Hàng triệu lao động nữ phụ thuộc vào dịch vụ chăm sóc trẻ
Ngày 3/4, tại hội thảo “Hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục mầm non” do Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam phối hợp với Vụ Giáo dục Mầm non và Ngân hàng Thế giới tổ chức, các chuyên gia đã đưa ra loạt khuyến nghị đáng chú ý.
Trình bày báo cáo tại hội thảo, bà Helle Buchhave, Trưởng nhóm toàn cầu về giới của Ngân hàng Thế giới, cho biết Việt Nam hiện có khoảng 4,8 triệu lao động nữ trong lĩnh vực sản xuất tại các khu công nghiệp, tương đương 19% số lao động nữ. Đây là nhóm chịu tác động trực tiếp từ sự thiếu hụt dịch vụ chăm sóc trẻ.
Dữ liệu cho thấy nhu cầu gửi trẻ, đặc biệt dưới 3 tuổi, đang rất lớn nhưng chưa được đáp ứng. Có tới 75% bà mẹ có con dưới 2 tuổi chưa sử dụng dịch vụ chăm sóc trẻ, dù sẵn sàng sử dụng nếu có dịch vụ phù hợp với chi phí hợp lý.
Trong khi đó, hệ thống công lập còn hạn chế, chỉ 23% cơ sở nhận trẻ dưới 2 tuổi. Ở khu vực ngoài công lập, nhiều cơ sở gặp khó khăn về nhân lực đạt chuẩn, nguồn lực tài chính và tiếp cận chính sách hỗ trợ.
Các chuyên gia nhấn mạnh, đầu tư vào giáo dục mầm non không chỉ là chính sách xã hội mà còn mang lại lợi ích kinh tế rõ rệt. Ước tính, việc phổ cập dịch vụ chăm sóc trẻ có thể mang lại tổng lợi ích kinh tế lên tới 3,02 tỷ USD, thông qua việc tăng tỷ lệ tham gia lao động của phụ nữ và nâng cao năng suất.
Bàn giải pháp nâng chất giáo dục mầm non ở địa bàn có khu công nghiệp
Trưởng nhóm toàn cầu về giới của Ngân hàng Thế giới nhấn mạnh Việt Nam cần những điều chỉnh chính sách mạnh mẽ để giải quyết “điểm nghẽn” trong hệ thống chăm sóc trẻ nhỏ, đặc biệt tại khu đô thị và khu công nghiệp.
Báo cáo của Ngân hàng Thế giới đưa ra 3 nhóm giải pháp lớn. Một trong những giải pháp quan trọng là cải thiện chế độ cho đội ngũ giáo viên mầm non. Mức hỗ trợ hiện nay còn thấp, khiến thu nhập của giáo viên, đặc biệt ở khu vực ngoài công lập còn hạn chế.
Vì vậy, cần xây dựng chính sách tiền lương ở tầm quốc gia, đồng thời tăng lương theo lộ trình gắn với trình độ chuyên môn.
Đồng thời, cần tăng nguồn cung dịch vụ với chi phí hợp lý, trong đó nhấn mạnh mở rộng hệ thống mầm non công lập, đặc biệt cho trẻ dưới 3 tuổi; đồng thời cải cách mô hình hợp tác công – tư (PPP), giảm rào cản để thu hút các nhà đầu tư.
Đáng chú ý, chuyên gia Ngân hàng Thế giới cũng đề xuất điều chỉnh chính sách lao động theo hướng thân thiện hơn với gia đình, trong đó có việc kéo dài thời gian nghỉ thai sản lên 12 tháng. Phương án được đưa ra là mỗi phụ huynh nghỉ 6 tháng, nhằm san sẻ trách nhiệm chăm sóc con nhỏ.
Bà Buchhave chỉ ra khoảng trống lớn hiện nay: sau 6 tháng nghỉ thai sản, nhiều gia đình không có nơi gửi trẻ do phần lớn cơ sở mầm non công lập chưa nhận trẻ dưới 12 tháng tuổi. Điều này khiến không ít phụ nữ buộc phải rời bỏ thị trường lao động hoặc chấp nhận những lựa chọn không bền vững.
“Khung chính sách của Việt Nam đã có đủ các cam kết cần thiết để hành động”, bà nhấn mạnh.
Tuy nhiên, chuyên gia của Ngân hàng Thế giới cũng cho biết đây là những chiến lược dài hạn. Tuy nhiên, bà cũng chỉ ra một số hành động cần thực hiện trong ngắn hạn như: Tăng số lượng chỗ học cho trẻ dưới 3 tuổi tại cơ sở mầm non công lập, nới lỏng trần biên chế, kéo dài giờ hoạt động ở trường, loại bỏ rào cản hành chính đối với người di cư, đồng bộ chính sách chăm sóc trẻ em với chính sách nghỉ phép của cha mẹ và làm việc linh hoạt…
Tại hội thảo, bà Lê Thuỵ Mỵ Châu, Phó Giám đốc Sở GD&ĐT TPHCM, cho biết thành phố hiện có hơn 1.800 cơ sở mầm non với trên 520.000 trẻ, hơn 47.000 giáo viên, cán bộ quản lý – quy mô lớn nhất cả nước. Tuy nhiên, áp lực về chỗ học, đặc biệt cho con em công nhân và lao động nhập cư, vẫn rất lớn.
Nhiều mô hình linh hoạt đã được triển khai như giữ trẻ ngoài giờ, trường do doanh nghiệp đầu tư hay cơ sở mầm non tại khu lưu trú công nhân, ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động, quản lý. Dù vậy, bài toán về nguồn lực, quy hoạch và chất lượng vẫn còn nhiều thách thức.
Ở góc độ quản lý, bà Hoàng Thị Dinh, Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục Mầm non, Bộ GD&ĐT, nhấn mạnh sự cần thiết của việc triển khai đồng bộ chương trình quốc gia, đặc biệt tại các địa phương có khu công nghiệp lớn.
Bà cho rằng cần tăng cường phân cấp, trao quyền cho địa phương trong việc tham mưu và triển khai giải pháp phù hợp với thực tiễn.
Đồng thời, các địa phương cần chú trọng mở rộng quy mô, tăng tỷ lệ trẻ đến trường, nhất là nhóm trẻ nhà trẻ, vốn còn nhiều hạn chế so với bậc mẫu giáo.
Đại diện Bộ GD&ĐT cho biết đang triển khai chương trình nâng cao chất lượng giáo dục mầm non tại khu đô thị, khu công nghiệp, với mục tiêu đến năm 2035, 100% trẻ từ 6 đến 36 tháng tuổi là con công nhân, người lao động có nhu cầu sẽ được đến trường.
Theo GS.TS Lê Anh Vinh, Viện trưởng Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, giáo dục mầm non cần được nhìn nhận không chỉ là lĩnh vực giáo dục mà còn là câu chuyện chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo vệ trẻ trong những năm đầu đời.
Theo ông Vinh, đây là giai đoạn nền tảng có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của mỗi con người. Những gì trẻ được tiếp cận trong giai đoạn này sẽ ảnh hưởng lâu dài đến kết quả học tập, khả năng học tập suốt đời và năng suất lao động khi trưởng thành.
“Giáo dục mầm non phải là câu chuyện của tiếp cận sớm, cơ hội sớm và đầu tư sớm, không chỉ trong ngành giáo dục mà trong tổng thể chiến lược phát triển kinh tế – xã hội”, ông Vinh nhấn mạnh.
Cụ thể, với các chương trình đào tạo giáo viên, thí sinh phải có kết quả học tập lớp 12 ở mức tốt và đáp ứng một trong hai điều kiện: Tổng điểm ba môn thi tốt nghiệp THPT từ 18 trở lên hoặc điểm xét tốt nghiệp THPT từ 8,5.
Mức này với ngành Giáo dục thể chất, Sư phạm Âm nhạc, Sư phạm Mỹ thuật và khối ngành ngoài sư phạm, lần lượt là 16,5 và 6,5 điểm. Đồng thời, thí sinh phải có kết quả học tập lớp 12 ở mức khá.
Ở phương thức xét điểm thi đánh giá năng lực (SPT), thí sinh phải dự thi ít nhất ba môn để xét điểm theo tổ hợp.
Với thí sinh có năng lực và thành tích vượt trội, trường chia theo ba nhóm. Một là nhóm có điểm rèn luyện và học tập 3 năm THPT ở mức tốt, đồng thời đáp ứng một trong các điều kiện: học tại các trường thuộc Đại học Sư phạm Hà Nội và TP HCM hoặc trường chuyên, đạt giải ba học sinh giỏi hoặc thi khoa học kỹ thuật cấp tỉnh/trường đại học trở lên.
Hai diện còn lại áp dụng với các ngành Sư phạm Âm nhạc và Mỹ thuật hay Giáo dục thể chất và Huấn luyện thể thao. Đây là những thí sinh có học bạ THPT đạt khá trở lên, đồng thời trong top 5% điểm cao nhất kỳ thi năng khiếu của trường, hoặc có thành tích cao trong lĩnh vực liên quan (tốt nghiệp loại giỏi các trường năng khiếu, nghệ thuật, đoạt giải cuộc thi nghệ thuật hay giải thi đấu thể thao cấp tỉnh trở lên, đạt chuẩn vận động viên cấp 1, kiện tướng quốc gia).
Với phương thức xét bằng điểm thi tốt nghiệp THPT, trường không quy đổi điểm Tiếng Anh từ chứng chỉ ngoại ngữ, điểm sàn được công bố ngày 10/7.
Năm ngoái, trường Đại học Sư phạm Hà Nội tuyển khoảng 5.000 sinh viên. Điểm chuẩn từ 19 đến 29,06/30. Sư phạm Lịch sử dẫn đầu, một số ngành lấy trên 28 điểm là Giáo dục chính trị và các ngành Sư phạm Toán, Vật lý, Hóa học, Ngữ văn, Địa lý.
Hai ngành có điểm chuẩn dưới 20 là Sinh học và Công nghệ sinh học (không phải nhóm đào tạo giáo viên).
Ngô Hà Anh, cựu học sinh lớp chuyên Sử, trường THPT chuyên Hà Nội - Amsterdam (Ams), nhận thư trúng tuyển từ 8 đại học Mỹ, hồi giữa tháng 3. Trước đó, do nộp hồ sơ nhiều trường, Hà Anh thường đặt báo thức hai tiếng một lần để kiểm tra email.
"Nhưng em vốn không kỳ vọng nhiều vì đây là những trường nghệ thuật hàng đầu thế giới", Hà Anh nói.
Nữ sinh chọn theo học Rhode Island School of Design (RISD). Đây là ngôi trường đứng thứ tư thế giới về lĩnh vực nghệ thuật và thiết kế, cũng là trường đào tạo nghệ thuật số 1 ở Mỹ, theo QS 2026.
Theo Hà Anh, nhiều học sinh của trường đến từ các gia đình có truyền thống nghệ thuật, đây là môi trường đào tạo họa sĩ quy củ và có trình độ chuyên môn bậc nhất, phù hợp với mong muốn được tự do sáng tạo nghệ thuật, trở thành họa sĩ của em. Ngoài ra, RISD có chương trình học liên ngành với Đại học Brown.
Khác với nhiều học sinh theo nghệ thuật từ sớm, Hà Anh từng được gia đình định hướng học luật. Sau một năm theo đuổi, em nhận ra không phù hợp ngành và quyết định chuyển hướng vào lớp 12. Thời điểm đó, em thích thú với nghệ thuật nhưng chưa từng học vẽ bài bản. Bắt đầu từ học kỳ 2 lớp 12, Hà Anh mới học các kỹ thuật cơ bản. Sau tốt nghiệp THPT, nữ sinh dành một năm học vẽ và chuẩn bị hồ sơ.
Ngoài chứng chỉ, thư giới thiệu, hoạt động ngoại khóa, bài luận, Hà Anh chuẩn bị thêm bộ hồ sơ nghệ thuật. Trong khoảng 4 tháng, nữ sinh hoàn thành gần 20 tác phẩm, xoay quanh chủ đề tâm lý học và trải nghiệm nội tâm, khai thác các cảm xúc như lo âu, mất mát, cô đơn và áp lực xã hội.
"Tranh chứa nhiều yếu tố siêu thực, đôi khi kỳ dị cùng những chi tiết màu đỏ biểu tượng cho hy vọng, tiếng gọi của trái tim", Hà Anh kể. "Mình muốn thể hiện rằng mọi vấn đề tâm lý đều có lối thoát".
Bên cạnh chất liệu acrylic và sơn dầu, nữ sinh còn thử nghiệm với sơn mài như một cách đưa chất liệu truyền thống của Việt Nam vào các tác phẩm đương đại. Hà Anh tìm đến làng nghề sơn mài Hạ Thái, quan sát quy trình và học hỏi từ nghệ nhân, đồng thời được họa sĩ Trần Đức Hùng hướng dẫn. Công việc đòi hỏi kỹ thuật và sức bền bởi mùi sơn, dầu hỏa nồng nặc, các công đoạn mài khiến đôi tay trầy xước. Người vẽ cũng dễ bị kích ứng da do hiện tượng "sơn ăn", song Hà Anh vẫn kiên trì, tự thực hiện các công đoạn như gắn vỏ trứng, phủ sơn, mài hoàn thiện.
Ngoài ra, Hà Anh nộp bài luận về hành trình tìm kiếm dấu ấn cá nhân qua nghệ thuật. Thay vì tập trung vào việc khẳng định sự tồn tại, Hà Anh hướng tới những điểm chạm cảm xúc. Với nữ sinh, nghệ thuật không chỉ là "kể câu chuyện của riêng mình mà còn để chạm đến cảm xúc của người khác để lưu giữ những điều đẹp đẽ, chữa lành và kết nối giữa người với người".
Hà Anh còn tổ chức triển lãm tranh của mình và trẻ tự kỷ, lấy cảm hứng từ mô hình Tòhe (tạo sân chơi sáng tạo và đào tạo nghệ thuật cho trẻ em thiệt thòi, phát triển tác phẩm của các em thành sản phẩm thương mại và triển lãm nghệ thuật). Nữ sinh mong muốn tạo ra không gian để cộng đồng tiếp xúc với thế giới nội tâm của trẻ tự kỷ qua tranh, cảm nhận sự chân thành cùng niềm khao khát được sẻ chia.
Cô tìm đến một trung tâm hỗ trợ trẻ tự kỷ và bắt đầu dạy các em từ 4 đến 12 tuổi. Những buổi học đầu tiên, khi chưa hiểu nhau, học sinh nhiều khi la hét mất kiểm soát, có lúc lại im lặng hoàn toàn.
Hà Anh phải thử nhiều cách, kết hợp âm nhạc, sử dụng đồ chơi quen thuộc đến điều chỉnh màu sắc, chất liệu. Nhận thấy giấy trắng gây lóa mắt, khó chịu, nữ sinh chuyển sang cho học sinh vẽ phấn trực tiếp lên bàn hoặc dùng giấy màu vàng. Đồng thời, cô dùng đồ chơi có màu sắc đặc biệt do trẻ làm để tìm "tần số chung" với các em.
Theo nữ sinh, với trẻ em tự kỷ, ngôn ngữ hay lời nói dường như khá xa lạ và khó khăn, nhưng khi đặt các em vào môi trường hội họa, được cầm cọ, tô màu, các em lại có thể biểu đạt được những gì mình cảm nhận. Người dạy cũng nên bình tĩnh, không buộc các em đẩy nhanh tiến độ. Lớp học không theo khuôn mẫu truyền thống mà cho mỗi em nhỏ được thể hiện bản thân, tìm thấy niềm vui, sự tập trung và cảm giác được lắng nghe.
Kết quả, triển lãm trưng bày 36 bức tranh của trẻ tự kỷ, gây quỹ bằng những sản phẩm lưu niệm như postcard, áo để hỗ trợ thiết bị cho Trung tâm Giáo dục trẻ em tự kỷ Gia An.
Họa sĩ Trần Đức Hùng cho biết ban đầu khá e ngại khi nhận dạy nữ sinh do thời gian chuẩn bị hồ sơ du học quá ngắn. Tuy nhiên, chỉ sau hai buổi học thử, anh bất ngờ với tố chất và gu thẩm mỹ của Hà Anh.
"Hà Anh thông minh và có đam mê mãnh liệt với hội họa, có những khi em mải mê vẽ mà quên hết mọi thứ xung quanh", anh Hùng cho biết.
Trước khi nhập học vào tháng 9, Hà Anh tiếp tục học vẽ và dự định đi làm thêm để tích lũy trải nghiệm. Trong tương lai, cô mong muốn theo đuổi hội họa kết hợp tâm lý học, mở rộng liên ngành sang Art and Computation (kết hợp giữa nghệ thuật thị giác và công nghệ sáng tạo) và Sound Art (nghệ thuật âm thanh) để khám phá những hình thức biểu đạt mới.
Nhìn lại hành trình của mình, Hà Anh cho rằng không có công thức chung cho thành công.
"Mỗi người phải tự tìm con đường riêng. Quan trọng nhất là đủ đam mê và đủ quyết tâm", cô nói, cho biết vali du học sẽ mang theo một vài con rối nước để giới thiệu với bạn bè ở đại học về biểu tượng văn hóa Việt Nam.