Bộ Tư pháp đang đề xuất thí điểm chế định luật sư công tại 8 bộ (gồm Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp, Bộ Công thương, Bộ Ngoại giao, Bộ Nông nghiệp – Môi trường) và UBND 10 tỉnh, thành phố (Quảng Ninh, Lâm Đồng, Khánh Hòa, Đồng Nai, Bắc Ninh, Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ).
Việc thí điểm luật sư công là cần thiết nhằm tăng khả năng kiểm soát tính hợp pháp của các quyết định hành chính trước khi ban hành, đẩy mạnh việc tham gia tố tụng hành chính để bảo vệ quyền lợi của Nhà nước, đồng thời tăng khả năng giải quyết các tranh chấp quốc tế và giải quyết khiếu nại, tố cáo.
Bên cạnh đó, nhiều ý kiến cho rằng nên mở rộng phạm vi thí điểm đối với Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, thay vì chỉ với 18 đơn vị như đề xuất của cơ quan soạn thảo.
Luật sư Nguyễn Văn Hậu, Chủ nhiệm Cơ quan truyền thông Liên đoàn Luật sư Việt Nam , Ủy viên Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, dẫn điều 9 Hiến pháp quy định MTTQ Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
MTTQ Việt Nam là bộ phận của hệ thống chính trị của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; thể hiện ý chí, nguyện vọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; phản ánh ý kiến, kiến nghị của nhân dân đến các cơ quan nhà nước; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Theo ông Hậu, các chức năng trên của MTTQ Việt Nam đều đòi hỏi mỗi cá nhân, tổ chức được giao nhiệm vụ phải thực sự am hiểu về pháp luật. Việc thí điểm luật sư công, một đội ngũ pháp lý chuyên nghiệp, sẽ giúp hoạt động của khối mặt trận chuyên nghiệp, chất lượng hơn.
Chẳng hạn hoạt động giám sát, phản biện xã hội, liên quan trực tiếp đến lợi ích công cộng, tác động đến chính sách pháp luật và các quyết định quản lý nhà nước. Do đó, thận trọng, chính xác, hiệu quả là những yếu tố bắt buộc cần có.
Dự thảo quy định luật sư công phải đảm bảo rất nhiều tiêu chí như: trình độ cử nhân luật trở lên, có ít nhất 5 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực pháp luật hoặc kinh nghiệm tranh tụng, tư vấn pháp luật hoặc giải quyết vụ việc pháp lý phức tạp, đã được đào tạo luật sư công… Những phẩm chất này của luật sư công chắc chắn sẽ giúp hoạt động giám sát, phản biện trở nên hiệu quả hơn.
Một khía cạnh khác là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người dân, nhất là người yếu thế. Ông Hậu cho rằng nên mở rộng vai trò của luật sư công trong việc tăng cường tiếp cận công lý cho các đối tượng chính sách, thay vì giới hạn ở bảo vệ quyền, lợi ích của cơ quan nhà nước. Nếu nhìn nhận ở góc độ này, việc thí điểm luật sư công với khối mặt trận là hoàn toàn phù hợp cả về chức năng và bối cảnh, khi Liên đoàn Luật sư Việt Nam cùng các tổ chức luật sư đã quy tụ về MTTQ Việt Nam.
Theo ông Lưu Anh Cường, Giám đốc Công ty luật Thái Dương FDI Hà Nội, Nghị quyết 66 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật nhấn mạnh yêu cầu “phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam, sự tham gia rộng rãi, thực chất của người dân, tổ chức, doanh nghiệp trong xây dựng và thi hành pháp luật”. Nội dung trên cho thấy khi bàn về nâng cao chất lượng thi hành pháp luật, Đảng không chỉ đặt trọng tâm ở cơ quan quản lý nhà nước, mà còn đặt trọng tâm ở các chủ thể giám sát và phản biện việc thực thi pháp luật.
Tại dự thảo của Bộ Tư pháp, danh sách thí điểm luật sư công gồm 18 đơn vị, tập trung phần lớn vào khối hành pháp. Điều này dẫn tới hệ quả là kết quả thí điểm dù có giá trị nhưng sẽ chủ yếu cho thấy cách luật sư công vận hành trong bộ, ngành và chính quyền địa phương, chưa chắc phản ánh đầy đủ tác dụng của chế định này trong các thiết chế có chức năng quan trọng khác, nhất là giám sát, phản biện xã hội.
Thực tế cho thấy các thiết chế thuộc khối mặt trận và tổ chức chính trị – xã hội ở Trung ương có tính chất hoạt động khác đáng kể so với bộ, ngành và chính quyền địa phương. Bộ, ngành và UBND chủ yếu thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong khi Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam và cơ quan Trung ương của các tổ chức chính trị – xã hội vừa là chủ thể trong hệ thống chính trị, vừa có vai trò giám sát, phản biện xã hội, tiếp công dân, tham gia công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, phản ánh kiến nghị của nhân dân và trong nhiều trường hợp là đại diện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức mình hoặc của các nhóm xã hội mà mình đại diện.
So sánh về nhu cầu pháp lý, ở cơ quan hành chính thường gắn với quản lý, điều hành, xử lý tranh chấp, tham gia tố tụng hoặc giải quyết rủi ro pháp lý trong hoạt động công vụ. Còn ở khối mặt trận và tổ chức chính trị – xã hội thường gắn nhiều hơn với giám sát, phản biện và các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn như đã nêu.
Như vậy, nếu chỉ thí điểm trong một loại môi trường, kết quả thu được chủ yếu phản ánh môi trường đó. Trong khi đó, để quyết định có nên luật hóa mô hình luật sư công hay không thì không nên dừng lại ở việc xem xét mô hình này có vận hành được hay không mà cần biết nó phù hợp với loại thiết chế nào, phát huy tác dụng mạnh nhất ở đâu và bộc lộ vướng mắc gì trong từng bối cảnh khác nhau.
Điều quan trọng nữa, ông Lưu Anh Cường cho rằng, dự thảo nghị quyết quy định phạm vi hoạt động của luật sư công gồm tham gia tố tụng với tư cách là luật sư hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cơ quan nhà nước, cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị; tư vấn pháp luật; đại diện trong giải quyết tranh chấp trong nước và quốc tế; tư vấn xử lý các vấn đề pháp lý của dự án kinh tế – xã hội; tham gia giải quyết khiếu nại, tố cáo phức tạp, kéo dài…
Đối chiếu nội dung trên với thực tế hoạt động của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam và cơ quan Trung ương của một số tổ chức chính trị – xã hội, có thể thấy nhiều điểm giao nhau khá rõ. Đơn cử giám sát và phản biện xã hội, hoạt động này đòi hỏi không chỉ trách nhiệm chính trị mà còn cần cả khả năng đọc hồ sơ, hiểu quy trình pháp luật, nhận diện rủi ro hoặc dấu hiệu bất cập, từ đó chuyển ý kiến giám sát thành lập luận pháp lý có sức nặng hơn. Luật sư công rõ ràng đáp ứng tốt yêu cầu.
Đặc biệt, dự thảo quy định luật sư công được quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền cho sao chép hoặc cung cấp tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ việc mà họ đang giải quyết. Nếu thí điểm luật sư công với khối mặt trận, việc đọc, xác định tài liệu then chốt, nhận diện mâu thuẫn pháp lý, đối chiếu hồ sơ, làm rõ điểm cần kiến nghị hoặc phản biện có thể được thực hiện bài bản hơn, từ đó nâng cao chiều sâu pháp lý cho những quyền năng giám sát, phản biện vốn đã được Hiến pháp và luật trao.
Ngoài ra, không ít vụ việc kéo dài thường đi qua kênh mặt trận hoặc tổ chức chính trị – xã hội trước, hoặc ít nhất các tổ chức này cũng tham gia kiến nghị, giám sát và đối thoại. Nếu có lực lượng luật sư công, chất lượng tham gia sẽ được nâng lên theo hướng có căn cứ pháp lý rõ hơn, kiến nghị chính xác hơn, đồng thời nhận diện đúng trọng tâm tranh chấp sớm hơn.
Hay như việc khối mặt trận và tổ chức chính trị – xã hội cũng có tài sản công, trụ sở, hợp đồng, quan hệ lao động và có thể phát sinh tranh chấp hoặc vấn đề pháp lý. Một lực lượng pháp lý chuyên trách có thể tạo ra khác biệt về chiều sâu chuyên môn, bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của chính tổ chức mình.
Gần 12h, ba xe 7 chỗ chạy trên cầu Sài Gòn, hướng từ vòng xoay Hàng Xanh về đường Võ Nguyên Giáp, phường An Khánh. Khi đến giữa cầu, các ôtô bất ngờ xảy ra va chạm, trong đó hai chiếc bị vỡ phần đầu đuôi, biến dạng nắp capo nằm chắn ngang làn đường.
Sự cố khiến tuyến đường huyết mạch nối trung tâm thành phố tới TP Thủ Đức cũ ùn tắc kéo dài gần một giờ. Ôtô phải nối đuôi nhau di chuyển qua hiện trường. CSGT điều tiết ôtô chạy qua làn xe máy để tránh ùn tắc. Ba xe tông liên hoàn được di dời về dưới chân cầu Sài Gòn để xử lý.
Cầu Sài Gòn xây dựng từ năm 1958, dài gần một km, là cầu ở cửa ngõ phía đông nối thành phố với các tỉnh miền Trung, miền Bắc. Năm 2012, cầu Sài Gòn 2 được xây song song với cầu cũ.
Ngày 9.6, Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy TP.HCM tổ chức tập huấn luật Dân số 2025 và các vấn đề dân số. Tại đây, GS-TS Nguyễn Thiện Nhân, nguyên Bí thư Thành ủy TP.HCM đưa ra những dự báo đáng chú ý về dân số Việt Nam.
GS-TS Nguyễn Thiện Nhân cho biết, theo phương án cơ sở dự báo thô dân số năm 2023, nếu mức sinh thấp kéo dài, dân số Việt Nam có thể còn khoảng 46 triệu người vào năm 2200 và tiếp tục giảm xuống khoảng 22,5 triệu người vào năm 2300.
Theo GS-TS Nguyễn Thiện Nhân, kịch bản này bắt nguồn từ xu hướng mức sinh giảm sâu và duy trì dưới mức thay thế trong thời gian dài. Hiện mức sinh của Việt Nam đã giảm còn 1,91 con/phụ nữ vào năm 2024; dự báo tiếp tục xuống khoảng 1,63 vào năm 2050 và 1,38 vào năm 2100.
GS-TS Nguyễn Thiện Nhân phân tích, dân số Việt Nam được dự báo đạt khoảng 110 triệu người, hoặc 107 triệu người vào năm 2050; đến năm 2100 còn khoảng 91 triệu người hoặc 88 triệu người, rồi tiếp tục thu hẹp trong các thế kỷ sau.
Ông lưu ý, điều đáng lo không nằm ở mức giảm trong ngắn hạn, mà ở xu hướng suy giảm kéo dài qua nhiều thế hệ. Khi mức sinh đã xuống thấp và duy trì lâu dài, việc đưa trở lại mức thay thế sẽ rất khó khăn.
Vì vậy, bài toán dân số cần được nhìn như một vấn đề phát triển dài hạn, không chỉ là chuyện sinh ít hay sinh nhiều trong từng năm.
Đặt trong bối cảnh rộng hơn, GS-TS Nguyễn Thiện Nhân cho biết mức sinh toàn cầu cũng đang giảm mạnh: từ 2,23 con/phụ nữ năm 2020 xuống mức dự báo 2,1 vào năm 2030; 1,83 vào năm 2050 và 1,59 vào năm 2100.
Theo GS-TS Nguyễn Thiện Nhân, hệ quả nặng nề của mức sinh thấp kéo dài không chỉ là dân số giảm, mà còn là lực lượng lao động tương lai bị thu hẹp.
Với kịch bản mức sinh 1,5 con/phụ nữ, sau một thế hệ, tỷ lệ tái tạo lao động chỉ còn khoảng 71%; sau hai thế hệ còn 50,4%; sau ba thế hệ chỉ còn 35,8%.
Nói cách khác, mức sinh thấp kéo dài sẽ làm nguồn lao động co lại rất nhanh. Nếu kéo dài 5 thế hệ, tỷ lệ này chỉ còn khoảng 18%; sau 6 thế hệ còn khoảng 12,8%.
Ông nhấn mạnh, GDP phụ thuộc vào 2 yếu tố cốt lõi: số lao động làm việc và năng suất lao động. Khi lao động giảm, nền kinh tế muốn duy trì tăng trưởng buộc phải nâng năng suất đủ mạnh để bù đắp; nếu không, tăng trưởng sẽ chậm lại, thậm chí trì trệ.
Theo báo cáo, dân số trong tuổi lao động của Việt Nam sẽ đạt đỉnh 66,59 triệu người vào năm 2035; sau đó giảm còn 44,87 triệu người vào năm 2100 (tức giảm gần 33%).
Cùng với đó, Việt Nam sẽ bước vào giai đoạn "xã hội đã già" từ năm 2025 và có thể trở thành "xã hội siêu già" từ năm 2040.
Theo giáo sư Thiện Nhân, đây không chỉ là áp lực an sinh, mà còn là nguy cơ làm chậm tăng trưởng GDP và GDP/người trong giai đoạn dài hạn.
GS-TS Nguyễn Thiện Nhân cho biết, nhiều nước phát triển và nền kinh tế lớn như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc đã hoặc đang đi qua quỹ đạo tương tự: mức sinh giảm sâu, lao động thu hẹp, dân số già hóa nhanh và tăng trưởng chịu sức ép.
Trong đó, Nhật Bản là trường hợp điển hình. Sau hơn 50 năm mức sinh dưới mức thay thế, Nhật Bản rơi vào giai đoạn già hóa sâu, lao động giảm từ năm 1996 và kinh tế trì trệ suốt 30 năm. Theo báo cáo, dân số Nhật Bản đến năm 2100 được dự báo chỉ còn khoảng 50 - 60 triệu người, và đến năm 2350 có thể chỉ còn khoảng 1 triệu người.
Tương tự, Hàn Quốc cũng là quốc gia có mức sinh thấp. Với mức sinh khoảng 0,75 con/phụ nữ, dân số Hàn Quốc được dự báo giảm gần 60% vào năm 2100. Tỷ lệ tái tạo lao động chỉ còn khoảng 35,7% - tức 10 lao động của thế hệ trước chỉ được thay bằng khoảng 3,6 lao động của thế hệ sau.
Theo giáo sư, kinh nghiệm quốc tế cho thấy việc kéo mức sinh trở lại là cực kỳ khó nếu không có chính sách sớm, đủ mạnh và triển khai trước khi lực lượng lao động bắt đầu suy giảm.
Giải pháp không thể chỉ dừng ở tuyên truyền, mà phải là một gói chính sách đồng bộ nhằm giảm gánh nặng sinh và nuôi con cho người trẻ.
Trong đó, cốt lõi nhất là bảo đảm người lao động có mức lương đủ sống để một gia đình 4 người có thể nuôi dạy 2 con đến tuổi trưởng thành.
Cùng với đó, cần tập trung vào các vấn đề then chốt như: thu nhập, nhà ở, giáo dục mầm non, điều kiện làm việc, thời gian chăm sóc con cái và chăm sóc sức khỏe sinh sản.
Theo ông, chính sách dân số không chỉ là chuyện của ngành y tế, mà liên quan trực tiếp đến kinh tế, lao động và an sinh xã hội. Nếu không có giải pháp kịp thời và mang tính đột phá, Việt Nam hoàn toàn có thể đi theo quỹ đạo mà nhiều quốc gia phát triển đã trải qua: dân số giảm, lao động thiếu hụt, già hóa tăng nhanh và áp lực an sinh ngày càng lớn.
Theo nghị quyết, Quốc hội đã bầu Chủ tịch Hội đồng Dân tộc và Chủ nhiệm các ủy ban: Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại; Pháp luật và Tư pháp; Kinh tế và Tài chính; Văn hóa và Xã hội; Khoa học, Công nghệ và Môi trường; Công tác đại biểu; Ủy ban Dân nguyện và Giám sát và Tổng thư ký, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội.
Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Lâm Văn Mẫn 56 tuổi, quê Cần Thơ, người dân tộc Khmer. Ông là tiến sĩ Kinh tế, cử nhân Luật, Ủy viên dự khuyết hai khóa 11, 12, Ủy viên Trung ương hai khóa 13, 14; đại biểu Quốc hội khóa 15, 16.
Ông từng làm Phó chủ tịch UBND tỉnh Sóc Trăng, Chủ tịch HĐND tỉnh Sóc Trăng, Bí thư Tỉnh ủy Sóc Trăng (cũ). Ông được Quốc hội bầu làm Chủ tịch Hội đồng dân tộc khóa 15 hồi giữa năm 2025.
Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại Lê Tấn Tới 57 tuổi, Tiến sĩ Luật; Đại học Cảnh sát nhân dân, quê Cà Mau. Ông là Ủy viên Trung ương Đảng Khóa 13, 14; Thượng tướng, Thứ trưởng Công an (biệt phái), đại biểu Quốc hội Khóa 14-16.
Ông từng giữ nhiều cương vị trong ngành công an như Giám đốc Công an tỉnh Bạc Liêu; Cục trưởng Cục Tổ chức cán bộ Bộ Công an; Thứ trưởng Công an. Tháng 7/2021, ông làm Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội. Sau sắp xếp đơn vị, ông tiếp tục làm Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại.
Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Phan Chí Hiếu 57 tuổi, Tiến sĩ Luật học, quê Ninh Bình, Ủy viên Trung ương Đảng Khóa 14, Đại biểu Quốc hội Khóa 16.
Ông từng kinh qua nhiều vị trí tại Bộ Tư pháp như Phó chánh Văn phòng Bộ; Giám đốc Học viện Tư pháp. Sau đó, ông đảm nhận cương vị Hiệu trưởng trường Đại học Luật Hà Nội; Phó chủ tịch Hội Luật gia Việt Nam nhiệm kỳ 2014-2019. Ông làm Thứ trưởng Tư pháp từ năm 2014, sau đó là Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. Ông quay lại Bộ Tư pháp với vai trò Thứ trưởng từ tháng 9/2025.
Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi 53 tuổi, quê Vĩnh Long. Ông là Ủy viên Trung ương Đảng Khóa 12, 13, 14; đại biểu Quốc hội Khóa 15, 16.
Ông từng giữ các cương vị Phó bí thư, Bí thư Tỉnh Đoàn Bến Tre; Phó bí thư Thường trực Tỉnh ủy Bến Tre rồi Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre. Tháng 6/2021, ông Mãi được điều động, chỉ định giữ chức Phó bí thư Thường trực Thành ủy TP HCM. Hai tháng sau, ông được bầu giữ chức Chủ tịch UBND TP HCM. Ông giữ chức Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính từ tháng 2/2025.
Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội Nguyễn Đắc Vinh 54 tuổi, quê Nghệ An. Ông là Ủy viên Trung ương Đảng Khóa 11 (dự khuyết) và 12-14; Đại biểu Quốc hội khóa 13-16.
Ông có thời gian dài công tác tại Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, trải qua các vị trí Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đoàn; Chủ tịch Hội Sinh viên Việt Nam. Tháng 4/2016, ông làm Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An, tháng 12/2019 là Phó chánh Văn phòng Trung ương Đảng. Ông giữ cương vị Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng (cũ) từ tháng 4/2021.
Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Công nghệ và Môi trường Nguyễn Thanh Hải 56 tuổi, quê Hà Nội; Phó giáo sư, Tiến sĩ Vật lý; Ủy viên Trung ương Đảng khóa 12-14; Đại biểu Quốc hội khóa 13-16.
Tháng 12/2015, bà giữ cương vị Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội. Sau đó nửa năm, bà làm Trưởng ban Dân nguyện thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội và giữ cương vị này đến khi được chỉ định giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Thái Nguyên vào tháng 5/2020. Tháng 6/2024, bà làm Trưởng ban Công tác đại biểu.
Tổng Thư ký - Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Lê Quang Mạnh 52 tuổi, quê Hà Nội, tiến sĩ kinh tế, Ủy viên Trung ương Đảng khóa 13, 14; đại biểu Quốc hội khóa 15, 16.
Thời kỳ ở Bộ Kế hoạch và Đầu tư (cũ), ông từng giữ các vị trí Vụ trưởng Kinh tế đối ngoại; Vụ trưởng Kinh tế địa phương và lãnh thổ, Thứ trưởng Kế hoạch và Đầu tư. Sau đó, ông làm Phó bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố Cần Thơ. Tháng 9/2020, ông giữ chức Bí thư Thành ủy Cần Thơ.
Từ tháng 5/2023, ông làm Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính - Ngân sách. Khi Quốc hội sắp xếp lại tổ chức, ông đảm nhiệm cương vị Phó chủ nhiệm Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính.
Chủ nhiệm Ủy ban Công tác đại biểu Nguyễn Hữu Đông 54 tuổi, quê ở Phú Thọ, Ủy viên Trung ương Đảng khóa 12 (dự khuyết), 13, 14; đại biểu Quốc hội khóa 15, 16.
Ông từng làm Trưởng ban Nội chính Tỉnh ủy Phú Thọ; Phó bí thư Tỉnh ủy Phú Thọ, sau đó được điều động làm Phó bí thư Tỉnh ủy Sơn La. Từ tháng 9/2020, ông giữ cương vị Bí thư Tỉnh ủy Sơn La. Tháng 6/2024, ông được Bộ Chính trị điều động, giữ chức Phó ban Nội chính Trung ương.
Tháng 9/2025, Thường vụ Quốc hội quyết nghị phê chuẩn ông giữ chức Phó chủ nhiệm Thường trực Ủy ban Công tác đại biểu và giữ cương vị Chủ nhiệm từ tháng 10/2025.
Chủ nhiệm Ủy ban Dân nguyện và Giám sát Lê Thị Nga 62 tuổi, Thạc sĩ Luật, quê Hà Tĩnh. Bà là Ủy viên Trung ương Đảng Khóa 12-14; Đại biểu Quốc hội 7 khóa 10-16.
Bà từng làm Thẩm phán, Phó chánh án Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa (cũ); Phó Vụ trưởng Vụ Pháp luật, Văn phòng Chủ tịch nước. Năm 2007, bà làm Phó chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp và sau đó giữ chức Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp. Sau sắp xếp, bà giữ cương vị Phó chủ nhiệm Thường trực Ủy ban Dân nguyện và Giám sát của Quốc hội.
Có 2 người đứng đầu các Ủy ban của khóa 15 không tái cử là ông Hoàng Thanh Tùng, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp và ông Dương Thanh Bình, Chủ nhiệm Ủy ban Dân nguyện và Giám sát.