Gần đây, tôi bước vào mùa cao điểm nhất trong năm – giai đoạn mà công việc gần như chiếm trọn thời gian và tâm trí. Những ngày nối tiếp nhau bằng các cuộc họp, dự án, trao đổi với khách hàng, xử lý vấn đề… Mọi thứ diễn ra dồn dập đến mức tôi không còn khoảng trống cho bất cứ điều gì khác.
Nhưng ngay trước khi guồng quay đó trở nên căng nhất, tôi nhận ra mình đã bắt đầu suy nghĩ khác đi. Không có biến cố nào xảy ra, không có cú sốc nào đủ lớn để buộc tôi phải dừng lại. Chỉ là vài buổi tối tăng ca ở văn phòng, khi công việc tạm xong, tôi ngồi lại lâu hơn bình thường, không vội về, cũng không vội cầm điện thoại lên. Trong những khoảng lặng hiếm hoi đó, tôi thấy trong đầu mình xuất hiện một cảm giác mông lung như thể mình vẫn đang đi, nhưng không còn chắc là đang đi về đâu?
Mọi thứ bên ngoài vẫn ổn, tôi vẫn làm việc, vẫn hoàn thành trách nhiệm, vẫn giữ mọi thứ ở mức chỉnh chu nhất có thể. Nhưng bên trong, có một câu hỏi lặp đi lặp lại nhiều hơn trước: nếu cứ tiếp tục như thế này, vài năm nữa tôi sẽ trở thành ai? Điều tôi băn khoăn không phải là chức danh hay thu nhập, mà là mình sẽ trở thành một con người như thế nào?
Và rồi, khoảng ba tháng trước, tôi đã thẳng thắn chia sẻ với lãnh đạo công ty rằng đây không còn là nghề mà mình muốn gắn bó trong nhiều năm tới nữa. Tôi sẽ nhảy việc. Quyết định ấy không dễ, nhưng cũng không bốc đồng. Nó giống như một sự thừa nhận sau một thời gian dài tôi tự quan sát chính mình.
>> Tôi nghèo vì hai năm nhảy việc 10 lần
Có lẽ, ai rồi cũng sẽ có một giai đoạn như vậy. Khi những điều từng đủ tốt bắt đầu trở nên xa lạ. Khi sự ổn định không còn mang lại cảm giác yên tâm, mà ngược lại, khiến người ta đứng yên lâu hơn mức cần thiết. Và khi ta nhận ra, không phải mọi mệt mỏi đều đến từ khối lượng công việc, có những mệt mỏi đến từ việc mình đang đi lệch nhịp với chính mình.
Tôi không nghĩ mình đã đi sai đường. Những gì tôi làm, những gì tôi học được đều là nền tảng quý giá. Nhờ có quãng đường đó, tôi mới có đủ trải nghiệm để hiểu mình đang cần gì ở hiện tại. Nhưng cũng vì đã đi đủ lâu, tôi nhận ra có những con đường không phải để đi mãi, mà để dẫn mình tới một đoạn rẽ khác.
Với tôi, chuyển hướng lúc này không phải là phủ nhận quá khứ hay bắt đầu lại từ con số không. Đó là việc giữ lại những gì đã tích lũy, rồi đặt chúng vào một không gian khác – nơi tôi có thể thở sâu hơn, học lại cách tò mò, và cảm thấy mình đang lớn lên, thay vì chỉ già đi.
Tôi chưa gọi được tên con đường mới. Có lẽ cần thêm thời gian để tôi thấy rõ hình hài, hướng đi cho mình. Nhưng điều quan trọng là tôi đã bắt đầu biết lắng nghe bản thân mình, một cách nghiêm túc thay vì lao đầu vào công việc hiện tại. Tôi tin ai cũng cần trung thực với cảm giác của mình. Với tôi, chỉ riêng việc dám thừa nhận rằng mình đang đứng trước một đoạn rẽ, đã là một bước tiến rồi.
Tôi năm nay 34 tuổi, có hai cậu con trai. Bé đầu 7 tuổi và thứ hai 3 tuổi. Chồng đi làm ăn xa nên mình tôi nuôi dạy con. Cậu con trai đầu của tôi tuy mới lên 7 nhưng tính tình khá bướng với lì lợm.
Tôi nói gì con cũng cãi, ông bà nói con cũng cãi cho bằng được. Con không bao giờ biết mình sai, thường xuyên đổ lỗi cho người khác. Lỗi của con, con lúc nào cũng tìm lý do để giải thích cho mình.
Tôi đã áp dụng nhiều biện pháp, từ mềm mỏng, tâm sự đến quát mắng, đánh đòn nhưng sau mọi thứ đâu lại vào đấy. Cách đây mấy hôm, soạn sách cho con, tôi thấy dòng chữ: Mẹ rất độc ác, tim tôi như hững lại một nhịp mà cứ thế tôi òa khóc.
Khóc như một đứa trẻ trước mặt con. Lúc này con xin lỗi tôi, con bảo là do mẹ hay nạt con với đánh con nên con mới viết thế. Vậy hóa ra bao lần tôi phạt, con không nghĩ rằng do mình sai mà trong suy nghĩ của con là do tôi độc ác.
Tôi cảm thấy bất lực thực sự, con mới 7 tuổi đã như thế thì mấy năm nữa con bước vào tuổi dậy thì tôi làm sao dạy dỗ được con nên người. Phải chăng vì sống xa chồng, nhà không có đàn ông nên con trai tôi mới lì lợm và bướng bỉnh như thế.
Do tôi nghĩ quá vấn đề lên, hay do con tôi thực sự là một đứa trẻ hư. Tôi cần các bậc làm cha, làm mẹ trên diễn đàn cho tôi một lời khuyên. Thực sự mà nói, làm mẹ của hai cậu con trai thời buổi bây giờ tôi có quá nhiều nỗi lo.
Một người bạn của tôi đã quyết định dọn về quê, gom góp số tiền vài tỷ đồng tích góp trong hơn chục năm làm việc ở thành phố để làm một homestay nhỏ. Lý do rất đơn giản: Không chịu nổi giá nhà và nhịp sống ngột ngạt nơi đô thị.
Lý do khác quan trọng và có vẻ lo xa hơn: Về quê đầu tư để có đồng ra đồng vào, chứ gom hết tiền và đi vay thêm để mua nhà thành phố, sau này về già vẫn phải kiếm gì đó làm thêm để có thu nhập.
Sau mấy chục năm sống ở thành phố, hành lý của anh vẫn gọn gàng đến lạ vì cái gì cho được đã cho, cái gì bán được đã bán, nhà thuê thì trả chủ. Nhưng sâu xa hơn, đó là cảm giác không thuộc về nơi này, dù đã ở hơn chục năm, có nhiều kỷ niệm vui buồn.
Từ câu chuyện đó, tôi cho rằng việc ở thuê, ít nhất trong bối cảnh Việt Nam hiện nay không phải là một lựa chọn bền vững. Không chỉ là vấn đề tâm lý an cư lạc nghiệp vốn ăn sâu trong văn hóa, mà còn bởi thị trường cho thuê của chúng ta chưa thực sự phát triển đúng nghĩa, thiếu ổn định, thiếu bảo vệ người thuê, và thiếu cả những sản phẩm phù hợp với đại đa số người lao động.
Trong khi đó, giá nhà thì vẫn tiếp tục leo thang. Dữ liệu gần đây cho thấy giá căn hộ tại TP.HCM đã lên đến trung bình hơn 97 triệu đồng một m2, riêng khu trung tâm vượt 100 triệu đồng m2. Ở thị trường thứ cấp, con số trung bình cũng đã chạm ngưỡng khoảng 69 triệu đồng một m2, trong khi nhu cầu tìm mua lại tăng mạnh.
Tôi thấy có một lập luận thường được đưa ra: Nếu không mua được nhà thì thuê cũng không sao. Lập luận này nghe qua có vẻ hợp lý, nhưng thực chất chỉ đúng với một nhóm nhỏ. Người có thu nhập cao, tài chính dư dả, có thể thuê để linh hoạt cho công việc. Sinh viên hay người lao động ngắn hạn cũng vậy, thuê nhà là lựa chọn phù hợp.
Nhưng còn đại đa số người lao động làm việc lâu dài tại thành phố thì sao?
Họ không thể sống mãi trong trạng thái tạm bợ. Một gia đình không thể xây dựng cuộc sống ổn định nếu cứ vài năm lại chuyển nhà, đối mặt với nguy cơ tăng giá thuê hoặc bị chấm dứt hợp đồng bất cứ lúc nào. Nói cách khác, thuê nhà không phải là một giải pháp thay thế, mà chỉ là một giải pháp tình thế.
Vấn đề nằm ở chỗ phân khúc nhà ở phù hợp với họ gần như biến mất. Những căn hộ thương mại giá 2-3 tỷ đồng từng là mục tiêu có thể với tới của tầng lớp trung lưu giờ gần như tuyệt chủng. Thị trường bị lấp đầy bởi các dự án cao cấp, giá 4-5 tỷ đồng trở lên. Với mức thu nhập phổ biến hiện nay, đó là khoảng cách gần như không thể vượt qua.
Vậy chúng ta đang kỳ vọng gì? Rằng một bộ phận lớn người lao động sẽ chấp nhận đi thuê suốt đời? Và khi về già, với thu nhập giảm sút, họ sẽ tiếp tục xoay xở thế nào với chi phí nhà ở ngày càng cao?
Đó không chỉ là câu chuyện kinh tế, mà là một vấn đề an sinh xã hội.
Nếu không thể kiểm soát giá nhà trong ngắn hạn, thì một hướng đi rõ ràng hơn là phát triển mạnh nhà ở xã hội. Nhà ở xã hội không nên bị xem là một giải pháp mang tính "cứu trợ", mà phải được nhìn nhận như một phần thiết yếu của cấu trúc thị trường.
Một đô thị bền vững cần có chỗ cho những người lao động bình thường. Câu chuyện của người bạn tôi rời thành phố không phải là cá biệt. Nếu không có những thay đổi rất có thể sẽ còn nhiều người khác đưa ra lựa chọn rời đi.
Huỳnh Thắng
Hôm qua, tôi đến thăm nhà một người bạn trong khu dân cư. Vừa đến nơi, đập vào mắt tôi là đống rác nằm ngổn ngang ngay dưới tấm biển cấm. Điều tệ hại hơn nữa, nó lại nằm ngay dưới cổng chào đề "khu dân cư văn hóa" - một hình ảnh khiến tôi phải khựng lại vài giây vì sự đối lập giữa lời nói và việc làm, giữa khẩu hiệu và thực tế.
Ngay bên cạnh đống rác là tấm biển đỏ chói, trích dẫn rõ ràng quy định, thậm chí viện dẫn cả nghị định của Chính phủ về xử phạt hành vi đổ rác không đúng nơi quy định. Nghĩa là không phải không có luật, không có cảnh báo, nhưng rác vẫn nằm đó, thản nhiên như thể tất cả những dòng chữ kia chỉ để cho có. Vậy nguyên nhân do đâu?
Trước hết, phải thẳng thắn nhìn nhận một điều: ý thức của một bộ phận người dân còn kém. Khi đã có biển cấm rõ ràng mà vẫn cố tình vi phạm, đó không còn là thiếu hiểu biết, mà là coi thường quy định chung. Có thể là sự tiện tay, có thể là tâm lý "vứt nhanh rồi đi", cũng có thể là suy nghĩ "mỗi mình thì có đáng gì". Nhưng khi thói quen đó lặp lại nhiều lần, từ nhiều người, đã biến thành một đống rác rất đáng kể.
Thứ hai là tâm lý đám đông và sự buông xuôi. Một người vứt, người sau thấy thế sẽ mặc nhiên coi đó là điểm đổ rác. Dần dần, cái sai trở thành bình thường. Biển cấm mất tác dụng không phải vì nó không rõ ràng, mà vì nó không còn được tôn trọng. Khi không có ai nhắc nhở, không có ai xử lý, thì hành vi sai cứ thế được "hợp thức hóa" trong im lặng.
Nhưng sẽ là thiếu công bằng nếu chỉ đổ lỗi cho người dân. Một nguyên nhân không thể bỏ qua là sự thiếu quyết liệt trong quản lý và thực thi. Treo biển là một chuyện, nhưng kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm lại là chuyện khác. Khi một tấm biển có thể trích dẫn cả nghị định xử phạt của Chính phủ mà dưới chân nó vẫn đầy rác, thì rõ ràng vấn đề không nằm ở quy định, mà nằm ở việc quy định không được thực thi đến nơi đến chốn.
>> Tôi phát bực vì mua một phần đồ ăn nhưng nhận về 10 túi nilon
Có thể ở đó thiếu thùng rác hợp lý, thiếu lịch thu gom phù hợp. Có thể người dân không được nhắc nhở thường xuyên. Nhưng quan trọng hơn là việc xử phạt chưa đủ nghiêm, chưa đủ thật. Khi người vi phạm không thấy hậu quả cụ thể, họ sẽ tiếp tục vi phạm. Khi không có sự hiện diện của lực lượng quản lý, thì mọi khẩu hiệu đều trở nên vô nghĩa.
Một nghịch lý đáng suy ngẫm là càng nhiều khẩu hiệu, càng nhiều biển cấm, nhưng nếu không đi kèm biện pháp cụ thể, thì hiệu quả lại càng thấp. Thậm chí, nó còn tạo ra một cảm giác "nhờn luật" khi người ta thấy rằng nói thì rất nhiều, nhưng làm thì chẳng bao nhiêu.
Vì vậy, câu hỏi "nguyên nhân do đâu?" không chỉ dành cho người dân, mà còn phải được đặt ra một cách nghiêm túc với các cơ quan chức năng và chính quyền địa phương. Phải chăng công tác quản lý còn lỏng lẻo? Phải chăng việc tuyên truyền mới dừng ở hình thức? Hay việc xử lý vi phạm chưa đủ sức răn đe?
Xây dựng một "khu dân cư văn hóa" không thể chỉ dừng lại ở việc treo biển. Văn hóa không nằm trên cao, mà nằm ngay dưới mặt đất - nơi từng hành vi nhỏ của con người diễn ra mỗi ngày. Nếu dưới chân tấm biển vẫn là rác, thì mọi danh hiệu cũng trở nên chông chênh.
Đã đến lúc cần một cách tiếp cận thực chất hơn: tuyên truyền đi đôi với giám sát, nhắc nhở đi kèm xử phạt, và quan trọng nhất là làm cho người dân thấy rõ trách nhiệm của mình với không gian chung. Đồng thời, chính quyền địa phương cần quan tâm, kiểm tra và có biện pháp cụ thể, lâu dài để chấn chỉnh tình trạng này, góp phần tạo dựng một cảnh quan đô thị sạch sẽ, văn minh, xứng đáng với những gì được treo trên các tấm biển.
Phú DũngTôi phục người Nhật tích rác trong nhà cả tuần
'Tôi vứt rác ghế sofa, giường cũ miễn phí ở Đức'
300.000 đồng thuê người vứt bộ sofa vì nhân viên thu gom từ chối rác cồng kềnh
Ở tuổi 50, tôi vẫn tiện tay vứt pin vào túi rác
Rắc rối vì bỏ hộ khẩu nhưng vẫn tính định mức nước theo nhân khẩu
Tôi phát điên vì hàng xóm lén vứt rác trước cửa nhà mình