất lượng công trình không đảm bảo, gây lãng phí nguồn lực dài hạn?", ông Hà nêu vấn đề và đề nghị cần công khai danh sách các bộ, ngành, địa phương chậm trễ trong sắp xếp, xử lý tài sản công dôi dư. Ông đề nghị thiết lập cơ chế hậu kiểm chặt chẽ đối với hơn 5.200 dự án đã được tháo gỡ để bảo đảm phát huy hiệu quả kinh tế thực chất.
Nêu vấn đề kỷ cương công vụ, theo ĐB đoàn Hà Nội, dù bộ máy đã được tinh gọn, giúp tiết kiệm đáng kể chi thường xuyên nhưng vẫn còn tình trạng cán bộ né tránh, đùn đẩy trách nhiệm. "Lãng phí thời gian và cơ hội do cán bộ đình trệ công việc là loại lãng phí nguy hiểm nhất trong các loại lãng phí", ông nhấn mạnh và đề nghị cần có giải pháp đột phá trong năm 2026 để lượng hóa hành vi né tránh trách nhiệm thành hành vi gây lãng phí, có thể xem xét xử lý bằng chế tài mạnh, thậm chí truy cứu trách nhiệm hình sự.
Tương tự, ĐB Nguyễn Văn Thân (đoàn TP.HCM) cảnh báo về sự lãng phí từ khoảng 3.000 dự án đang ách tắc (tổng vốn hơn 2 triệu tỉ đồng) và đề nghị phải tháo gỡ ngay những gì không vướng pháp lý nghiêm trọng. Cạnh đó, ông Thân cho rằng để mục tiêu GDP năm 2026 và các năm tiếp theo tăng trên 10%, đòi hỏi những lộ trình KPI và quyết tâm chính trị rất cụ thể. Dưới góc độ doanh nghiệp nhỏ và vừa và hộ kinh doanh, ông đề xuất dành riêng 30% gói thầu cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa làm trực tiếp với Nhà nước thay vì phải làm thầu phụ cho các tập đoàn lớn. Về thuế, áp dụng "thuế ấn định" (nộp môn bài) cho hộ kinh doanh có doanh thu từ 500 triệu đến 5 tỉ đồng/năm. Ông khẳng định giải pháp này vừa giảm phiền hà thủ tục, vừa có thể tạo ra nguồn thu minh bạch lên tới 50.000 - 60.000 tỉ đồng mỗi năm.
ĐB Nguyễn Ngọc Sơn (đoàn Hải Phòng) nhận định các mục tiêu KT-XH đặt ra là rất cao, trong khi thời gian còn lại rất ngắn. Chưa kể, yêu cầu tăng trưởng 2 con số gắn với bền vững, tăng trưởng xanh và nâng cao đời sống của người dân là mục tiêu kép, sẽ rất khó khăn. Song ông cũng đánh giá có những thuận lợi nhất định, khi T.Ư và Bộ Chính trị đã ban hành hàng loạt nghị quyết nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế.
Quan tâm về các giải pháp đảm bảo năng lượng, ĐB đoàn Hải Phòng đề xuất cần xem đảm bảo điện cho sản xuất là ưu tiên số một; tăng trưởng 2 con số mà thiếu điện cục bộ như mùa mưa vừa qua thì sẽ gây ảnh hưởng dây chuyền đến mọi lĩnh vực, từ công nghiệp, logistics cho đến công nghệ… Theo đó, cần chuyển tư duy từ "ngành điện tự cân đối" sang "an ninh năng lượng là hạ tầng của tăng trưởng"; đẩy mạnh các nguồn điện chạy nền và nguồn linh hoạt (như LNG hoặc pin lưu trữ quy mô lớn), thay vì chỉ dựa vào điện mặt trời và điện gió.
Cùng mối quan tâm, ĐB Phạm Thúy Chinh (đoàn Hải Phòng) đề nghị Chính phủ quan tâm hơn nữa đối với lĩnh vực dự trữ quốc gia. Theo bà Chinh, dự trữ quốc gia hiện đều chưa đạt cả về nguồn lực và tổng mức dự trữ. Đây là vấn đề cần đặt ra, nhất là với dự trữ xăng dầu. VN chỉ đang dự trữ các sản phẩm xăng dầu mà chưa dự trữ dầu thô, khi xử lý các tình huống cấp bách sẽ rất khó khăn. Nữ ĐB cho hay khi xây dựng luật Dự trữ, bà có đi khảo sát tại các địa phương liên quan và thấy còn rất nhiều vấn đề, các kho và công nghệ bảo quản đã lạc hậu, hầu hết được đầu tư từ những năm 60, 70 của thế kỷ trước. Bà đề nghị cần quan tâm đầu tư, hiện đại hóa công nghệ bảo quản cũng như xây dựng hệ thống kho bãi, trong đó có xăng dầu.

Sáng 10/4, ông Mai Văn Khiêm, Giám đốc Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia cho biết, áp thấp nhiệt đới trên vùng biển Tây Bắc Thái Bình Dương đã mạnh lên thành bão, có tên quốc tế là Sinlaku.
Đây là cơn bão thứ 4 hình thành trên khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương từ đầu năm 2026 đến nay.
Theo Cơ quan Khí tượng Nhật Bản (JMA), vào lúc 9h cùng ngày, tâm bão Sinlaku đang ở cách Philippines gần 3.000km về phía Đông.
Sức gió mạnh nhất vùng gần tâm bão đạt cấp 9, giật cấp 12. Dự báo trong 2 ngày tới, bão gần như ít di chuyển nhưng tiếp tục mạnh lên nhanh.
Đến sáng 12/4, bão có khả năng đạt cấp 13. Sau đó, bão chủ yếu di chuyển theo hướng Tây Tây Bắc rồi Tây Bắc với tốc độ khoảng 15km/h, cường độ có thể tăng lên cấp 15.
Cơ quan khí tượng nhận định, do chịu tác động của lưỡi áp cao cận nhiệt đới, bão Sinlaku nhiều khả năng di chuyển lên phía Bắc, sau đó chuyển hướng Tây Tây Bắc, tiến về khu vực phía nam Nhật Bản.
Hiện các yếu tố khí quyển và mô hình dự báo đều cho thấy khả năng bão đi vào Biển Đông là rất thấp.
Đây là dạng quỹ đạo điển hình của các cơn bão đầu mùa trên khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương, thường di chuyển theo đường cong dạng parabol.
Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia dự báo năm 2026, số lượng bão và áp thấp nhiệt đới trên Biển Đông có xu hướng thấp hơn trung bình nhiều năm.
Theo thống kê, trung bình mỗi năm Biển Đông có khoảng 12,7 cơn bão và áp thấp nhiệt đới, trong đó khoảng 5,1 cơn ảnh hưởng trực tiếp đến đất liền nước ta.
Tuy vậy, cơ quan khí tượng cảnh báo cần đặc biệt lưu ý nguy cơ xuất hiện các cơn bão mạnh, thậm chí rất mạnh, có thể tăng cường nhanh với quỹ đạo và thời điểm hoạt động phức tạp, khó dự báo.
Tin Gốc: Dân Trí

