Ngày 2/4/2025, Tổng thống Mỹ Donald Trump công bố thuế đối ứng 10-50% với tất cả đối tác thương mại. Chính sách thuế quan biến động mạnh trong những tháng tiếp theo, khi ông đạt được các thỏa thuận.
Đến ngày 20/2, Tòa án Tối cao bác bỏ các mức thuế viện dẫn từ Đạo luật Quyền lực Kinh tế Khẩn cấp Quốc tế năm 1977 (IEEPA). Chỉ vài giờ sau, Tổng thống Trump công bố mức thuế nhập khẩu bổ sung mới là 10% theo Điều 122 của Đạo luật Thương mại năm 1974, trong thời hạn 150 ngày.
Trong khi đó, các loại thuế được áp dụng theo Điều 232, chủ yếu ảnh hưởng đến nhập khẩu thép, chất bán dẫn, nhôm và các sản phẩm khác, vẫn giữ nguyên.
Theo Nhà Trắng, kinh tế Mỹ đã “kiên cường hơn, cạnh tranh hơn và an toàn hơn”. “Kết quả kể từ ‘Ngày Giải phóng’ thật đáng kinh ngạc: hơn 20 thỏa thuận thương mại mới, hàng nghìn tỷ USD đầu tư vào ngành sản xuất, giá thuốc giảm và thâm hụt thương mại hàng hóa giảm”, Người phát ngôn Kush Desai, cho biết.
Số liệu từ chính quyền ông Trump chỉ ra thâm hụt thương mại hàng hóa của Mỹ đã giảm 24% giai đoạn tháng 4/2025 – 2/2026 so với cùng kỳ. Thâm hụt với Trung Quốc và EU giảm lần lượt 32% và gần 40%. Cán cân thương mại hàng hóa song phương của Mỹ đã được cải thiện với hơn 63% đối tác.
Cùng với đó, chỉ số sản xuất công nghiệp ở mức cao nhất kể từ năm 2019. Nhà Trắng dẫn nghiên cứu của Ngân hàng Anh, cho biết giá xuất khẩu trung bình sang Mỹ đã giảm, trong khi giá xuất khẩu sang các nước khác không giảm, là dấu nhà sản xuất nước ngoài đang chia sẻ chi phí thuế quan bằng cách hạ giá xuất khẩu.
Nhưng bức tranh kinh tế còn nhiều gam màu khác. Nhóm chuyên gia David Hebert của American Institute for Economic Research và Donald Boudreaux, Giáo sư kinh tế Đại học George Mason, chỉ ra việc so sánh hiệu quả kinh tế năm 2025 với 2024 – thời điểm ông Trump cho rằng nền kinh tế Mỹ “đã chết”.
Theo đó, GDP thực tăng 2,1% năm 2025, so với 2,8% năm 2024. Tăng trưởng việc làm đạt 0,5%, thấp hơn 1,2% vào 2024. Bất chấp chính quyền tuyên bố thu hút nhiều cam kết đầu tư để được giảm thuế, FDI năm qua tăng 1,2%, so với mức 2,7% hồi 2024. Đầu tư trong nước chậm lại, chỉ tăng 2% so với 3% năm liền trước.
Kim ngạch nhập khẩu năm 2025 thực tế cao hơn 4% so với 2024, đạt 3.400 tỷ USD, đặc biệt do các công ty đẩy mạnh nhập hàng trước (front-loading). Thâm hụt hàng hóa tăng khoảng 2%, lên 1.240 tỷ USD.
“Nếu nền kinh tế ‘đã chết’ vào năm 2024, không có bằng chứng cho thấy thuế quan của ông Trump đã hồi sinh nó”, hai nhà kinh tế nhận định.
Thuế quan cũng đồng nghĩa với chi phí cao hơn cho người tiêu dùng. Tháng 8/2025, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ chỉ ra người dân phải gánh 94% chi phí từ thuế quan. Đến cuối năm, áp lực được cải thiện, nhưng vẫn còn đến 86%.
Các nhà bán lẻ như Walmart, Best Buy và Macy’s đã tăng giá một số mặt hàng, đồng thời tìm cách bù đắp chi phí. Giá thực phẩm tăng 2,9% so với cùng kỳ năm trước. Một hộ gia đình điển hình tại Mỹ phải đối mặt với chi phí thực phẩm tăng thêm khoảng 1.500 USD mỗi năm, theo Yale Budget Lab.
Theo nhà kinh tế Douglas Irwin tại Đại học Dartmouth, hơn một nửa lượng nhập khẩu của Mỹ là đầu vào phục vụ sản xuất. Thuế quan làm dịch chuyển nguồn lực sang các sản phẩm nội địa đắt đỏ thay vì nhập khẩu rẻ hơn. Kết hợp giữa phí sản xuất tăng và giá tiêu dùng cao hơn sẽ làm chậm tăng trưởng.
Đến tháng 3/2026, 31% cử tri ủng hộ chính sách kinh tế của ông Trump, theo thăm dò của CNN, mức thấp nhất sự nghiệp ông, giảm từ 44% một năm trước đó. Có 65% người được hỏi cho rằng các chính sách của tổng thống làm trầm trọng thêm tình hình kinh tế, cao hơn bất kỳ con số nào được ghi nhận dưới thời ông Biden.
Trên thị trường chứng khoán, Dow Jones tăng 13%, S&P 500 tăng 16% và Nasdaq tăng 20% vào 2025, kém hơn phần lớn các thị trường phát triển khác, dù từng vượt trội trong thập kỷ trước.
Ví dụ, DAX (Đức) tăng 23%, Nikkei 225 (Nhật Bản) tăng 26%, S&P/TSX (Canada) tăng 29% và Kospi (Hàn Quốc) tăng tới 76%. Do thị trường tài chính mang tính dự báo, các con số này cho thấy kinh tế toàn cầu vẫn tìm được cách tăng trưởng dù bị hạn chế tiếp cận thị trường Mỹ do các mức thuế của ông Trump.
Ông Russ Mould, Giám đốc đầu tư tại AJ Bell, cho biết các nhà đầu tư đang tiếp tục đánh giá lại mức độ tiếp xúc của họ với tài sản Mỹ. Nguyên nhân bởi loạt yếu tố, gồm: thuế quan và chiến thuật thương mại của ông Trump, tính độc lập của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ bị thách thức, các hoạt động quân sự tại Mỹ Latinh và Trung Đông, kết hợp với mức định giá cao của thị trường và thâm hụt liên bang tăng vọt.
“Các nhà đầu tư dường như cân nhắc kỹ lưỡng hơn về việc phân bổ vốn trong một thế giới hậu ‘Ngày Giải phóng’ và trong bối cảnh các bài đăng trên mạng xã hội của tổng thống có sức nặng về mặt chính trị, kinh tế và quân sự”, Mould cho biết.
Ông thừa nhận thị trường chứng khoán Mỹ phục hồi mạnh từ mức đáy của ‘Ngày Giải phóng nhưng không còn là ưu tiên hàng đầu như trong phần lớn thời gian kể từ sau Khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009. “Nói cách khác, đây không còn là câu chuyện ‘Mỹ trên hết, phần còn lại không đáng kể’ nữa'”, ông nói.
Chuyên gia Dorian Carrell, Trưởng bộ phận thu nhập đa tài sản tại Schroders, cho rằng sự bất định quanh xung đột Iran, áp lực trong lĩnh vực tín dụng tư nhân và mức chi tiêu vốn cao cho AI là những yếu tố gần đây thúc đẩy việc các nhà đầu tư quốc tế phải xem xét lại chiến lược.
“Một năm sau ‘Ngày Giải phóng’, môi trường đầu tư từng được đồng bộ và dẫn dắt bởi chính sách đang dần nhường chỗ cho một bối cảnh bị chi phối nhiều hơn bởi các ưu tiên trong nước, căng thẳng địa chính trị và sự thiếu nhất quán, khó dự đoán”, ông nhận xét.
Trong lúc này, Wall Street Journal cho rằng, để bù đắp việc mất thị trường Mỹ, các nước hạ rào cản và tăng cường thương mại lẫn nhau. “Thế giới không phi toàn cầu hóa mà đang tái toàn cầu hóa quanh các đối tác tuân thủ luật lệ, thay vì những bên sử dụng thuế quan như một công cụ áp đặt”, nhà kinh tế David Hebert của American Institute for Economic Research, nhận định.
Người phát ngôn Nhà Trắng Kush Desai lạc quan. “Đây mới chỉ là khởi đầu cho chuyển đổi thương mại toàn cầu của Tổng thống: khi các thỏa thuận đầu tư và thương mại này tiếp tục hiệu lực và nhiều thỏa thuận khác được ký kết, người dân Mỹ có thể tin tưởng những điều tốt đẹp nhất vẫn còn ở phía trước”, ông cho biết.
Theo báo cáo mới nhất của Cushman & Wakefield, lĩnh vực trung tâm dữ liệu tại châu Á - Thái Bình Dương đang trải qua một sự dịch chuyển mang tính cấu trúc về chi phí phát triển, trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) tăng tốc và định hình lại cách các cơ sở này được thiết kế, cấp điện và xây dựng.
Thông tin được nêu trong Cẩm nang Chi phí xây dựng Trung tâm dữ liệu tại châu Á - Thái Bình Dương 2026. Theo đó, Nhật Bản là thị trường có chi phí xây dựng cao nhất khu vực, ở mức 19,2 triệu USD/MW, tiếp theo là Singapore với 17,9 triệu USD/MW, trong khi Đài Loan ghi nhận mức thấp hơn, khoảng 7,9 triệu USD/MW.
Quy mô trung tâm dữ liệu không được đo bằng diện tích hay số lượng máy chủ, mà bằng tổng công suất điện có thể cung cấp cho hệ thống máy chủ. Vì vậy, chi phí xây dựng thường được tính theo đơn vị USD/W (USD trên mỗi watt công suất điện).
Việt Nam đang nổi lên trong làn sóng phát triển trung tâm dữ liệu tiếp theo của khu vực. Tại TP.HCM và Hà Nội, chi phí xây dựng dao động từ 5,7-8,7 triệu USD/MW, tương đương mức trung bình khoảng 7,2 triệu USD/MW.
Mức này tương đồng với ước tính trước đó của CBRE, cho rằng chi phí xây dựng trung tâm dữ liệu tại Việt Nam vào khoảng 7 USD/W.
Ông Andrew Green, Trưởng nhóm Trung tâm Dữ liệu khu vực châu Á - Thái Bình Dương của Cushman & Wakefield, nhận định nhu cầu AI đang tái định hình các tiêu chuẩn kỹ thuật của trung tâm dữ liệu, từ mật độ điện năng, hệ thống làm mát đến yêu cầu kết cấu.
Những thay đổi này kéo theo mức chi phí đầu tư tăng và có chênh lệch đáng kể giữa các thị trường, tùy thuộc vào khả năng cung ứng điện, nguồn nhân lực và điều kiện triển khai tại từng địa phương.
Khả năng tiếp cận nguồn điện ngày càng trở thành yếu tố then chốt đối với tính khả thi của các dự án trung tâm dữ liệu. Báo cáo cũng cho biết thời gian chờ để có nguồn điện mới cho dự án trung tâm dữ liệu quy mô 100MW tại các thị trường trọng điểm ở Việt Nam ước tính khoảng 2-3 năm.
Báo cáo từ Vietnam Report vừa công bố mới đây đã cho thấy từ chi phí logistics "ăn mòn" lợi nhuận đến các vụ kiện phòng vệ thương mại đang buộc doanh nghiệp vật liệu xây dựng phải thay đổi tư duy quản trị.
Ngành vật liệu xuất khẩu đang đối mặt với một thực trạng đầy trớ trêu khi hàng hóa làm ra nhiều nhưng không thể vận chuyển hoặc vận chuyển với chi phí không tưởng. Theo số liệu, xuất khẩu xi măng và clinker đạt hơn 37,3 triệu tấn (tương đương 1,3 tỉ USD, tăng 25,6% về khối lượng).
Trong khi nhóm sản phẩm gỗ và nội thất cũng đạt kim ngạch hàng tỉ USD. Tuy nhiên, niềm vui tăng trưởng không trọn vẹn khi "mưa tên lửa" địa chính trị tại Trung Đông đang làm đứt gãy các tuyến hàng hải huyết mạch.
Đặc biệt tại khu vực eo biển Hormuz, việc các hãng tàu phải đi vòng và áp thêm phụ phí chiến tranh đã đẩy chi phí logistics lên mức phi lý. Đối với các mặt hàng có khối lượng lớn nhưng giá trị đơn vị thấp như xi măng, đá xây dựng hay bê tông, đây là một "đòn chí mạng".
Theo phân tích của các chuyên gia, trước đây giá một tấn xi măng tại cảng Việt Nam khoảng 41 - 42 USD, nhưng nếu giá cước vận tải sang Trung Đông đội lên mức 60 USD/tấn, thì chi phí vận chuyển đã cao hơn cả giá trị thực của hàng hóa. Đối với mặt hàng đá xây dựng, tiền cước thậm chí có thể cao gấp hàng chục lần giá trị sản phẩm, khiến chuỗi cung ứng có nguy cơ bị dừng lại ngay lập tức do không còn hiệu quả kinh tế.
Không chỉ khó ở khâu vận chuyển, hàng vật liệu xây dựng Việt Nam còn vấp phải các rào cản pháp lý khắt khe. Điển hình là vụ việc Mỹ áp thuế chống bán phá giá sơ bộ đối với thép cốt bê tông Việt Nam với mức thuế rất cao, từ 122% đến hơn 130%. Con số này cao hơn gấp nhiều lần so với các quốc gia khác cùng bị điều tra như Ai Cập (34% - gần 53%) hay Bulgaria khoảng 52,8%.
Sự gia tăng đột biến của lượng thép xuất khẩu sang Mỹ (từ 43 tấn năm 2022 lên 56.400 tấn năm 2024) đã khiến các cơ quan quản lý sở tại siết chặt các biện pháp phòng vệ để bảo vệ sản xuất nội địa. Đây là bài học đắt giá về việc mở rộng quy mô quá nhanh mà thiếu các chiến lược phòng vệ và đa dạng hóa thị trường bền vững.
Phương pháp ứng phó: chuyển đổi số và xanh hóa là bắt buộc
Trước những "cơn sóng" dữ mà thị trường toàn cầu đang phải đón nhận, các doanh nghiệp vật liệu xây dựng đang buộc phải tái định hình chiến lược. Trong đó, xu hướng nổi bật là chuyển dịch từ mô hình tăng trưởng dựa trên quy mô sang mô hình dựa trên hiệu quả và công nghệ.
Khảo sát cho thấy một con số ấn tượng khi 100% doanh nghiệp tham gia khảo sát cho biết đang triển khai chuyển đổi số. Trong đó, 22,4% đã hoàn thành và bước sang giai đoạn tối ưu hóa, tích hợp công nghệ toàn diện vào vận hành.
Việc 88,9% doanh nghiệp dự kiến tăng đầu tư vào công nghệ trong năm 2026 cho thấy chuyển đổi số đã trở thành nền tảng sống còn để quản trị chi phí và dữ liệu.
Một giải pháp hữu hiệu, bền vững hơn nữa là theo đuổi và tuân thủ tiêu chuẩn ESG, xem đây như là "tấm vé thông hành". Phát triển bền vững không còn là khẩu hiệu xa vời. Bởi có tới 92,3% doanh nghiệp xác định ESG (môi trường - xã hội - quản trị) là ưu tiên chiến lược.
Với một ngành tiêu thụ nhiều năng lượng và tài nguyên, việc đáp ứng các tiêu chuẩn xanh và minh bạch thông tin là điều kiện tiên quyết để tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu và vượt qua các rào cản kỹ thuật tại các thị trường khó tính.
Trao đổi với Tuổi Trẻ Online, ông Đinh Hồng Kỳ, Chủ tịch Hiệp hội Xây dựng và Vật liệu xây dựng TP.HCM (SACA) nhận định ngành vật liệu xây dựng Việt Nam đang đứng trước một cuộc sát hạch gắt gao. Những doanh nghiệp có khả năng tối ưu hóa chuỗi cung ứng, chủ động ứng phó với các biện pháp phòng vệ thương mại và mạnh dạn đầu tư vào công nghệ xanh sẽ là những cái tên trụ vững qua "cơn bão" địa chính trị và kinh tế toàn cầu hiện nay.
Sáng 6/4, Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết giá vàng miếng tại 170,1 - 173,1 triệu đồng, giảm 1,4 triệu đồng mỗi lượng so với cuối tuần. Các thương hiệu khác cũng hạ giá vàng miếng xuống tương ứng.
Vàng nhẫn trơn cùng thời điểm được SJC mua bán quanh 169,9 - 172,9 triệu đồng một lượng. Mi Hồng niêm yết vàng nhẫn 170,7 - 172,7 triệu một lượng. Công ty Vàng bạc đá quý Phú Nhuận (PNJ) mua bán nhẫn trơn tại 170,1 - 173,1 triệu đồng một lượng.
try{try{for(const iframe of document.querySelectorAll("iframe[data-src]")){iframe.removeAttribute("sandbox");iframe.setAttribute("src",iframe.getAttribute("data-src"));}}catch(e){}}catch(e){console.log("error_replace_script",e);}
Trên thị trường quốc tế, giá vàng giao ngay giảm nhẹ xuống 4.650 USD một ounce. Quy đổi theo tỷ giá bán Vietcombank, giá vàng thế giới tương đương 147,8 triệu đồng một lượng. Chênh lệch giá trong nước và thế giới thu hẹp về 25 triệu đồng mỗi lượng so với mức 30 triệu đồng trước đó.
Trong nước, giá bạc miếng, bạc thỏi được các thương hiệu lớn neo quanh 2,7 - 2,8 triệu đồng một lượng, tương đương 72,5 - 75 triệu một kg.
Giá vàng biến động kém khả quan từ khi xung đột Mỹ - Iran nổ ra vào đầu tháng 3. Hiện, mỗi lượng vàng thấp hơn gần 18 triệu từ đỉnh, tương đương với mức giảm 9%.
Ông Huỳnh Trung Khánh, Phó chủ tịch Hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam (VGTA), nhận định giá vàng đang chịu tác động lớn trong ngắn hạn theo diễn biến giá dầu, USD và tình hình chiến sự. Về dài hạn, ông vẫn giữ quan điểm tích cực. Song, chuyên gia của Hiệp hội kinh doanh vàng khuyến nghị nhà đầu tư nên hành động thận trọng trong thời điểm này.
Quỳnh Trang