Mục Lục
ToggleKhánh Linh
Tin Gốc: https://vnexpress.net/nuoc-nao-co-nhieu-xe-dap-hon-dan-so-5059674.html
Hà Nội công bố chỉ tiêu lớp 10 công lập

Trong đó, 119 trường THPT công lập không chuyên tuyển hơn 78.300 học sinh, trường chất lượng cao Phan Huy Chú - Đống Đa tuyển 400 em, 4 trường chuyên lấy hơn 2.700.
Tổng chỉ tiêu gần như tương đương năm ngoái, nhưng năm nay thủ đô có khoảng 147.000 học sinh tốt nghiệp THCS, tăng chừng 20.000 em. Vì thế, chỉ khoảng 55% có suất học lớp 10 công lập, thấp hơn gần 10%.
Con số này dự kiến tăng nhẹ khi một số trường dự kiến hoạt động từ năm tới chưa được giao chỉ tiêu, gồm THPT Hoàng Quán Chi (phường Yên Hòa), Vĩnh Hưng (phường Vĩnh Hưng), Việt Hùng (xã Đông Anh).
Chỉ tiêu lớp 10 của 119 trường THPT ở Hà Nội năm 2026 như sau:
TT
Trường
Chỉ tiêu 2026
Chỉ tiêu 2025
Tăng/giảm
1
THPT Phan Đình Phùng
720
720
0
2
THPT Phạm Hồng Thái
585
720
-135
3
THPT Nguyễn Trãi - Ba Đình
688
765
-77
4
THPT Tây Hồ
765
765
0
5
THPT Trần Phú
765
765
0
6
THPT Việt Đức
945
945
0
7
THPT Thăng Long
720
675
45
8
THPT Trần Nhân Tông
720
720
0
9
THPT Đoàn Kết - Hai Bà Trưng
675
675
0
10
THPT Đống Đa
675
720
-45
11
THPT Hoàng Cầu
540
-
-
12
THPT Kim Liên
765
765
0
13
THPT Lê Quý Đôn - Đống Đa
675
720
-45
14
THPT Quang Trung - Đống Đa
675
675
0
15
THPT Nhân Chính
585
585
0
16
Trần Hưng Đạo - Thanh Xuân
675
765
-90
17
THPT Khương Đình
675
765
-90
18
THPT Khương Hạ
450
400
50
19
THPT Cầu Giấy
720
720
0
20
THPT Yên Hòa
765
765
0
21
THPT Hoàng Văn Thụ
765
765
0
22
THPT Trương Định
675
675
0
23
THPT Việt Nam - Ba Lan
720
765
-45
24
THPT Đỗ Mười
675
-
-
25
THPT Ngô Thì Nhậm
720
675
45
26
THPT Ngọc Hồi
675
675
0
27
THPT Đông Mỹ
675
765
-90
28
THPT Nguyễn Quốc Trinh
765
720
45
29
THPT Nguyễn Gia Thiều
720
675
45
30
THPT Lý Thường Kiệt
675
675
0
31
THPT Thạch Bàn
765
765
0
32
THPT Phúc Lợi
765
765
0
33
THPT Cao Bá Quát - Gia Lâm
765
765
0
34
THPT Dương Xá
720
720
0
35
THPT Nguyễn Văn Cừ
765
720
45
36
THPT Yên Viên
720
720
0
37
THPT Đa Phúc
765
675
90
38
THPT Kim Anh
675
675
0
39
THPT Minh Phú
585
585
0
40
THPT Sóc Sơn
765
675
90
41
THPT Trung Giã
675
630
45
42
THPT Xuân Giang
630
630
0
43
THPT Bắc Thăng Long
720
675
45
44
THPT Cổ Loa
675
765
-90
45
THPT Đông Anh
675
720
-45
46
THPT Liên Hà
675
675
0
47
THPT Vân Nội
765
720
45
48
THPT Phúc Thịnh
675
-
-
49
THPT Mê Linh
540
630
-90
50
THPT Quang Minh
450
540
-90
51
THPT Tiền Phong
585
495
90
52
THPT Tiến Thịnh
540
495
45
53
THPT Tự Lập
540
540
0
54
THPT Yên Lãng
585
495
90
55
THPT Nguyễn Thị Minh Khai
675
765
-90
56
THPT Xuân Đỉnh
675
765
-90
57
THPT Thượng Cát
540
585
-45
58
THPT Đại Mỗ
720
720
0
59
THPT Trung Văn
585
520
65
60
THPT Xuân Phương
675
765
-90
61
THPT Mỹ Đình
765
765
0
62
THPT Hoài Đức A
630
720
-90
63
THPT Hoài Đức B
720
720
0
64
THPT Vạn Xuân - Hoài Đức
675
675
0
65
THT Hoài Đức C
585
540
45
66
THPT Đan Phượng
675
675
0
67
THPT Hồng Thái
630
585
45
68
THPT Tân Lập
675
630
45
69
THPT Thọ Xuân
540
540
0
70
THPT Ngọc Tảo
765
720
45
71
THPT Phúc Thọ
675
720
-45
72
THPT Vân Cốc
585
585
0
73
THPT Tùng Thiện
765
765
0
74
THPT Xuân Khanh
675
630
45
75
THPT Ba Vì
630
630
0
76
THPT Bất Bạt
450
450
0
77
Phổ thông Dân tộc nội trú
140
140
0
78
THPT Ngô Quyền - Ba Vì
675
675
0
79
THPT Quảng Oai
675
675
0
80
THPT Minh Quang
540
540
0
81
THPT Bắc Lương Sơn
540
495
45
82
Hai Bà Trưng - Thạch Thất
675
675
0
83
Phùng Khắc Khoan - Thạch Thất
675
540
135
84
THPT Thạch Thất
765
675
90
85
THPT Minh Hà
450
450
0
86
THPT Cao Bá Quát - Quốc Oai
585
585
0
87
THPT Minh Khai
675
675
0
88
THPT Quốc Oai
675
675
0
89
THPT Phan Huy Chú - Quốc Oai
720
720
0
90
THPT Lê Quý Đôn - Hà Đông
765
765
0
91
THPT Quang Trung - Hà Đông
765
720
45
92
THPT Trần Hưng Đạo - Hà Đông
720
720
0
93
THPT Lê Lợi
720
-
-
94
THPT Chúc Động
675
765
-90
95
THPT Chương Mỹ A
675
720
-45
96
THPT Chương Mỹ B
720
720
0
97
THPT Xuân Mai
675
765
-90
98
THPT Nguyễn Văn Trỗi
720
720
0
99
THPT Nguyễn Du - Thanh Oai
675
765
-90
100
THPT Thanh Oai A
720
720
0
101
THPT Thanh Oai B
720
720
0
102
THPT Thường Tín
675
675
0
103
THPT Nguyễn Trãi - Thường Tín
540
630
-90
104
THPT Lý Tử Tấn
585
585
0
105
THPT Tô Hiệu - Thường Tín
585
630
-45
106
THPT Vân Tảo
630
585
45
107
THPT Đồng Quan
585
585
0
108
THPT Phú Xuyên A
675
675
0
109
THPT Phú Xuyên B
675
630
45
110
THPT Tân Dân
495
495
0
111
THPT Hợp Thanh
585
495
90
112
THPT Mỹ Đức A
720
675
45
113
THPT Mỹ Đức B
585
585
0
114
THPT Mỹ Đức C
675
585
90
115
THPT Đại Cường
450
450
0
116
THPT Lưu Hoàng
585
495
90
117
THPT Trần Đăng Ninh
585
540
45
118
THPT Ứng Hòa A
585
585
0
119
THPT Ứng Hòa B
585
540
45
Trong 119 trường THPT, hơn 30 trường tăng chỉ tiêu, phổ biến 45-90 học sinh, hơn 20 trường giảm, còn đa số ổn định.
THPT Phùng Khắc Khoan - Thạch Thất tăng 135 học sinh, trong khi THPT Phạm Hồng Thái giảm tương đương. Đây là hai trường có biến động chỉ tiêu nhiều nhất.
Với hệ chuyên, cả 4 trường đều giữ ổn định số lớp và chỉ tiêu như năm ngoái, tổng 2.730. Cụ thể, trường chuyên Hà Nội - Amsterdam tuyển 840 học sinh, chuyên Chu Văn An 665, chuyên Nguyễn Huệ 700 và chuyên Sơn Tây 525.
Chi tiết chỉ tiêu lớp 10 chuyên ở Hà Nội năm 2026
Thí sinh đang trong giai đoạn tập dượt đăng ký thi lớp 10 trực tuyến, trước khi đăng ký chính thức vào 10-17/4. Năm nay, các em có thể nhìn thấy số lượng nguyện vọng 1, 2 và 3 đặt vào từng trường theo thời gian thực, từ đó tính được tỷ lệ chọi.
Kỳ thi diễn ra ngày 30-31/5, thí sinh đăng ký trường chuyên sẽ thi thêm môn chuyên vào ngày 1/6. Dự kiến từ ngày 19 đến 22/6, Sở sẽ công bố điểm thi, điểm chuẩn lớp 10.
Thanh Hằng
Nguồn: https://vnexpress.net/chi-tieu-lop-10-tat-ca-truong-thpt-cong-lap-ha-noi-2026-5058617.html
Học phí ĐH Y dược TP.HCM: Cao nhất 90 triệu đồng, thấp nhất 30 triệu đồng/năm

Trường ĐH Y dược TP.HCM có thông báo chính thức thông tin tuyển sinh năm 2026, bao gồm học phí áp dụng cho sinh viên trúng tuyển khóa 2026.
Theo đó, học phí ngành cao nhất là răng-hàm-mặt với mức thu 90 triệu đồng/năm. Kế đến, ngành y khoa thu 88 triệu đồng/năm.
Tiếp theo đó, ngành dược học thu 63,5 triệu đồng/năm; y học dự phòng và y học cổ truyền cùng mức thu 55 triệu đồng/năm; công nghệ dược phẩm 53,5 triệu đồng/năm; hóa dược 52,5 triệu đồng/năm. Nhiều ngành khác học phí đồng loạt ở mức 48 triệu đồng/năm.
Đáng chú ý, 2 ngành tâm lý học và công tác xã hội học phí chỉ ở mức 30 triệu đồng/năm. Đây cũng là 2 ngành có sử dụng tổ hợp môn D01 (toán-văn-tiếng Anh) để xét tuyển trong năm nay.
Học phí từng ngành cụ thể như bảng sau:
Trước đó, học phí thí sinh trúng tuyển năm 2025 vào Trường ĐH Y dược TP.HCM dao động trong khoảng 30-84,7 triệu đồng/năm tùy ngành. Trong đó, ngành răng-hàm-mặt có mức học phí cao nhất là 84,7 triệu đồng. Tiếp đến, ngành y khoa học phí 82,2 triệu đồng/năm. Ngành dược học dự kiến thu 60,5 triệu đồng/năm.
Các ngành y học cổ truyền, y học dự phòng, hóa dược năm ngoái thu cùng mức 50 triệu đồng/năm. Các ngành có cùng mức thu 46 triệu đồng/năm gồm: Điều dưỡng, điều dưỡng chuyên ngành gây mê hồi sức, hộ sinh, dinh dưỡng, kỹ thuật phục hình răng, kỹ thuật xét nghiệm y học, kỹ thuật hình ảnh y học, kỹ thuật phục hồi chức năng, y tế công cộng.
Như vậy, học phí hầu hết các ngành của trường đều tăng so với năm ngoái. Riêng ngành công tác xã hội, cùng với ngành mới tâm lý học lần đầu được tuyển sinh trong năm nay, có học phí thấp nhất và không điều chỉnh so với năm ngoái ở mức 30 triệu đồng/năm.
Chất lượng giáo dục các địa phương: Môn toán phân hóa rõ rệt giữa các vùng miền

Đối sánh môn toán giai đoạn 2021-2025 cho thấy chất lượng có sự phân hóa rõ giữa các vùng, miền, thậm chí trong nhóm thành phố trực thuộc T.Ư cũng tồn tại khoảng cách đáng kể. Điều này đặt ra yêu cầu phải nhìn nhận sâu hơn, không chỉ ở điểm thi mà ở cấu trúc chất lượng dạy học và các yếu tố hệ thống phía sau.
Trong thời đại công nghiệp 4.0, khi trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn chi phối đời sống, môn toán giữ vai trò nền tảng trong giáo dục phổ thông (GDPT). Không chỉ dừng ở tính toán, toán học rèn luyện cho học sinh tư duy logic, khả năng phân tích và giải quyết vấn đề – những năng lực cốt lõi của tư duy khoa học và tư duy thuật toán.
Toán học là ngôn ngữ của khoa học – công nghệ, hiện diện trong nhiều lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu, kỹ thuật, tài chính hay y học. Vì vậy, chất lượng dạy và học toán ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành nguồn nhân lực công nghệ, đặc biệt là AI.
Nhiều quốc gia đã đổi mới mạnh mẽ dạy và học toán theo hướng phát triển năng lực: giảm ghi nhớ máy móc, tăng cường giải quyết vấn đề thực tiễn, mô hình hóa, tư duy thống kê và ứng dụng công nghệ số. Học sinh được khuyến khích khám phá, thảo luận, trình bày nhiều cách giải, làm dự án thực tiễn, thay vì học công thức, giải đề.
Chương trình GDPT 2018 đã tiếp cận theo hướng này. Tuy nhiên, quá trình triển khai còn phụ thuộc lớn vào năng lực giáo viên, điều kiện dạy học và cách thức kiểm tra, đánh giá. Chính vì vậy, kết quả thi toán còn là "tấm gương" của toàn bộ hệ thống giáo dục.
Trong kỷ nguyên số, toán là nền tảng để làm chủ công nghệ và giữ vai trò then chốt trong các kỳ thi, đặc biệt kỳ thi tốt nghiệp THPT. Tuy nhiên, so sánh toàn quốc chưa phản ánh rõ khác biệt vùng miền, nên cần đối sánh theo nhóm địa phương có điều kiện tương đồng.
Trước ngày 1.7.2025, Việt Nam có 6 thành phố trực thuộc T.Ư. Sau mốc này, có thêm 6 tỉnh được sáp nhập vào 6 thành phố. Vì vậy, khi phân tích kết quả môn toán giai đoạn 2021–2025, cần đặt trong bối cảnh nhóm 12 địa phương, để bảo đảm tính hợp lý thực tiễn phát triển giáo dục.
Điểm trung bình của nhóm được tính bằng trung bình cộng điểm toán của 12 địa phương theo từng năm, trong khi mức trung bình cả nước là kết quả của 63 địa phương. Kết quả cho thấy điểm trung bình của nhóm luôn cao hơn mặt bằng chung cả nước.
Tính bình quân 5 năm, mỗi địa phương được lấy điểm trung bình của 5 năm liên tiếp. Nhóm 12 địa phương đạt mức 6,24 điểm, cao hơn mức 5,93 của cả nước khoảng 0,3 điểm. Dù không lớn, khoảng cách này cho thấy đây là nhóm có chất lượng dạy và học toán khá tốt, phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội và đội ngũ giáo viên ở các đô thị, địa phương phát triển.
Tuy nhiên, chênh lệch trong nhóm vẫn rõ rệt. So với mức trung bình cả nước, có 10 địa phương cao hơn, trong khi Hậu Giang và Sóc Trăng thấp hơn. Nếu so với mức trung bình của nhóm, chỉ 7 địa phương vượt lên, chủ yếu là các đô thị lớn và địa phương có điều kiện kinh tế tốt như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, TP.HCM và các tỉnh công nghiệp. Những nơi này có hệ thống trường học đa dạng, môi trường cạnh tranh và khả năng tiếp cận giáo dục STEM (khoa học-công nghệ-kỹ thuật-toán học) tốt hơn.
Ngược lại, các địa phương như Huế, Cần Thơ, Quảng Nam, Hậu Giang, Sóc Trăng có điểm thấp hơn trung bình nhóm, chủ yếu do còn nhiều khu vực khó khăn, điều kiện dạy và học hạn chế.
Khoảng cách giữa địa phương cao nhất và thấp nhất lên tới hơn 1,2 điểm, phản ánh rõ sự khác biệt về điều kiện phát triển và chất lượng giáo dục. Nhìn chung, các vùng kinh tế phát triển vẫn có lợi thế rõ rệt, trong khi một số khu vực còn nhiều thách thức. Dữ liệu điểm và thứ hạng môn toán của 12 địa phương thể hiện ở bảng sau.
Nếu đặt kết quả môn toán năm 2025 của 6 thành phố trực thuộc T.Ư (mới) trong tương quan xếp hạng với 34 tỉnh, thành phố mới sau sáp nhập, có thể rút ra một số nhận định tổng quan sau.
Trước hết, phần lớn các thành phố trực thuộc trung ương đều nằm trong nhóm dẫn đầu cả nước về môn toán. Hà Nội đạt 5,29 điểm (hạng 2/34), TP.HCM 5,26 điểm (hạng 3/34), và Hải Phòng 5,13 điểm (hạng 4/34). Ba đô thị lớn này đều thuộc top 5, cho thấy lợi thế rõ rệt về dạy và học toán.
Tiếp theo là Huế (4,90 điểm, hạng 7) và Đà Nẵng (4,89 điểm, hạng 8), tiếp tục khẳng định mặt bằng dạy học toán ở các đô thị lớn nhìn chung vẫn ở mức cao so với cả nước.
Trong khi đó, Cần Thơ chỉ đạt 4,32 điểm, xếp hạng 27/34, thấp hơn đáng kể. Kết quả này phản ánh phần nào thực trạng chung của khu vực đồng bằng sông Cửu Long, nơi điểm toán thường thấp hơn nhiều vùng khác.
Nhìn tổng thể, 5/6 thành phố trực thuộc T.Ư nằm trong top 10 toàn quốc về môn toán năm 2025, cho thấy lợi thế của đô thị lớn về điều kiện giáo dục, đội ngũ và môi trường học tập. Tuy nhiên, khoảng cách giữa Cần Thơ và các thành phố còn lại cũng cho thấy chênh lệch vùng miền vẫn tồn tại.
Đáng lưu ý, sau sáp nhập, sự chênh lệch này có thể bị "che lấp" trong số liệu trung bình. Nếu thiếu phân tích chi tiết theo vùng, nguy cơ bỏ sót các "vùng trũng" giáo dục là rất lớn.
Để lý giải sự khác biệt trên, cần nhìn từ 3 cấp độ: lớp học, nhà trường và hệ thống.
Ở cấp lớp học, phương pháp dạy học vẫn là yếu tố quyết định. Nhiều nơi vẫn nặng về luyện tập dạng bài, trong khi yêu cầu mới là phát triển tư duy và năng lực. Khi đề thi thay đổi, những hạn chế này bộc lộ rõ và những học sinh yếu sẽ mất tự tin khi gặp dạng đề thi mới.
Ở cấp nhà trường, sự khác biệt về điều kiện cơ sở vật chất, quy mô lớp học, và văn hóa học tập ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả. Những trường có môi trường học tập tích cực, chú trọng STEM thường có kết quả tốt hơn.
Ở cấp hệ thống, việc phân bổ giáo viên, đầu tư nguồn lực và chính sách hỗ trợ vùng khó khăn đóng vai trò then chốt. Những địa phương thiếu giáo viên toán giỏi thường gặp khó khăn kéo dài, khó cải thiện trong ngắn hạn.




