Quỹ Tiền tệ quốc tế (International Monetary Fund, IMF) vừa công bố dự báo về quy mô kinh tế của 6 nước lớn ở Đông Nam Á giai đoạn 2026 – 2031, bao gồm: Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam.
Đáng chú ý, tính theo GDP sức mua tương đương (PPP), Việt Nam đang là nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất so với các quốc gia trên.
Cụ thể, riêng năm 2026, GDP PPP của Việt Nam đạt 2.025 tỉ USD, vượt Thái Lan, Malaysia, Philippines và Singapore, chỉ đứng sau Indonesia với 5.230 tỉ USD. Việt Nam cũng là quốc gia duy nhất ngoài Indonesia vượt mốc 2.000 tỉ USD.
Khoảng cách giữa Việt Nam và Thái Lan tiếp tục nới rộng. Đến năm 2031, dự báo GDP PPP Việt Nam đã cao hơn Thái Lan hơn 500 tỉ USD, bỏ xa Malaysia và Philippines, qua đó củng cố vị thế nền kinh tế lớn thứ hai ASEAN.
Dù vẫn còn khoảng cách với Indonesia, Việt Nam lại là nước thu hẹp nhanh nhất với nền kinh tế lớn nhất khu vực. Từ mức tương đương khoảng 39% quy mô của Indonesia năm 2026, đến năm 2031, Việt Nam được dự báo đạt gần 46%.
Đáng chú ý, Việt Nam ngày càng vượt xa Singapore về quy mô kinh tế, nhưng “đảo quốc sư tử” vẫn dẫn đầu tuyệt đối về thu nhập bình quân đầu người. Đến năm 2031, GDP PPP của nước ta được dự báo gấp hơn 2,2 lần Singapore, phản ánh lợi thế về quy mô dân số và tốc độ tăng trưởng.
TS Nguyễn Anh Vũ – Trưởng khoa tài chính Trường đại học Ngân hàng – cho biết cần phân biệt giữa GDP danh nghĩa và GDP theo sức mua tương đương (PPP), bởi hai chỉ số phản ánh những khía cạnh khác nhau của nền kinh tế.
GDP danh nghĩa thể hiện tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ một quốc gia tạo ra, quy đổi theo tỉ giá hiện hành sang USD. Trong khi đó, GDP PPP phản ánh sức mua thực tế, tức cùng một số tiền có thể mua được bao nhiêu hàng hóa và dịch vụ ở mỗi quốc gia sau khi đã điều chỉnh theo mặt bằng giá.
Ví dụ, theo dữ liệu của World Bank, GDP danh nghĩa của Việt Nam năm 2024 đạt hơn 476 tỉ USD, còn GDP PPP đạt 1.650 tỉ USD, gấp khoảng 4 lần. Trong khi đó, hai chỉ số này trong năm 2024 của Mỹ lần lượt là 28.750 tỉ USD và hơn 29.180 tỉ USD, gần như tương đương.
Theo dự báo của IMF, năm 2026, quy mô nền kinh tế của Việt Nam vượt mốc 500 tỉ USD theo GDP danh nghĩa và đạt hơn 2.000 tỉ USD theo GDP PPP.
Thước đo GDP PPP xuất phát từ Chương trình so sánh quốc tế (International Comparison Program) của World Bank. Mức giá toàn cầu là cơ sở để so sánh chi phí sinh hoạt giữa các quốc gia khác nhau. Chỉ số này được đo bằng sức mua tương đương (PPP), qua đó cho thấy cần bao nhiêu tiền để mua cùng một mặt hàng ở những nơi khác nhau.
TS Nguyễn Anh Vũ lấy ví dụ, nếu một chiếc hamburger ở Mỹ có giá khoảng 6 USD, trong khi một chiếc tương tự ở Việt Nam chỉ khoảng 40.000 đồng, tương đương khoảng 1,5 USD. Vì vậy, với cùng 1 USD, người dân ở Việt Nam có thể mua được lượng hàng hóa, dịch vụ tương đương khoảng 3 – 4 USD ở Mỹ.
Đây là lý do quy mô kinh tế của Việt Nam khi tính theo sức mua cao hơn nhiều so với GDP danh nghĩa quy đổi theo tỉ giá.
Năm 2006, GDP danh nghĩa của Thái Lan là hơn 220 tỉ USD, trong khi Việt Nam chỉ ở mức hơn 66 tỉ USD. Đến năm 2024, hai chỉ số trên của Thái Lan lần lượt gần 530 tỉ USD và 1.770 tỉ USD, còn của Việt Nam gần 480 tỉ USD và 1.650 tỉ USD.
Với dự báo mới công bố của IMF vào tháng 4-2026, TS Nguyễn Anh Vũ cho rằng: “Việc Việt Nam vượt Thái Lan theo chỉ tiêu GDP PPP, sau đó có thể cả GDP danh nghĩa là hợp lý. Bởi Việt Nam đã duy trì tốc độ tăng trưởng cao hơn Thái Lan trong thời gian dài, nếu tiếp tục giữ đà thì khoảng cách sẽ còn nới rộng”.
Tuy vậy, ông nhấn mạnh điều này không có nghĩa Việt Nam đã vượt Thái Lan về kinh tế. Khi so sánh mức sống người dân, GDP bình quân đầu người danh nghĩa hay GDP bình quân đầu người theo PPP là chỉ tiêu chính xác hơn. Theo cách tính này, Việt Nam hiện vẫn thấp hơn Thái Lan đáng kể.
Chẳng hạn, GDP bình quân đầu người danh nghĩa của Thái Lan và Việt Nam lần lượt là gần 7.350 USD và gần 4.720 USD vào năm 2024. Còn GDP bình quân đầu người theo PPP của Thái Lan và Việt Nam lần lượt là hơn 24.710 USD và 16.385 USD.
Diễn biến trên xuất phát từ việc quy mô nền kinh tế của hai nước đã tương đương, nhưng Việt Nam có hơn 100 triệu dân, trong khi Thái Lan chỉ khoảng 70 triệu người.
TS Nguyễn Anh Vũ ví dụ: “Hai gia đình đều có tổng thu nhập 10 triệu đồng mỗi tháng. Nhưng nếu một gia đình có 10 người, còn gia đình kia chỉ có 7 người, thì mức sống của gia đình ít người sẽ cao hơn”.
Do đó, để đánh giá đời sống người dân, cần nhìn vào GDP bình quân đầu người thay vì tổng quy mô nền kinh tế. Việt Nam vẫn cần thêm một giai đoạn tăng trưởng cao để thu hẹp khoảng cách về mức sống với Thái Lan.
Dù vậy, TS Nguyễn Anh Vũ nhấn mạnh: “Việc quy mô nền kinh tế của Việt Nam tính theo GDP danh nghĩa và GDP PPP đã gần bằng, thậm chí vượt Thái Lan, để trở thành nền kinh tế lớn thứ hai khu vực là một cột mốc quan trọng. Đây là kết quả của nhiều năm duy trì tốc độ tăng trưởng cao, khẳng định vị thế của Việt Nam trong khu vực và tạo nền tảng quan trọng cho giai đoạn tăng trưởng tiếp theo”.
Chiến sự Trung Đông vẫn phức tạp, nhiều chi phí tăng mạnh, nhưng trong tài liệu vừa trình đại hội cổ đông mấy ngày gần đây của nhiều doanh nghiệp, bên cạnh thách thức, không ít đơn vị vẫn thể hiện lạc quan, khả năng thích ứng, tìm kiếm cơ hội để duy trì đà tăng trưởng.
Trình đại hội cổ đông năm nay, Masan - tập đoàn bán lẻ hàng đầu của Việt Nam - bất chấp nỗi lo lạm phát làm suy giảm sức mua, vẫn đặt mục tiêu doanh thu thuần 93.500 - 98.000 tỉ đồng, tăng 15 - 20% so với năm 2025. Lợi nhuận sau thuế mục tiêu 7.250 - 7.900 tỉ đồng, tăng 7 - 17%.
Lãnh đạo Masan nói hiện vẫn đang theo dõi tác động đang diễn ra của bối cảnh địa chính trị và ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh tổng thể - bao gồm lạm phát, rủi ro chuỗi cung ứng, chi phí đầu vào, rủi ro lãi suất và xu hướng tiêu dùng, tâm lý thị trường. Tính đến nay, Masan đã quản trị các rủi ro và chưa bị ảnh hưởng đáng kể.
Về giải pháp, Masan tiếp tục củng cố bảng cân đối kế toán, giảm chi phí tài chính và tỉ lệ sở hữu trong các mảng kinh doanh không cốt lõi nhằm đơn giản hóa cấu trúc tập đoàn và xây dựng nền tảng tiêu dùng - bán lẻ tập trung; số hóa toàn diện chuỗi vận hành và mở rộng quy mô nền tảng hội viên nhằm tối đa hóa sức mạnh cộng hưởng trong toàn bộ hệ sinh thái của Masan.
Cùng trong lĩnh vực bán lẻ và tiêu dùng, nhiều doanh nghiệp khác cũng đặt mục tiêu cao hơn các năm trước. Theo đó, Thế giới Di động (MWG), FPT Retail (FRT), Vinamilk (VNM) và PNJ đều hướng tới kết quả kinh doanh cao nhất lịch sử với doanh thu dự kiến tăng trong khoảng từ 4% đến hơn 37%, còn lợi nhuận tăng từ 4% đến 27%.
Vingroup trình cổ đông kế hoạch doanh thu năm 2026 đạt 450.000 tỉ đồng, tăng khoảng 36% so với năm trước, trong khi lợi nhuận sau thuế dự kiến 25.000 tỉ đồng, gấp 2,2 lần và hướng tới mức kỷ lục mới.
Vinhomes (VHM) giữ vị thế là nhà phát triển bất động sản lớn nhất Việt Nam cũng đặt mục tiêu kỷ lục với doanh thu 250.000 tỉ đồng và lợi nhuận sau thuế 50.000 tỉ đồng, tăng lần lượt 63% và 15% so với năm trước.
Novaland thì trình cổ đông mục tiêu doanh thu thuần 2026 đạt 22.715 tỉ đồng, tăng 3,26 lần so với kết quả thực hiện năm 2025; lợi nhuận sau thuế đạt 1.852 tỉ đồng. Tương tự, Hòa Phát cũng đặt mục tiêu tăng trưởng mạnh với kế hoạch doanh thu tăng trên 30% và lợi nhuận tăng khoảng 42% so với năm 2025, cho thấy kỳ vọng tích cực của ban lãnh đạo bất chấp bối cảnh chi phí vốn gia tăng.
Ở lĩnh vực hàng không, Vietnam Airlines - doanh nghiệp chịu áp lực lớn từ biến động giá nhiên liệu - cho biết cứ mỗi 1 USD giá dầu tăng so với kế hoạch sẽ làm chi phí của hãng đội thêm hơn 300 tỉ đồng.
Theo doanh nghiệp, dù chiến sự Trung Đông bùng nổ nhưng hãng "tự tin vượt qua các rào cản địa chính trị, đảm bảo luồng vận hành vận tải không gián đoạn, tối ưu hóa nguồn lực để bảo vệ mục tiêu hiệu quả khai thác trong năm 2026".
Nhiều doanh nghiệp khác cũng đẩy mạnh việc củng cố nền tảng tài chính và quản trị rủi ro. Như Vinaconex, lãnh đạo doanh nghiệp này nói sẽ tập trung rà soát cơ cấu lại nguồn vốn theo hướng an toàn, giảm phụ thuộc vào vốn ngắn hạn, tăng cường quản trị dòng tiền và kiểm soát chi phí chặt chẽ...
Đi cùng áp lực tỉ giá, ông Huỳnh Anh Huy - CFA, Giám đốc phân tích ngành của Chứng khoán Kafi - cho biết việc lãi suất tăng lên sẽ tạo ra áp lực lên bài toán tài chính của doanh nghiệp, từ đó làm giảm lợi nhuận kỳ vọng của doanh nghiệp đó.
"Các ngành nghề thâm dụng vốn lớn, có nợ ròng cao sẽ là các doanh nghiệp cần tính toán lại trong bối cảnh sắp tới", ông Huy nói. Tính toán từ Kafi cho thấy nhóm 10 doanh nghiệp niêm yết lớn có tổng nợ ròng lên tới khoảng 717.000 tỉ đồng tại thời điểm cuối 2025.
Theo đó, ước tính nếu lãi suất tăng thêm 1%, tổng chi phí tài chính của nhóm có thể tăng hơn 7.100 tỉ đồng. Riêng Vingroup có thể chịu thêm khoảng 2.520 tỉ đồng chi phí lãi vay, tiếp đến là Vinhomes (941 tỉ đồng), Hòa Phát (643 tỉ đồng) và Novaland (629 tỉ đồng).
"Dù áp lực lãi suất là có thật, nhưng đây cũng là giai đoạn "đãi cát tìm vàng". Những doanh nghiệp có cấu trúc tài chính lành mạnh, sở hữu lợi thế cạnh tranh bền vững, khả năng chuyển giao chi phí sang giá hàng bán và được người tiêu dùng chấp nhận sẽ là những cái tên trụ vững", ông Huy nhìn nhận.
Iran đang đối mặt với một trong những cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội tồi tệ nhất thập kỷ khi tăng trưởng GDP gần như bằng 0, lạm phát tăng vọt và bất ổn địa chính trị - xã hội leo thang. Theo ước tính của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) hồi tháng 1, GDP thực của Iran chỉ tăng 0,3% năm 2025, giảm mạnh so với các năm trước đó (3,7% năm 2024 và 5,3% năm 2023).
Trước khi chiến sự xảy ra, lạm phát tại Iran đã lên tới gần 50% trong tháng 2, theo số liệu của cơ quan thống kê nước này. Sau hơn 5 tuần xung đột, các vấn đề kinh tế chỉ càng thêm trầm trọng. Ngoài nỗi sợ bị tấn công mỗi ngày, tác động dễ thấy nhất của chiến sự là một vòng xoáy tăng giá mới, từ nhu yếu phẩm như thực phẩm, đồ uống, thuốc men, tã lót đến bữa trưa tại các nhà hàng sang trọng trong thành phố.
Ở ngoại ô thủ đô Tehran, Amir (40 tuổi) cho biết trên AFP rằng giá loại bánh mỳ anh thường mua đã đột ngột tăng từ 700.000 rial lên 1 triệu rial (khoảng 0,75 USD). Một người bạn của anh cũng phải trả 180 triệu rial cho một viên thuốc chữa ung thư, vốn chỉ có giá 3 triệu rial trước xung đột. "Mà anh ấy phải mua 20 viên mỗi ngày", Amir nói.
Kaveh - một họa sĩ tại Tehran - cho biết quán cà phê nổi tiếng Dobar ở trung tâm Tehran "đã tăng giá 25% với tất cả món chỉ trong một ngày". Ngay cả ở vùng tây bắc Iran - nơi thường có nguồn hàng nhập khẩu dồi dào từ Thổ Nhĩ Kỳ, "một số sản phẩm đã tăng giá gấp 3 bình thường", một phụ nữ 50 tuổi cho biết trên AFP.
Nhận thấy lạm phát tăng nhanh, Ngân hàng Trung ương Iran giữa tháng trước đã phát hành tờ tiền 10 triệu rial - mệnh giá cao nhất đang lưu hành. Trước đó một tháng, cơ quan này đã ra mắt tờ 5 triệu rial - cũng là kỷ lục khi đó, phản ánh sự mất giá mạnh của nội tệ kể từ sau cuộc xung đột tháng 6 năm ngoái với Mỹ và Israel.
Khi giá cả tăng gây thêm áp lực lên ngân sách hộ gia đình, nhiều người cũng rơi vào cảnh thất nghiệp. Chiến sự khiến nhiều doanh nghiệp phải đóng cửa, đẩy người lao động vào tình trạng bấp bênh và không biết có được trả lương hay không.
Chợ trên khắp cả nước rút ngắn thời gian mở cửa, các công ty xây dựng cũng sa thải hàng loạt lao động. Nhiều người trong số đó là lao động nhập cư từ Afghanistan. "Khi chiến sự bắt đầu, cơ hội việc làm trở nên hiếm hoi và mọi người ngừng xây dựng", Faizullah Arab - một thợ sơn 23 tuổi cho biết khi trở về Afghanistan cuối tuần trước.
"Các chủ doanh nghiệp đã ra nước ngoài, nên việc kinh doanh cũng dừng lại", Walijan Akbari, một lao động 42 tuổi, nói thêm.
Những người phụ thuộc vào Internet hoặc thương mại điện tử cũng gặp khó khăn trong hơn 5 tuần qua, khi chỉ còn mạng nội địa hạn chế của Iran hoạt động. "Tôi thực sự rất lo lắng về tương lai của chúng tôi, đặc biệt là về kinh tế. Sa thải hàng loạt, đóng cửa trên diện rộng... mọi thứ đều quá sức chịu đựng", một phụ nữ 35 tuổi làm việc trong lĩnh vực tài chính tại Isfahan cho biết.
Các cuộc không kích nhằm vào ngành thép của Iran - lĩnh vực quan trọng với nhiều ngành công nghiệp - cùng các cơ sở hóa dầu, cầu đường, nhiều khả năng sẽ để lại tác động dài hạn lên nền kinh tế. Adnan Mazarei, cựu quan chức cấp cao của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) về Trung Đông, nhận định hệ thống ngân hàng sau chiến sự cũng là một vấn đề đáng lo ngại..
"Trước khi xung đột nổ ra, các ngân hàng đã ở trong tình trạng khó khăn, dễ tổn thương, với bảng cân đối kế toán yếu", ông nói. Mazarei cho rằng lĩnh vực này sẽ chịu thêm cú sốc do người tiêu dùng và doanh nghiệp không thể trả nợ.
Việc rút tiền tại các ATM trong thời gian chiến sự đã bị hạn chế, nhằm ngăn rút tiền hàng loạt. Tuy nhiên, thẻ và dịch vụ ngân hàng trực tuyến nhìn chung vẫn hoạt động trong phần lớn thời gian xung đột.
Vụ sụp đổ gần đây nhất là Ayandeh Bank, một trong những ngân hàng tư nhân lớn nhất nước này. Ayandeh sụp đổ cuối năm ngoái do nợ xấu và thua lỗ 5,2 tỷ USD.
Mazarei cho rằng Iran có thể cần tung thêm các gói giải cứu, buộc ngân hàng trung ương phải in thêm tiền. "Tất nhiên, điều này sẽ làm tăng cung tiền và tiếp tục đẩy lạm phát lên cao hơn", ông cảnh báo.
Các cuộc tấn công của Iran nhằm vào cơ sở hạ tầng năng lượng trong khu vực và tình trạng tắc nghẽn tại vịnh Ba Tư đã làm dấy lên làn sóng tìm kiếm dầu trên toàn cầu. Một số công ty dầu khí phương Tây đã mất hàng tỷ USD doanh thu vì xung đột. Tuy nhiên, giá năng lượng tăng mạnh lại đem đến dòng tiền lớn cho ngành dầu khí, giúp họ mở rộng sang những khu vực trước đây khó tiếp cận hoặc từng bị bỏ hoang.
Giá dầu thô WTI (Mỹ) hiện giao dịch quanh 90 USD một thùng, cao hơn đáng kể so với mức hơn 60 USD trước khi chiến sự nổ ra. Giá dầu từng giảm mạnh ngày 17/4 sau khi ông Trump và các quan chức Iran thông báo eo biển Hormuz mở lại, nhưng tăng trở lại sáng 20/4 khi Iran lại đóng tuyến này.
Exxon gần đây vạch ra kế hoạch đầu tư tới 24 tỷ USD vào các mỏ dầu nước sâu tại Nigeria. Chevron mở rộng hiện diện tại Venezuela. BP mua cổ phần các lô dầu ngoài khơi Namibia, còn TotalEnergies ký thỏa thuận thăm dò với Thổ Nhĩ Kỳ. Theo ước tính của công ty nghiên cứu và tư vấn năng lượng Wood Mackenzie, các tập đoàn dầu khí lớn có thể tạo ra 120 tỷ USD giá trị kinh tế từ hoạt động thăm dò trong những năm tới.
Trong cuộc họp ngày 16/4 với lãnh đạo Exxon, Chevron và các công ty dầu khí khác, Bộ trưởng Năng lượng Mỹ Chris Wright và Bộ trưởng Nội vụ Doug Burgum kêu gọi các doanh nghiệp tiếp tục tăng sản lượng để kiềm chế giá, trong bối cảnh nguồn cung toàn cầu nguy cơ thiếu hụt.
WSJ trích nguồn tin thân cận cho biết các công ty dầu khí cũng muốn tối đa hóa sản xuất để tận dụng giá cao. Nhưng hoạt động này vẫn phải trong giới hạn ngân sách, tránh phát sinh chi phí từ các khoản đầu tư quy mô lớn. Tổng cộng, các hãng dầu lớn đã chi trung bình 19 tỷ USD cho hoạt động thăm dò trên toàn cầu mỗi năm trong giai đoạn 2021-2025, Wood Mackenzie cho biết.
Các lãnh đạo ngành năng lượng còn tập trung vào mục tiêu dài hạn hơn, là tìm đủ dầu và khí để duy trì lợi nhuận đến 2030. Việc eo biển Hormuz bị đóng đã khiến toàn cầu mất khoảng 20% nguồn cung dầu và khí hóa lỏng.
Một số công ty phương Tây hoạt động tại Trung Đông đã chịu thiệt hại đáng kể. Exxon cho biết chiến sự khiến sản lượng của hãng giảm 6% trong quý I. Công ty có nguy cơ mất khoảng 5 tỷ USD doanh thu mỗi năm khi các cơ sở khí đốt tại Qatar bị hư hại. Đối tác của họ - QatarEnergy ước tính việc sửa chữa có thể mất tới 5 năm.
Giới phân tích cho rằng hiện tại, ngành dầu khí giảm tập trung vào vịnh Ba Tư. Vài ngày trước khi chiến sự nổ ra, Chevron cho biết đàm phán độc quyền với Basra Oil của Iraq để mua cổ phần mỏ West Qurna 2 - một trong những mỏ dầu trên bờ lớn nhất thế giới. Tuy nhiên, các nhà phân tích đánh giá công ty phương Tây khó có khả năng ký thỏa thuận lớn tại Trung Đông đến khi xung đột được giải quyết hoàn toàn.
Tác động kinh tế từ chiến sự cũng khiến các công ty phải đa dạng danh mục và phân tán rủi ro trên toàn cầu. Theo Wood Mackenzie, ngành dầu khí toàn cầu cần tìm thêm tài nguyên mới, với trữ lượng 300 tỷ thùng dầu, để đáp ứng nhu cầu đến năm 2050. Exxon, Chevron, Shell, BP và TotalEnergies đang nhắm tới các cơ hội khoan dầu mới tại châu Phi, Nam Mỹ và phía đông Địa Trung Hải, nhằm bổ sung trữ lượng cho thập niên tới.
Tuần trước, Exxon đã tiến thêm một bước trong kế hoạch khoan dầu ngoài khơi Hy Lạp. Vài tháng gần đây, hãng ký các thỏa thuận thăm dò sơ bộ với Iraq, Thổ Nhĩ Kỳ và Gabon. Tại Trinidad và Tobago, công ty cũng khảo sát để tìm dầu, khí ở vùng nước sâu. Chi phí cho hoạt động quốc tế của Exxon năm ngoái khoảng 9 tỷ USD.
Chevron cũng tăng cường mảng thăm dò. Năm ngoái, họ mua lại hãng khai thác dầu khí Hess với giá 53 tỷ USD. Công ty đã bổ nhiệm Kevin McLachlan - cựu lãnh đạo TotalEnergies - làm Phó chủ tịch phụ trách thăm dò. Chevron dự định chi 7 tỷ USD cho các dự án ngoài khơi toàn cầu trong năm nay.
Nhà Trắng cũng thúc đẩy các công ty dầu khí Mỹ tăng đầu tư vào ngành dầu mỏ Venezuela. Tuy nhiên, phần lớn doanh nghiệp vẫn thận trọng sau nhiều năm ngành này tại đây xuống cấp vì quản lý yếu kém.
Chevron hiện cũng là nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất Venezuela. Reuters cho biết tuần trước, họ đã đạt được một thỏa thuận hoán đổi tài sản nhằm mở rộng hoạt động tại đây. Venezuela có trữ lượng dầu nặng lớn, được các nhà máy lọc dầu Mỹ ưa chuộng.
Tập đoàn dầu khí quốc gia Venezuela (PDVSA) bán thêm 13% cổ phần trong một liên doanh cho Chevron. Một dự án khác mà Chevron nắm 30% cổ phần đã được cấp quyền khai thác.
Chevron dự kiến thăm dò tại Ai Cập trong năm nay. Trước đó, họ cũng được cấp 4 giấy phép khai thác ngoài khơi gần Hy Lạp và một lô dầu tại Libya.
Giá dầu được dự báo vẫn duy trì ở mức cao trong những tháng tới, kể cả khi tình trạng tắc nghẽn tại eo biển Hormuz được giải quyết. "Giá dầu cao trong thời gian dài là yếu tố thuận lợi nhất cho hoạt động thăm dò. Trong trung và dài hạn, giá mỗi thùng dầu từ vịnh Ba Tư sẽ phải cộng thêm phần bù rủi ro. Điều này càng thúc đẩy các công ty tìm đến các khu vực thăm dò mới", Schreiner Parker - chuyên gia tại Rystad Energy kết luận.