Vào những năm 50, 60 của thế kỷ XX, việc ông bà nội hoặc ngoại có một mảnh vườn cách trung tâm đô thị khoảng vài km là điều không quá khó. Các cụ vừa làm nông nghiệp, vừa chạy chợ để mưu sinh. Dù khó nghèo nhưng 5-6 đứa con lần lượt ra đời rồi lớn lên theo thời gian. Khi các cậu, các dì lập gia đình, ông ngoại tôi cho mỗi người một mảnh đất khoảng 200 m2 trong khuôn viên khu vườn rộng khoảng 1.500 m2 để làm nhà ở. Thời đất nước còn chiến tranh thì làm nhà tranh vách đất, sau năm 1975 cuộc sống ổn định dần rồi khá lên thì được thay thế bằng nhà xây gạch kiên cố.
Theo suy nghĩ lúc ấy, ông tôi chừa một cái sân to ở giữa làm nơi sinh hoạt chung. Nhà của các cậu, dì đều quay mặt vào hướng sân to đó, mỗi nhà đều có cái sân riêng, lưng nhà đều quay ra đường, tất cả ra vào chung một cái cổng. Theo ông bà, ở như vậy để cả gia đình luôn đoàn tụ, sum vầy; anh em, con cháu có điều kiện đỡ đần nhau lúc khó khăn, nhất là vào những năm khi đất nước vừa thống nhất, những năm 80, 90 của thế kỷ XX kinh tế còn rất khó khăn. Nhiều người góp ý nên cho các con ra ở riêng hoặc ở trong cùng một khu vườn nhưng mỗi nhà làm trên một lô đất, có cổng đi riêng hướng ra phía đường nhưng ông tôi không nghe. Cả gia đình ở quây quần trong khu vườn như vậy để ông yên tâm.
Lúc ông bà còn sống, nhìn chung vẫn giữ được ổn định vì có ông bà ở giữa làm trung gian hòa giải các xích mích nảy sinh từ tiếng ồn, con gà, con chó… sang nhà nhau. Hơn nữa khi ông bà còn sống thì còn tiếng nói, không ai dám qua mặt. Mọi việc chỉ phát sinh thành vấn đề lớn hơn khi ông bà tôi không còn nữa. Những việc từ trước kia tưởng đã được giải quyết xong nhưng thực ra vẫn âm ỉ cháy, cộng với những việc phát sinh hiện tại nên bùng lên thành ngọn lửa lớn. Từ việc góp ý cho nhau đến mặt nặng mày nhẹ, rồi nhắc lại chuyện cũ, to tiếng, thậm chí chửi bới nhau, khích bác, gây gổ, có lúc còn xúc phạm nhau. Việc ra vào chung một cái cổng, người thích khóa cho an toàn, người muốn mở thường xuyên để tiện ra và; rồi đời sống khấm khá hơn con cháu có xe máy, ôtô thỉnh thoảng về đỗ xe cũng gây cự cãi, to tiếng…
Vậy là từ ý tưởng để cho gia đình đoàn kết, con cháu tối lửa tắt đèn có nhau thành ra ngày càng xa nhau hơn. Có người góp ý nên đập hết nhà, quy hoạch lại, chia ra mỗi người một lô đất làm nhà quay ra đường, có cổng ngõ lối đi riêng để gia đình êm ấm hơn. Nhưng đâu phải dễ vì hiện tại ở đó chỉ những người là bố mẹ, cậu, dì, tuổi đời cũng đã U70, U80 không có điều kiện kinh tế. Hơn nữa trước đó nhà nước đã cấp giấy quyền sử dụng đất (sổ đỏ) cho mỗi nhà theo hiện trạng, bây giờ muốn quy hoạch, tách thửa lại cũng phải liên quan nhiều thủ tục pháp lý. Con cháu đều đã có nơi ở riêng nên không thể đầu tư hay can thiệp vào việc của các cụ được.
Thế là đành để nguyên trạng, anh em họ hàng gần với nhau mà phần ai nấy sống, cũng chẳng buồn chào hay hỏi thăm lúc gặp nhau. Gia đình có sự kiện giỗ chạp buộc phải ngồi chung mâm nhưng ánh nhìn mỗi người một hướng. Đa số con cháu đi ra làm ăn có hiểu biết hơn nhưng cũng không tránh khỏi sứt mẻ tình cảm do “tình trạng chiến tranh” của các cụ. Con cháu dù có hiểu biết nhưng đôi lúc bức xúc quá cũng có nặng lời với bề trên nên tình cảm càng phai nhạt, thậm chí ngại gặp mặt, không tham gia các sự kiện của họ hàng. Tôi cũng thuộc hàng con cháu trong đại gia đình, chỉ biết góp ý, giải hòa khi mọi người có va chạm.
Xin mượn trang viết để tâm sự cho nhẹ lòng chứ tôi không đủ sức để giải quyết những việc do lịch sử để lại. Hi vọng cũng góp được chút kinh nghiệm trong việc tổ chức gia đình cho con cháu nếu có khả năng. Cảm ơn quý độc giả đã đọc tâm sự của tôi.
Tôi 42 tuổi, lấy chồng 16 năm, có hai con trai, con lớn học lớp 10, con nhỏ đã vào cấp hai. Từng ấy năm sống cùng nhau, tôi vẫn luôn nghĩ gia đình mình đủ đầy và yên ổn, dù không quá giàu có nhưng vợ chồng biết cố gắng, con cái ngoan ngoãn. Anh đi làm về đúng giờ, ít khi nhậu nhẹt, cũng không phải kiểu đàn ông quá lãng mạn. Mỗi tháng anh đưa tôi tiền sinh hoạt, còn tôi lo việc nhà, đưa đón con đi học. Cuộc sống cứ đều đều trôi qua như vậy cho đến khoảng ba năm trở lại đây, tôi bắt đầu cảm nhận được sự thay đổi.
Anh hay cầm điện thoại hơn, có khi đang ăn cơm cũng nhắn tin, thấy tôi nhìn thì vội úp màn hình xuống. Buổi tối anh nói bận việc công ty, mang laptop vào phòng riêng làm đến khuya. Có hôm tôi tỉnh giấc lúc một hai giờ sáng vẫn thấy anh cười một mình trước màn hình điện thoại. Linh cảm của một người vợ khiến tôi bất an. Tôi hỏi nhưng anh gạt đi, nói tôi suy nghĩ linh tinh. Một hôm, khi anh đi tắm, điện thoại để quên ngoài bàn, tôi mở ra xem. Những tin nhắn hiện lên khiến tay tôi run lên. Anh và một người phụ nữ, là đồng nghiệp, nhắn cho nhau những lời mà trước giờ anh chưa từng nói với tôi: "Nhớ em", "Ước gì được ở bên em mỗi ngày"... Tôi như chết lặng.
Tôi không làm ầm ngay lúc đó. Đợi đến tối, khi hai con đã ngủ, tôi mới đưa những tin nhắn đó cho anh xem. Anh im lặng rất lâu rồi thừa nhận là "cảm xúc nhất thời", anh vẫn thương vợ con và hứa sẽ chấm dứt. Anh còn thề thốt đủ điều, xin tôi cho cơ hội vì các con còn nhỏ. Tôi đã tin, cố gắng bỏ qua, tự nhủ rằng sau từng ấy năm, ai rồi cũng có lúc sai lầm. Thế nhưng nỗi đau chưa dừng lại ở đó. Vài tháng sau, tôi phát hiện anh vẫn liên lạc với người đó. Lần này tinh vi hơn, anh dùng một ứng dụng nhắn tin khác, đặt mật khẩu riêng. Số điện thoại của cô ta, anh không lưu tên, chỉ để trống và kéo xuống tận cuối danh bạ. Điều khiến tôi ám ảnh là anh lưu số đó tới ba lần.
Anh phản bội tôi hết lần này đến lần khác. Mỗi ngày sống chung nhà, nhìn anh vẫn ăn cơm cùng vợ con, hỏi han con học hành, tôi lại thấy nghẹn trong lòng. Không biết những lúc đó, trong đầu anh đang nghĩ đến ai. Có những đêm tôi nằm cạnh anh mà nước mắt chảy ra, không dám khóc thành tiếng vì sợ con nghe thấy. Tôi từng nghĩ đến việc ly hôn rồi chùn bước khi nhìn hai đứa con đang tuổi lớn. Tôi từng muốn làm lớn chuyện, tìm đến người phụ nữ kia, rồi lại sợ mọi thứ càng rối hơn. Điều khiến tôi đau nhất không phải chỉ là việc anh ngoại tình mà là anh đã nói dối, hứa rồi lại phản bội chính lời hứa đó.
Giờ đây, tôi thực sự mệt mỏi, không biết nên tiếp tục chịu đựng, chờ anh thay đổi, hay nên buông tay để giải thoát cho chính mình. Tôi chỉ biết rằng, niềm tin đã vỡ, dù có cố gắng thế nào cũng khó có thể trở lại như trước. Mong được các bạn chia sẻ.
Tôi 26 tuổi, cái tuổi mà nhiều người nói là "đẹp nhất để yêu và lập gia đình". Thật lòng, tôi lại không hề có cảm giác muốn yêu ai, cũng chưa từng rung động đủ nhiều để nghĩ đến chuyện gắn bó lâu dài. Thậm chí, càng nghe mọi người nói về hôn nhân, tôi càng thấy sợ. Gần đây, tôi liên tục được mai mối, hết người này đến người kia, ai cũng nói "thử tìm hiểu xem sao", "lấy chồng sớm cho ổn định". Mỗi lần như vậy, tôi chỉ thấy áp lực. Tôi không thích cảm giác phải gặp gỡ một người xa lạ chỉ vì hai bên gia đình thấy "hợp".
Tôi muốn từ chối nhưng sợ làm mất lòng người giới thiệu, sợ họ nghĩ mình chảnh chọe hay khó tính. Gia đình tôi càng sốt ruột hơn. Bố mẹ thường xuyên nhắc khéo, họ hàng mỗi lần gặp là lại hỏi "bao giờ lấy chồng". Có người còn so sánh tôi với những bạn cùng tuổi đã yên bề gia thất, con cái đề huề. Những lúc đó, tôi chỉ biết cười trừ nhưng trong lòng nặng nề vô cùng. Tôi thấy xấu hổ, như thể mình đang "chậm hơn" người khác một bước. Điều khiến tôi lo lắng nhất không phải là ánh nhìn của mọi người mà chính là nỗi sợ bên trong mình.
Tôi sợ phải bước vào một cuộc sống mới mà mình chưa sẵn sàng. Tôi sợ phải làm vợ, làm dâu, gánh trên vai những trách nhiệm mà bản thân còn chưa hiểu rõ. Tôi sợ nếu kết hôn chỉ vì áp lực, rồi sau này lại hối hận. Nhiều lúc tôi tự hỏi, có phải mình đang ích kỷ không, hay chỉ là chưa gặp đúng người? Càng nghĩ, tôi càng thấy mình chỉ trung thực với cảm xúc của chính mình. Tôi thật sự rất mệt mỏi. Một bên là mong muốn được sống theo cách mình muốn, một bên là áp lực từ gia đình và xã hội. Tôi không biết nên tiếp tục cố gắng làm hài lòng mọi người, hay mạnh dạn nói ra suy nghĩ thật của mình. Chỉ biết rằng, nỗi sợ lấy chồng trong tôi lúc này là có thật, chưa tìm được cách để vượt qua nó. Tôi phải làm sao đây?
Sau 4 lần sinh mổ, điều khiến tôi mỏi mệt nhất không phải là những vết đau mà là sự lặng lẽ trong chính cuộc hôn nhân của mình. Người ta thường nói phụ nữ có chồng, có con là đã có một mái ấm; tôi từng tin như vậy. Càng đi qua những năm tháng làm vợ, làm mẹ, tôi càng nhận ra có những người vẫn sống trong một gia đình đầy đủ nhưng lại phải tự đi qua gần như tất cả.
Tôi là mẹ của 4 đứa con, một trai, ba gái; cả 4 lần sinh đều là sinh mổ. Mỗi lần nằm trên bàn mổ là một lần đối diện với nỗi lo và sự bất định. Thế nhưng tôi chưa từng nghĩ nhiều cho bản thân, chỉ mong con được bình an. Chỉ đến khi bước ra khỏi phòng mổ, khi thuốc tê dần hết tác dụng, những cơn đau âm ỉ kéo dài, tôi mới cảm nhận rõ ràng cơ thể mình yếu đến mức nào. Việc ngồi dậy, bế con, hay chỉ là xoay người, với tôi cũng trở nên khó khăn.
Điều khiến tôi nhớ nhiều nhất không phải là những cơn đau mà là cảm giác phải tự mình vượt qua chúng. Có những đêm, tôi ôm con trong lòng, vừa dỗ dành, vừa chịu đựng cơn đau chưa kịp lành. Căn phòng yên tĩnh đến mức tôi có thể nghe rõ từng nhịp thở của con. Cũng trong những khoảnh khắc ấy, nước mắt tôi cứ thế lặng lẽ chảy ra, không ồn ào, không thành tiếng. Chỉ là một cảm giác tủi hờn rất sâu, rất khó gọi tên với cuộc sống hôn nhân mà mình đang có.
Tôi không khóc vì một điều cụ thể, chỉ là khi nằm bên con nhỏ, nhìn con ngủ, tôi thấy mình vừa mạnh mẽ, vừa cô đơn đến lạ. Thời gian trôi qua, cuộc sống của tôi dần trở thành một vòng quay không có điểm dừng. Sáng sớm đến tối muộn, tôi lo cho 4 đứa trẻ từ bữa ăn, giấc ngủ đến việc học hành. Những việc tưởng chừng nhỏ bé nhưng nối tiếp nhau không ngừng nghỉ. Có những ngày tôi không nhớ nổi mình đã ngồi xuống nghỉ được bao lâu. Tôi quen với việc phải gồng lên để làm mọi thứ, nhưng quen không có nghĩa là không mệt.
Chồng tôi dành nhiều thời gian cho công việc. Tôi hiểu và chưa từng phủ nhận những áp lực anh phải gánh. Cùng với thời gian, khoảng cách giữa chúng tôi dường như lớn dần. Những cuộc trò chuyện trở nên ít ỏi; khi có thì lại không trọn vẹn. Tôi nhớ có lần, sau một ngày dài mệt mỏi, chỉ nói rất nhẹ rằng mình cần anh chia sẻ nhiều hơn, cần một sự đồng hành rõ ràng hơn trong gia đình. Điều tôi nhận lại không phải là sự lắng nghe như mình mong đợi. Cuộc nói chuyện kết thúc nhanh chóng, để lại một khoảng lặng kéo dài mà tôi không biết phải bắt đầu lại từ đâu.
Những lúc căng thẳng, anh đôi khi không giữ được sự bình tĩnh. Sự nóng giận ấy, dù chỉ thoáng qua, cũng đủ làm không khí trong nhà trở nên nặng nề. Có những lúc, không chỉ tôi mà cả con trai cũng cảm nhận được điều đó. Là một người mẹ, tôi không khỏi chạnh lòng khi thấy con phải lớn lên trong những khoảnh khắc như vậy. Có lẽ, điều khiến tôi mỏi mệt không phải là việc phải làm quá nhiều mà là cảm giác mình không thực sự được thấu hiểu, không có một điểm tựa tinh thần để dựa vào khi yếu lòng.
Có những đêm, khi các con đã ngủ, tôi mới có một khoảng lặng cho riêng mình. Không còn tiếng nói cười, không còn công việc dang dở, tôi ngồi lại, nhìn một ngày đã qua và nhận ra mình đã cố gắng rất nhiều. Thứ tôi thiếu lại là một người có thể cùng mình chia sẻ những điều rất bình thường ấy. Tôi viết những dòng này không phải để kể khổ, bởi với một người mẹ, việc hy sinh cho con là điều tự nhiên. Nhưng tôi nghĩ, điều nhiều người phụ nữ như tôi mong mỏi không phải là được làm ít đi mà là được đi cùng, được có một người thật sự ở bên, không chỉ trong những lúc khó khăn mà cả trong những ngày rất đỗi bình thường.
Tôi vẫn cố gắng mỗi ngày vì các con của mình. Tôi cũng bắt đầu học cách lắng nghe chính mình để hiểu rằng, mình cũng cần được quan tâm, sẻ chia, được sống trong một không gian đủ bình yên để trái tim không còn nặng trĩu. Có thể mọi thứ chưa thể thay đổi ngay, nhưng ít nhất tôi không còn muốn giữ tất cả trong im lặng. Với tôi, việc dám nói ra như thế này không phải là yếu đuối mà là một cách để bắt đầu. Tôi bắt đầu nhìn lại, bắt đầu lựa chọn, hy vọng một ngày nào đó mình sẽ không còn phải lặng lẽ đi qua mọi mệt mỏi một mình nữa.